Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Việt sử toàn thư

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:17' 19-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:17' 19-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Việt Sử Toàn Thư -Từ Thượng Cổ Đến Hiện Đại
Tác giả: Phạm Văn Sơn
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Mục Lục
Lời giới thiệu
Lời tác giả Phần Thứ Nhất
Chương 1 - Khái luận về xã hội Việt Nam xưa và nay
1. Địa lý thiên nhiên -- 2. Người Việt Nam -- 3. Gốc tích.
Chương 2 - Đời sống thượng cổ của dân tộc Việt Nam
Chương 3 - Nhà Hồng Bàng (2879 - 258 tr. T. L.)
1. Truyền thuyết về nhà Hồng Bàng -- 2. Nước Văn Lang
Chương 4 - Nhà Thục (257 - 207 tr. T. L.)
Chương 5 - Xã hội Trung Hoa trong thời thượng cổ
1. Xã h ội và văn hóa -- 2. Trật tự xã hội và gia đình -- 3. Việc quan chế -- 4. Pháp chế -- 5. Binh chế
-- 6. Điền chế -- 7. Học chính -- 8. Khổng Tử -- 9. Lão Tử -- 10. Trang Tử -- 11. Tuân Huống.
Phần Thứ Hai Bắc Thuộc Thời Đại
Chương 1 - Nhà Triệu (Bắc thuộc lần thứ I 207-111 tr. T. L.) 1. Ch ỗ rẽ của lịch sử Âu Lạc -- 2. Chính
trị của Triệu Đà -- 3. Nam Việt và Tây Hán
- 4. Xã hội Việt Nam dưới thời Triệu Đà -- 5. Những vua kế nghiệp Triệu Đà --- 6. Đế quốc Việt Nam
xụp đổ -- 7. Công tội của Thái Phó Lữ Gia (Phê bình của Ngô Thời Sĩ).
Chương 2 - Nhà Tây Hán (Bắc thuộc lần II 111 tr. T. L. - 39 T. L.)
1. Đơn vị hành chánh trên đất Giao Chỉ -- 2. Bộ máy cai trị ở đất Giao Châu.
Chương 3 - Nhà Trưng (40 - 43)
1. Phần cờ nương tử -- 2. Nhà Đông Hán phục thù -- 3. Tính chất cách mạng của cuộc khởi nghĩa năm
Canh Tý.
Chương 4 - Bắc thuộc lần III (43 - 544 Đông Hán - Nam Bắc triều)
Cuộc cải cách của Mã Viện trên đất Giao Châu
Chương 5 - Người Việt Nam học chữ Tàu
1. Việc truyền bá Hán học -- 2. Ảnh hưởng Phật đồ với nền văn học của chúng ta -- 3. Phật Giáo -- 4.
Một điều sai lầm về Sĩ Nhiếp. Chương 6 - Cuộc cách mạng phản Đế lần thứ hai của dân Giao Chỉ
1. Bà Triệu chống quân Đông Ngô -- 2. Lâm Ấp quấy phá Giao Châu.
Chương 7 - Nhà Tiền Lý (544 - 602)
1. Lý Nam Đế (544 - 548) -- 2. Hậu Lý Nam Đế (571 - 602).
Chương 8 - Bắc thuộc lần IV (603 - 939)
1. Nhà Tùy đánh Lâm Ấp -- 2. Nhà Đường đối với An Nam -- 3. Mai Hắc Đế khởi nghĩa (722) -- 4.
Giặc Côn Lôn và Đồ Bà -- 5. Bố Cái Đại Vương -- 6. Cuộc xâm lăng Giao Châu của Nam Chiếu --- 7.
Sự thất bại của Nam Chiếu và sự nghiệp của Cao Biền.
Chương 9 - Cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam từ họ Khúc đến họ Ngô Trận thủy chiến đầu tiên của
Việt Nam. Phần Thứ Ba Việt Nam Trên Đường Độc Lập (939)
Chương 1 - Nhà Ngô (939 - 965)
Chương 2 - Nhà Đinh (968 - 980) 1. Đinh Tiên Hoàng -- 2. Đinh Phế Đế.
Chương 3 - Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
1. Lê Hoàn đánh Tống -- 2. Việc ngoại giao -- 3. Việc đánh Chiêm Thành -- 4. Sự mở mang trong
nước -- 5. Cái án Lê Hoàn và Dương Hậu. Chương 4 - Các vua kế tiếp Lê Đại Hành
I. Lê Trung Tông (1005)
II. Lê Ngọa Triều (1005 - 1009)
1. Việc ngoại giao với Bắc Triều -- 2. Sự tàn ác của Ngọa Triều -- 3. Vụ âm mưu cướp ngôi nhà Tiền
Lê. Chương 5 - Nhà Hậu Lý (1010 - 1225)
I. Lý Thái Tổ (1010 - 1028)
II. Lý Thái Tông (1028 - 1054)
1. Việc chính trị -- 2. Việc quân sự -- 3. Dẹp Chiêm Thành.
III. Lý Thánh Tông (1054 - 1072) 1. Việc mở mang Phật Giáo và Nho Giáo -- 2. Đánh Chiêm Thành.
IV. Lý Nhân Tông (1072 - 1127)
1. Vụ tranh dành quyền vị -- 2. Việc chính trị -- 3. Việc đánh Tống -- 4. Cuộc phục thù của nhà Tống -5. Đánh Chiêm Thành.
V. Lý Thần Tông (1128 - 1138)
VI. Lý Anh Tông (1138 - 1175) 1. Đỗ Anh Vũ và Tô Hiến Thành -- 2. Việc ngoại giao.
VII. Lý Cao Tông (1176 - 1210)
VIII. Lý Huệ Tông (1211 - 1225)
IX. Lý Chiêu Hoàng (1225)
Chương 6 - Khái niệm về Phật giáo và văn học dưới đời nhà Lý
Chương 7 - Nhà Trần (1225 - 1413) -- Nước Việt Nam dưới đời Trần Sơ I. Trần Thái Tông (1225 1258) 1. Tàn sát h ọ Lý. -- 2. Việc đảo lộn nhân luân. -- 3. Việc đánh dẹp trong nước. -- 4. Những
công cuộc cải cách. -- 5. Việc binh chế và lực lượng quân đội dưới đời Trần - Sơ. -- 6. Kinh tế và xã
hội. -- 7. Phong tục. -- 8. Văn hóa. -- 9. Cuộc chiến tranh tự vệ thứ nhất của Việt Nam.
II. Tr ần Thánh Tông (1258 - 1278)
1. Việc chính trị. -- 2. Việc ngoại giao với Mông Cổ.
III. Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
A- Mông C ổ gây hấn lần thứ hai
1. Việc ngoại giao tan vỡ. -- 2 Huyết chiến giữa Việt Nam và Mông Cổ. - Hội Nghị Bình Than (1282).
- Hội Nghị Diên Hồng (1284). - Quân Nam rút theo kế hoạch. - Hội nghị quân sự Vạn Kiếp. III Mông
Cổ tấn công. - Mặt trận Đông Nam. - Cuộc tổng tấn công của Việt Nam. Việt Nam thu phục Thăng
Long. - Trận Tây Kết. - Trận Vạn Kiếp.
B- Mông C ổ tấn công lần thứ hai (1287)
I Trận Vân Đồn. II Trận Bạch Đằng. III Việc truy kích Thoát Hoan. IV Cuộc giảng hòa. V Chiến pháp
của Hưng Đạo Vương.
IV. Tr ần Anh Tông (1293 - 1314)
Việc gả Huyền Trân cho Chế Mân
V. Trần Minh Tông (1314 - 1329)
VI. Trần Hiến Tông (1329 - 1341)
Giặc Ngưu Hống và giặc Lào
VII. Trần Dụ Tông (1341 - 1369)
1. Việc chính trị. -- 2. Việc giao thiệp với Trung Hoa. -- 3. Việc giao thiệp với Chiêm Thành. -- 4. Dụ
Dương Nhật Lễ. VIII. Tr ần Nghệ Tông (1370 - 1372)
Tiểu sử Hồ Quý Ly.
IX. Trần Duệ Tông (1372 - 1377)
X. Trần Phế Đế (1377 - 1388)
1. Việc giao thiệp với nhà Minh. -- 2. Chiêm Thành tấn công Thăng Long. -- 3. Âm mưu trừ Hồ Quý
Ly thất bại.
XI. Trần Thuận Tông (1388 - 1398) 1. chế Bồng Nga tử trận. -- 2. Cuộc cách mạng của Hồ Quý Ly:
Cải cách chính trị. Cải cách quân sự. Cải cách kinh tế. Cải cách xã hội. Cải cách văn hóa. -- 3. Cuộc
đảo chính Hồ Quý Ly.
Chương 8 - Nhà Hồ (1400 - 1407)
I. Hồ Quý Ly (1400)
II. Hồ Hán Thương (1400 - 1407)
1. Cu ộc giao tranh giữa nhà Hồ và nhà Minh. - Thành Đa Bang thất thủ. - Trận Mộc Phàm Giang. Trận Hàm Tử Quan. - Nguyên nhân thất bại của Hồ Quý Ly. -- 2. Hồ Quý Ly có làm mất nước không?
Chương 9 - Bắc thuộc lần thứ năm -- Nhà Hậu Trần (1407 - 413)
1. Chính sách thống trị của nhà Minh. -- 2. Giản Định Đế khởi nghĩa (1407 - 1409).
- 3. Trần Quý Khoách (1409 - 1413)
Chương 10 - Nhà Hậu Lê. Lê Lợi chấm dứt chế độ Minh thuộc (1417 - 1427) 1. Giai đoạn đen tối. -2. Giai đoạn tươi sáng. -- 3. Cuộc tổng phản công của giặc Minh (Mặt trận miền Bắc). -- 4. Trận Tuy
Động. -- 5. Việt quân phong tỏa Đông Đô.
-- 6. Trận chi Lăng. -- 7. Quân Minh xin hòa giải. -- 8. Việc cầu phong.
Nhà Hậu Lê (1428 - 1527)
I. Lê Thái Tổ (1428 - 1433)
1. Học chính. -- 2. Luật pháp. -- 3. Hành chánh. -- 4. Cải cách điền địa. -- 5. Binh chế. -- 6. Việc giết
công thần. II. Lê Thái Tông (1434 - 1442)
Cái án Lê Chi Viên (1442)
III. Lê Nhân Tông (1443 - 1459)
IV. Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
1. Việc chính trị. -- 2. Tổ chức hương thôn. -- 3. Việc đình. -- 4. Hành chính. -- 5. Quan chế. -- 6. Thuế
đinh. -- 7. Thuế điền thổ. -- 8. Nông nghiệp. -- 9. Luật pháp bảo vệ nhân quyền. -- 10. Quyền lợi xã
hội. -- 11. Tổ chức võ bị. -- 12. Võ công đời Hồng Đức. -- 13. Văn trị đời Hồng Đức.
V. Lê Hi ến Tông (1497 - 1504)
VI. Lê Túc Tông (1504 1505)
VII. Lê Uy Mục (1505 - 1509)
VIII. Lê Tương Dực (1510 - 1516)
IX. Lê Chiêu Tông
X. Lê Cung Hoàng (1516 - 1527)
Chương 11 - Nhà Mạc (1527 - 1667)
Mạc Đăng Dung (1527 - 1529)
1. Tình trạng Việt Nam đầu thế kỷ XVI. -- 2. Tiểu sử Mạc Đăng Dung. -- 3. Vụ Trần Thiêm Bình thứ
hai. -- 4. Một cuộc chiến tranh tâm lý. -- 5.Vụ án Mạc Đăng Dung. Chương 12 - Loạn phong kiến Việt
Nam. Nam Bắc triều (1527 - 1592) 1. Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. -- 2. Biến cố tại Nam triều. -- 3.
Thất bại của Bắc triều. Chương 13 - Nước Việt Nam từ Bắc vào Nam (1674 - 1775)
1. Họ Trịnh làm chúa miền Bắc. -- 2. Họ Nguyễn xưng hùng phương Nam.
Chương 14 - Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1775)
1. Đại chiến lần thứ nhất (1627). -- 2. Đại chiến lần thứ hai (1630) -- 3. Đại chiến lần thứ ba (1635). - 4. Đại chiến lần thứ tư (1648). -- 5. Đại chiến lần thứ năm (1655) -- 6. Đại chiến lần thứ sáu (1661)
-- 7. Đại chiến lần thứ bảy (1672).
Chương 15 - Sự nghiệp hai họ Trịnh - Nguyễn
Chương 16 - Những vụ phiến loạn dưới đời chúa Trịnh
Chương 17 - Các hoạt động của Nguyễn
Chương 18 - Các cuộc chiến tranh cuối cùng của hai họ Trịnh - Nguyễn (1774) Chương 19 - Nhà Tây
Sơn (1778 - 1802)
1. Ti ểu sử nhà Tây Sơn. -- 2. Tây Sơn diệt Nguyễn tại Nam Việt. -- 3. Nguyễn Huệ đuổi quân Xiêm. - 4. Nguyễn Huệ đánh Thuận Hóa. -- 5. Nguyễn Huệ ra Thăng Long. -- 6. Chim Bằng gẫy cánh.
Chương 20 - Một võ công oanh liệt bậc nhất của Việt Nam cuối thế kỷ XVIII 1. Cái chết của Vũ Văn
Nhậm. -- 2. Chiến sự Việt-Thanh. -- 3. Cuộc giao thiệp giữa Tây Sơn và Thanh đình. -- 4. Chính trị
của vua Quang Trung. -- 5. Vua Chiêu Thống bị nhục trên đất Tàu.
Những cuộc chiến tranh cuối cùng giữa Tây Sơn và Cựu Nguyễn 1. Nguyễn Vương quật khởi. -- 2.
Nguyễn Vương tấn công Qui Nhơn lần thứ nhất (1790). -- 3. Qui Nhơn thất thủ lần thứ hai và ba. -- 4.
Phú Xuân đổi chủ. -- 5. Nguyễn Vương ra Bắc Hà.
Chương 21 - Người Âu Châu sang Việt Nam
1. Việt Nam dưới con mắt người Pháp. -- 2. Đạo Thiên Chúa.
Chương 22 - Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
I. Gia Long (1802 - 1820)
1. Th ế tổ xưng đế hiệu. -- 2. Bộ máy chính quyền trung ương. -- 3. Các địa hạt hành chính lớn. -- 4.
Binh chế. -- 5. Công vụ. -- 6. Việc học hành và luật pháp. -- 7. Việc tài chính. -- 8. Việc ngoại giao
với Pháp. -- 9. Việc ngoại giao với Trung Quốc.
- 10. Giao thiệp với Miên-Lào-Tiêm La. -- 11. Bàn về loạn phong kiến ở Việt Nam. -- 12. Vài ý kiến
về vua Gia Long.
II. Thánh Tổ (1820 - 1840) 1. Hoàn thiên b ộ máy chính quyền. -- 2. Việc học hành thi cử. -- 3. Sách
vở. -- 4. Những cuộc phiến loạn. -- 5. Việc ngoại giao với Pháp. -- 6. Việc Ai Lao và Chân Lạp. -- 7.
Việc cấm đạo. -- 8. Bàn về Thánh Tổ.
III. Hiến Tổ (1841 - 1847)
1. Cá nhân của vua Hiến Tổ. -- 2. Việc Chân Lạp và Tiêm La. -- 3. Cuộc đánh phá đầu tiên của Pháp ở
Việt Nam. Phần Thứ Tư Việt Nam Mất Độc Lập Về Tay Pháp
Chương 1 - Dực Tông (1847 - 1883)
1. Vua Tự Đức và tình thế Việt Nam giữa thế kỷ XIX. -- 2. Việc ngoại giao và cấm đạo. -- 3. Việc văn
học và binh chế. -- 4. Những vụ phiến động trong nước. Chương 2 - Người Pháp ra mặt xâm chiếm
Việt Nam 1. Nguyên nhân c ủa sự xâm lăng. -- 2. Đặc phái viên Pháp đến Việt Nam. -- 3. Việt Nam
mất ba tỉnh Đông Nam Kỳ. -- 4. Phản ứng của triều đình Huế. -- 5. Phong Trào kháng Pháp ở Nam Kỳ.
-- 6. Người Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. -- 7. Những nghĩa sĩ miền Nam.
Chương 3 - Quân Pháp đánh Bắc Kỳ 1. Nguyên nhân Việc người Pháp ra Bắc. -- 2. Pháp quân đánh
Bắc Kỳ lần thứ I. -3. Hòa ước năm Giáp Tuất (1874). -- 4. Hà thành thất thủ lần thứ hai. -- 5. Sự phế lập ở Huế. -- 6.
Hòa ước năm Quí Mùi (1883). -- 7. Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai.
- 8. Hòa ước Patenôtre (1884).
Chương 4 - Tàn cuộc của phong kiến Việt Nam 1. Phong trào C ần Vương cứu quốc. -- 2. Phong trào
Văn Thân kháng Pháp. -- 3. Vua Thành Thái (1884 - 1907). -- 4. Vua Duy Tân (1907 - 1916). -- 5.
Cuộc bảo hộ của nước Pháp.
Chương V - Những cuộc tranh thủ độc lập của Việt Nam từ 1928 - 1954 1. Xã h ội Việt Nam dưới thời
Pháp thuộc. -- 2. Những cuộc tranh đấu của thế hệ trẻ tuổi. -- 3. Cuộc đảo chánh 9-3-1945. -- 4. Lá bài
Bảo Đại và Hiệp Định Hạ Long. -5. Cuộc chiến tranh Thực - Cộng (1945 - 1954). -- 6. Thỏa hiệp Genève. -- 7. Kết Luận
Tài li ệu tham khảo
Ý kiến của văn gia trí thức về Việt Sử Toàn Thư
Phụ lục 1: Bảng đối chiếu các triều đại Việt Nam với triều đại Trung Hoa Phụ lục 2: Thế Phả họ
Nguyễn
Phụ lục 3: Thế Phả họ Trịnh
Lời Giới Thiệu
Kính dâng hương hồn song thân đã sớm hun đúc cho con một tấm lòng thiết tha với đất nước để viết
nên những trang sử oai hùng của dân tộc.
Phạm Văn Sơn
"Chim Việt làm tổ cành nam (Việt điểu sào nam chi)", một câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một ý
nghĩa thật sâu: người Việt Nam không bao giờ quên được cội nguồn của mình! Nhờ tinh thần đó mà
trên trường quốc tế, dù phải chịu một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây.
Nhưng hiện nay, với chính sách hủy diệt văn hóa truyền thống dân tộc trong nước, và sức lôi cuốn
mãnh liệt của nền văn minh vật chất Âu Mỹ ngoài nước, dân tộc chúng ta đang phải đối đầu với một
hiểm họa diệt vong mới, có mức độ trầm trọng hơn tất cả các hiểm họa đã gặp phải trong quá khứ.
Chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, phát xuất từ đáy lòng của mọi người Việt mới giúp chúng ta vượt qua
được hiểm họa này. Chỉ có lòng yêu quê hương thiết tha mới là động cơ bắt chúng ta chung góp tâm trí
vào việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa cao quý của cha ông để lại.
Với mục tiêu duy nhất là nuôi dưỡng lòng yêu nước cần thiết trong lòng mọi người Việt tại Nhật, sinh
thành những tâm hồn thiết tha với quê hương, dân tộc, chúng tôi đã mạn phép in lại 600 bộ Việt Sử
Toàn Thư này của Sử Gia Phạm Văn Sơn để phân phối trong cộng đồng người Việt tại Nhật.
Với công trình khảo cứu sâu rộng của Sử gia yêu nước Phạm Văn Sơn và tính chất khách quan, dân
tộc, khoa học, phong phú, giản dị ... của bộ sách này, chúng tôi mong muốn mỗi gia đình Việt Nam tại
Nhật sẽ có ít nhất một bộ, lúc nào cũng có trong nhà, để dễ dàng chỉ dạy con em về lịch sử hào hùng
bất khuất của dân tộc Việt.
Chúng tôi cũng chân thành cảm tạ Hiệp Hội Liên Đới Người Tỵ Nạn Đông Dương đã yểm trợ toàn thể
chi phí để in lại bộ sách này. Hi ệp Hội Người Việt Tại Nhật Bản
Nhật Bản, 1983
Nam Nghệ Xã
Cùng Bạn Đọc Thân Mến từ mười hai năm nay, bước chân vào làng sử học, chúng tôi đã được hân
hạnh giới thiệu các bạn văn gia trí thức và học sinh một tổ tác phẩm nhỏ như Việt Nam Tranh Đấu Sử,
Việt Nam Hiện Đại Sử Yếu, Vĩ Tuyến 17, Việt Sử Tân Biên quyển I, II, III.
Những cuốn sách này được tái bản nhiều lần và trước những sự đóng góp của chúng tôi đối với văn
hóa nước nhà, các bạn đọc đã tỏ có nhiều cảm tình và tin cậy, do đó để tạ lòng tri kỷ bốn phương hàng
năm chúng tôi tiếp tục gửi đến tay các bạn những tác phẩm về sử học.
Gần đây, Việt sử tân biên được các bạn trí thức trong nước và ngoài nước đặc biệt lưu ý và tán thưởng
trên các báo Bách Khoa, Thế Giới Tự Do, Tân Dân, Chỉ Đạo, Ngôn Luận, Tự Do, v.v... nhưng bộ sử
này còn tới 4 cuốn nữa mới hết, tức là phải xuất bản đều đặn luôn bốn năm mới hoàn thành.
Trong lúc này, nhi ều bạn giáo sư và học sinh thường gửi thư đến chúng tôi yêu cầu nên gấp rút soạn
một cuốn Việt sử tân biên thâu hẹp gồm đủ chi tiết từ Thượng cổ thời đại đến hết thời Pháp thuộc để
tiện dụng hơn trong các trường học. Theo ý các bạn, Việt Sử Tân Biên gồm 7 cuốn chỉ lợi ích nhiều
cho các giáo sư sử địa, các văn gia trí thức cần biên khảo rộng rãi và cho một số sinh viên nặng tình
đặc biệt với sử học. Quả vậy, chúng tôi đã đọc khá nhiều sách, chuyện ký để viết một bộ sách có mục
đích giúp các bạn kể trên khỏi mất nhiều thời giờ tìm tòi sử liệu và nghĩ ngợi về sự bình giải, mặc dầu
công việc của chúng tôi vẫn có thể còn nhiều khuyết điểm.
Ngoài ra, từ trên 30 năm nay, tuy trong các thư viện của chúng ta đã có một sách về lịch sử, nhưng các
sách này vẫn còn mang nặng ảnh hưởng của tư tưởng thời phong kiến, đế quốc. Nếu cần tiến bộ, tất
nhiên ta phải có những cuốn sử mới viết theo quan niệm rộng rãi và tinh thần phóng khoáng của trào
lưu dân chủ ngày nay cùng gồm thâu được nhiều điều mới lạ do sự khám phá hay sưu tầm của các học
giả cận đại, hiện đại.
Hôm nay, Việt Sử Toàn Thư ra mắt các bạn. Chúng tôi hy vọng tác phẩm này sẽ hợp với nhu cầu của
tình thế một phần nào, góp được ít nhiều công quả cần thiết cho sự phát triển và xây dựng văn học của
nước nhà trong giai đoạn mới của lịch sử. Tuy nhiên do sử học nước nhà chưa hết phôi thai, ấu trĩ, sử
liệu lại thất đắc khá nhiều qua các quốc biến, sách này không khỏi có điều lỗi lầm, sơ sót. Trong khi
chờ đợi một hoàn thiện, chúng tôi xin sẵn sàng chào đón sự uốn nắn và chỉ bảo của các bạn trí thức
gần xa.
Sài gòn ngày 14 tháng 3 năm Canh Tý - Phạm Văn Sơn
Phần Thứ Nhất
Chương 1 - Khái Luận Về Xã Hội Việt Nam Xưa và Nay
- Địa lý thiên nhiên Việt Nam
- Người Việt Nam
- Gốc tích của người Việt Nam
1- Địa Lý Thiên Nhiên Việt Nam Việt Nam ngày nay là một nước trên bán đảo Đông Dương ở vào
khoảng giữa Ấn Độ và Trung Hoa thuộc Châu Á hướng về phía Nam. Bắc, Việt Nam giáp Trung Hoa
(giáp giới ba tỉnh miền Nam Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây), Tây giáp Ai Lao,
Cao Mên, Đông giáp bờ bể Nam Hải. Một đằng khác, ở Đông Nam Châu Á, bán đảo Đông Dương
trong đó có Việt Nam nhìn qua quần đảo Phi Luật Tân và duỗi chân về phía Nam như đạp xuống quần
đảo Mã Lai mà vị trí cùng mối liên hệ đối với bán đảo Đông Dương có thể ví với Địa Trung Hải ở Âu
Châu.
N ước Việt Nam giống hình chữ S hẹp ở giữa, rộng hai đầu. Chiều cong vòng theo bờ biển bắt đầu từ
vịnh Bắc Việt, lượn vào đến đầu Trung Việt dần dần ưỡn ra, xuống đến Nam Việt thì chiều cong lại
dần dần ăn vòng vào theo một đường rất êm dịu.
Di ện tích rộng chừng 312.000 cây số vuông trong đó:
Bắc Việt: 105.000 cây số vuông
Trung Việt: 150.000 cây số vuông
Nam Việt: 57.000 cây số vuông
B ắc Việt chia ra làm ba miền: Thượng du có nhiều rừng núi chạy vòng cánh cung theo hình thể xứ
Bắc, như chiếc quạt xòe ra từ nơi giáp miền Thượng Lào chạy sát các vùng biên giới Việt Hoa. Ngọn
núi cao nhất là Hoàng Liên Sơn (3.141 thước). Trung du là miền ở giữa trung châu và thượng du, sát
các khu rừng núi. Trung châu đáng chú ý vì có nhiều đồng bằng, sẵn ruộng đất để cầy cấy và sông ngòi
thuận tiện cho mọi việc giao thông (sông Hồng Hà phát nguyên từ Tây Tạng có nhiều chi nhánh tản mác
khắp Trung Châu, sông thường không rộng lắm) - dân cư rất đông đúc, thóc lúa, ngô, khoai có nhiều.
Trung Việt là một giải đất hẹp, có giẫy Trường Sơn giống như cái xương sống chạy dọc từ Bắc Việt
vào Nam Việt, có thể ví là cái bình phong ngăn cách hai xứ Việt Lào, ở đây ruộng đất hiếm hoi, khô
khan, vì vị trí sát bể và núi nên sự sinh sống của dân chúng trông vào lâm sản và hải sản hay ngư lợi
(nghề đánh cá). Kinh tế nông nghiệp ở đây không được phong phú như ở miền Bắc Việt và Nam Việt
có thể coi là hai vựa thóc của Việt Nam.
Nam Việt ở vào khúc dưới sông Cửu Long có sông Tiền Giang, Hậu Giang, Vàm Cỏ và Đồng Nai chạy
dài trên toàn cõi, lại có nhiều đất ruộng nên rất thịnh đạt về nông nghiệp. Nhân dân ở đây không đông
đúc mấy, tương đối với tổng số diện tích đất đai, vừa sống với biển, vừa sống với ruộng vườn nên
không chật vật, vất vả như dân Bắc Việt bị nạn nhân mãn từ bao nhiêu đời. (Mật độ dân cư trung bình
lên tới 800 người trên một cây số vuông, có chỗ lên tới 2.000 người, điều ít thấy ở một nơi nào trên
thế giới ngày nay.)
Việt Nam là một xứ thuộc nhiệt đới, nhưng khí hậu có khác nhau từ Nam ra Bắc, thường nóng và ẩm
thấp. Bắc Việt giáp giới Trung Quốc là một miền ôn đới, có bốn mùa rõ rệt, mùa xuân đầm ấm, có
nhiều ngày lất phất mưa, cũng có khi lạnh. Trong mùa này, cây cỏ mọc mạnh. Mùa hè nóng bức, có khi
rất oi ả, khó chịu, nhưng cũng là mùa để thảo mộc sinh sôi nảy nở, thuận tiện cho nông nghiệp. Các
bệnh dịch tả nhất là đối với con trẻ hay phát sinh trong vụ hè. Vào khoảng tháng sáu hay tháng bảy,
thường có nước lớn do những trận mưa rào như trút nước từ các vùng thượng du về đồng bằng dễ sinh
ra nạn nước lụt, xưa kia hay phá vỡ đê điều, gây nên nhiều sự thiệt hại về tài sản và tính mệnh cho dân
chúng vùng Trung Châu. Cuộc chống chọi với nước lũ hằng năm đe dọa đê điều, đáng kể là một công
cuộc vĩ đại của dân tộc Việt Nam trải qua bao nhiêu thế kỷ trong khi khoa học chưa được áp dụng.
Đây là một cuộc chiến đấu giữa Người và Thiên Nhiên, có lẽ đã hun đúc cho dân tộc chúng ta cái đức
tính kiên nhẫn và một tinh thần chiến đấu đáng kể. Trái lại vì lụt mà ruộng đất thêm mầu mỡ, nhất là ở
đồng bằng sông Cửu Long. Mùa thu có những ngày nắng dịu nhưng về những ngày chót, đời sống của
cỏ cây bắt đầu ngưng trệ cho đến mùa đông thì rõ rệt là mùa thu, nắng hanh thường hay phát sinh các
bệnh lặt vặt và gió bấc lạnh thổi buốt kèm với mưa phùn, lại có những sự thay đổi thời tiết rất đột
ngột, đang nóng đổi ngay ra lạnh.
từ cửa Hàn trở vào Nam Việt khí hậu hình như riêng biệt. Ở đây có rõ rệt hai mùa mưa, nắng, nhất là ở
Nam Việt, nghĩa là có 6 tháng nắng. Trong một ngày có nhiều trận mưa rào đổ xuống trong chốc lát rồi
trời lại nắng ráo như thường. Buổi tối thường có gió mát. Ở địa phương này vấn đề thực phẩm, khí hậu
và nông nghiệp chịu ảnh hưởng của biển rất nhiều.
S ống trên đất Việt Nam, ngoài dân tộc Việt Nam còn có nhiều giống khác nữa tại các vùng sơn cước
mà người Việt ngày nay gọi là các đồng bào Thượng, vì trải qua bao nhiêu thế hệ đã cùng sinh sống
với nhau tuy không trực tiếp nhiều, nhưng đã cùng chung lưng đấu cật những biến cố lớn lao của lịch
sử và không hề có sự mâu thuẫn gì về quyền lợi tinh thần hay vật chất.
Ở miền thượng du Bắc Việt có dân Thái, Thổ, Mường, Mán, Mèo, Nùng, Yao, Lô Lô...Ở các miền
rừng núi Trung Việt có giống Mọi và Chàm. Ở Nam Việt trong các vùng sơn lâm cũng có dân Mọi,
Chàm, các thành thị có Chà Và, Hoa Kiều, cùng người Thổ nguồn gốc Cao Mên, lâu đời sinh sống ở
đây vui vẻ êm ấm như người Việt và không bị một đố kỵ nào hết.
Nhân dân Việt Nam ở Bắc Việt có vào khoảng 9 triệu người, Trung Việt có độ 6 triệu, Nam Việt có
chừng 5 triệu, đó là con số ước lượng 30 năm về trước. Giờ đây có thể con số đó đã vượt quá rồi.
Còn dân miền núi cũng tới trên dưới một triệu.
2- Người Việt Nam Người Việt Nam thuộc giống da vàng. Kẻ làm nghề lao động dầm mưa dãi nắng da
ngăm ngăm đen. Người làm các nghề nhàn nhã ít ra ngoài trời thì da trắng mầu ngà. Về chiều cao,
người Việt Nam phần nhiều tầm thước (không cao không thấp), nhỏ hơn người Tầu chút ít -- mặt phần
nhiều xương xương, trán cao rộng, mắt đen và hơi xếch về phía bên, gò má cao, mũi hơi tẹt, môi hơi
dầy, răng to thường khểnh, râu thưa, tóc đen và nhiều, cắt ngắn. Dáng đi lanh lẹ, vẻ mặt lanh lợi, thân
hình mảnh dẻ nhưng cứng cát và vững chắc.
Y ph ục của người đàn ông Việt Nam thường dài, rộng trong áo hẹp. Người lao động vận quần áo ngắn,
ở nơi tỉnh thành dùng mầu trắng, chốn thôn quê dùng mầu nâu hoặc đen, đi ra ngoài thăm bè bạn, dự lễ
nghi thường mặc thêm chiếc áo thâm dài quá gối. Ở chốn thôn quê thì thêm chiếc khăn đen hay quấn
ngang đầu làm cho vẻ mặt thêm phần nghiêm trang. Ngày nay, ở các thành thị, những người tân tiến như
các công chức, trí thức, sinh viên là những phần tử có tiếp xúc với văn hóa Tây phương thường vận
Âu phục do lẽ thuận tiện và mỹ thuật.
Ph ụ nữ Việt Nam ở các đô thị Bắc Việt và Trung Việt thường mặc quần trắng hay đen, nhưng áo dài thì
thay đổi nhiều mầu, chít khăn đen, cuộn tròn ngang đầu. Ở thôn quê thì mặc váy, có yếm che ngực, lại
cũng có nhiều người mặc quần như đàn bà thành thị. Ở Nam Việt, đàn bà ưa mặc quần đen, áo ngắn và
búi tóc.
Người đàn bà Việt Nam có nhiều đức tốt hơn là thói xấu. Phần lớn từ thành thị đến thôn quê, người đàn
bà lo buôn bán, cầy cấy, biết tần tảo, chịu thương khó và rất hy sinh cho chồng con. Sự kiện tốt đẹp
nầy là do ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh đã đi sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc chúng ta từ
ngót hai ngàn năm nay.
Gần một thế kỷ trở về đây, Việt Nam lại xúc tiếp với Tây phương, phụ nữ Việt Nam hấp thụ văn hóa
Âu Mỹ đã tỏ ra có nhiều khả năng trên trường học vấn và đã có những sự tranh đấu về quyền lợi gia
đình, xã hội với nam giới.
Bàn Về các điều tốt xấu trong con người Việt Nam, ta thấy đồng bào ta thông minh, nhớ dai, có óc
nghệ thuật, khéo tay chân, giàu trực giác hơn là luận lý, ưa điều đạo đức, ham chuộng văn chương. (Có
người nói người Việt ta thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thiết tưởng không đúng, chẳng qua
chúng ta trong mười thế kỷ mất độc lập, chịu ảnh hưởng văn hóa nô dịch nên không được hướng dẫn
phải đường, phải lối mà thôi, chớ không phải là ta không biết trọng thực học). Chúng ta lại còn đức
tính lễ phép và biết ơn, chuộng hòa bình và giàu óc hy sinh.
Người lao động rất cần cù và nhẫn nại, có sức chịu đựng những việc nặng nhọc rất bền bỉ, nhất là các
đồng bào miền Bắc. Người đi lính ra trận rất trọng kỷ luật và can đảm. Nói đến người lính đây tức là
lớp nông dân của chúng ta trong vai trò tranh đấu cho Tự do và Độc lập của xứ sở từ bốn ngàn năm
lập quốc đến giờ rất đáng phục.
Tinh thần dân tộc được như vậy là nhờ ở hoàn cảnh kinh tế, địa lý, văn hóa và chính trị cấu tạo nên
bởi:
1) Bắc giáp Trung Quốc, Nam giáp Chiêm Thành là hai gọng kìm ghê gớm, luôn luôn xiết chặt vào dân
tộc chúng ta. 2) R ừng núi Bắc Việt hoang vu và nhiều thú dữ.
3) Đồng bằng Bắc Việt hay bị lụt lội và hạn hán.
4) Miền duyên hải Trung Việt hay nổi giông tố.
5) Vì hai vụ gió mùa đổi thay luân chuyển, khí hậu thường hay khô ráo và ẩm thấp.
Đó là những yếu tố đã hun đúc cho chúng ta nhiều năng lực tranh đấu, sức chịu đựng với thiên nhiên và
các cường bang ngoại địch.
Chúng ta cũng có nhiều tính xấu như các dân tộc khác: Người dân trung lưu và hạ lưu hay nông nổi,
háo danh, thích phô trương, mê cờ bạc, tin ma quỷ, sùng việc cúng bái, không nhiệt tín tôn giáo nào cả,
ham kiện cáo, tinh vặt và quỷ quyệt.
tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất, mặc dầu có sự phân biệt TrungNam-Bắc, giọng nói
hơi nặng nhẹ ở một vài nơi, nhưng người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo
cũng không có gì khác biệt lắm từ Nam ra Bắc.
Xã hội Việt Nam gồm 4 giai cấp: Sĩ, Nông, Công, Thương, cùng sống dưới chế độ phong kiến lâu đời,
nhưng không có nhiều chia rẽ quá đáng như ở nhiều dân tộc khác. Tóm l ại, Việt Nam, nếu đem so sánh
với nhiều dân tộc khác thì rõ rệt có rất nhiều đức tính thuần nhất nhờ đó mà có đủ sức mạnh vật chất,
tinh thần để giải quyết nhiều việc khó khăn nội ngoại, qua nhiều thế hệ.
tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất vì mặc dầu có sự phân chia TrungNam-Bắc, giọng nói
có hơi nặng nhẹ ít nhiều, nhưng người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo
cũng không có gì khác biệt từ Nam ra Bắc.
Đ ây là sự trình bày đại khái về vị trí, tính tình, phong tục của người Việt Nam. Chúng tôi xin nghiên
cứu kỹ lưỡng thành từng vấn đề ở những trang dưới đây tùy theo sự thuận tiện của việc biên khảo.
3- Gốc Tích Của Người Việt Nam Bàn Về gốc tích dân tộc Việt Nam, những nhà làm sử của chúng ta
và các học giả ngoại quốc thường không đồng ý kiến. Nguyên do dân tộc Việt Nam là một dân tộc rất
cố cựu, ra đời trong khi khoa học, nhân chủng học, địa dư học và sử học chưa khai triển. Thêm vào
đó, dân tộc Việt Nam từ bốn ngàn năm lập quốc, trải qua bao nhiêu cuộc biến chuyển của Lịch sử,
sống một cuộc đời bất định từ lưu vực sông Nhị Hà, sông Mã cho tới ngày nay mới ngừng hẳn bên bờ
biển Tiêm La.
Nhi ều nhà khảo cổ Pháp cho rằng người Việt Nam phát tích ở miền núi Tây Tạng cũng như người
Thái, qua các triều đại di cư dần xuống Bắc Việt, lần xuống phía Đông Nam và lập ra nước Việt Nam
ngày nay. Còn người Thái lần theo sông Cửu Long (Mêkong) tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào. Như
vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây Bắc Trung Hoa là nguồn gốc.
Đồng thời, một vài dân tộc khác ở các quần đảo Đông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam,
Chiêm Thành cũng tập hợp trên bán đảo Đông Dương.
Có Thuyết cho rằng người Việt thuộc giống Anhđô-nê-diêng (Indonésien) bị giống Ariăng (Aryens)
đánh bạt ra khỏi Ấn Độ phải chạy qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây ta chia ra làm hai ngành, một ở lại
bán đảo Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mêla-nê-diêng (Mélanésien), một thiên xuống
Nam Dương quần đảo -- Ở mạn Bắc, ta hòa giống với người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn minh
Trung Quốc. Ở mạn Nam giống Anhđô-nê-diêng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành, chịu văn
hóa Ấn Độ. Ngay ngành ở mạn Bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở Trung Châu sông Nhị Hà
và các miền duyên hải, nhờ có đất cát phì nhiêu lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà xúc tiếp
được với văn hóa Trung Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lần lên các vùng cao nguyên, sống
với rừng núi -- chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ được nền nếp cũ là các tổ chức
và thể chế phong kiến. Các người Mường hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của
chi phái này.
Ông Léonard Aurousseau, c ăn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt Nam thuộc dòng dõi người nước
Việt đời Xuân Thu tức là thuộc quyền Quốc vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ 6 trước Công
Lịch), đóng kinh đô ở thành Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 trước Công Lịch), nước
Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống miền Nam chia ra làm phái:
1) Đông Âu hay là Việt Đông Hải thuộc miền Ôn Châu (phía Nam tỉnh Chiết Giang).
2) Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu tức Phúc Kiến.
3) Nam Việt thuộc Quảng Đông và phía Bắc Quảng Tây.
4) Lạc Việt hay là Tây Âu Lạc ở phía Nam Quảng Tây. Và miền Bắc Việt của chúng ta bây giờ.
Chúng ta thuộc thị tộc nào?
Tác giả cuốn "Nguồn gốc dân tộc Việt Nam" như chúng tôi xét, cũng không đứng ngoài thuyết này.
Giao Chỉ và Việt Thường Theo s ự khảo cứu của ông Đào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu, Thuấn,
Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đương quanh quẩn ở lưu vực sông
Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì ở miền Nam trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông
Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người phương Bắc. Trong thư tịch của
người Trung Hoa, bọn người đó gọi là Man Di sống ở bên các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong
các rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chài lưới, săn bắn. Họ có tục đặc biệt là xâm mình và cắt tóc
ngắn; để giải thích phong tục đó người ta nói rằng người Man Di hằng ngày lặn lội dưới sông, biển
thường bị giống Giao Long làm hại nên xâm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là
vật cùng giống mà không giết hại.
từ đời Nghiêu Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với người Hán
tộc. Đem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở về miền Hồ Nam ngày nay, gần hồ Động
Đình và núi Nam Lĩnh.
Người Hán tộc gọi nhóm Man Di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xâm mình để thành hình
trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng chủng của giống Giao
Long. Quan niệm "Tô Tem" bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ có hình trạng Giao Long, thờ
Giao Long làm tổ nên gọi nơi họ ở là Giao Chỉ tức là miền đất của giống người Giao Long.
Một thuyết khác cho rằng người Giao Chỉ có tên này do hai ngón chân cái giao nhau. Theo hai Bác s ĩ
P. Huard và Bigot trong Bulletin de la Société Médico-chirurgicale de l'Indochine quyển XV, số 5
tháng 5, năm 1937 trang 489-506, dưới tiêu đề: "Les Giao Chỉ " thì việc người Giao Chỉ có hai ngón
chân cái giao nhau không đáng coi là một điều đặc biệt, tức là nhiều dân tộc khác ở Á Đông cũng có
hình tích này.
B ộ Từ Nguyên (quyển Tí, trang ...
Việt Sử Toàn Thư -Từ Thượng Cổ Đến Hiện Đại
Tác giả: Phạm Văn Sơn
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Mục Lục
Lời giới thiệu
Lời tác giả Phần Thứ Nhất
Chương 1 - Khái luận về xã hội Việt Nam xưa và nay
1. Địa lý thiên nhiên -- 2. Người Việt Nam -- 3. Gốc tích.
Chương 2 - Đời sống thượng cổ của dân tộc Việt Nam
Chương 3 - Nhà Hồng Bàng (2879 - 258 tr. T. L.)
1. Truyền thuyết về nhà Hồng Bàng -- 2. Nước Văn Lang
Chương 4 - Nhà Thục (257 - 207 tr. T. L.)
Chương 5 - Xã hội Trung Hoa trong thời thượng cổ
1. Xã h ội và văn hóa -- 2. Trật tự xã hội và gia đình -- 3. Việc quan chế -- 4. Pháp chế -- 5. Binh chế
-- 6. Điền chế -- 7. Học chính -- 8. Khổng Tử -- 9. Lão Tử -- 10. Trang Tử -- 11. Tuân Huống.
Phần Thứ Hai Bắc Thuộc Thời Đại
Chương 1 - Nhà Triệu (Bắc thuộc lần thứ I 207-111 tr. T. L.) 1. Ch ỗ rẽ của lịch sử Âu Lạc -- 2. Chính
trị của Triệu Đà -- 3. Nam Việt và Tây Hán
- 4. Xã hội Việt Nam dưới thời Triệu Đà -- 5. Những vua kế nghiệp Triệu Đà --- 6. Đế quốc Việt Nam
xụp đổ -- 7. Công tội của Thái Phó Lữ Gia (Phê bình của Ngô Thời Sĩ).
Chương 2 - Nhà Tây Hán (Bắc thuộc lần II 111 tr. T. L. - 39 T. L.)
1. Đơn vị hành chánh trên đất Giao Chỉ -- 2. Bộ máy cai trị ở đất Giao Châu.
Chương 3 - Nhà Trưng (40 - 43)
1. Phần cờ nương tử -- 2. Nhà Đông Hán phục thù -- 3. Tính chất cách mạng của cuộc khởi nghĩa năm
Canh Tý.
Chương 4 - Bắc thuộc lần III (43 - 544 Đông Hán - Nam Bắc triều)
Cuộc cải cách của Mã Viện trên đất Giao Châu
Chương 5 - Người Việt Nam học chữ Tàu
1. Việc truyền bá Hán học -- 2. Ảnh hưởng Phật đồ với nền văn học của chúng ta -- 3. Phật Giáo -- 4.
Một điều sai lầm về Sĩ Nhiếp. Chương 6 - Cuộc cách mạng phản Đế lần thứ hai của dân Giao Chỉ
1. Bà Triệu chống quân Đông Ngô -- 2. Lâm Ấp quấy phá Giao Châu.
Chương 7 - Nhà Tiền Lý (544 - 602)
1. Lý Nam Đế (544 - 548) -- 2. Hậu Lý Nam Đế (571 - 602).
Chương 8 - Bắc thuộc lần IV (603 - 939)
1. Nhà Tùy đánh Lâm Ấp -- 2. Nhà Đường đối với An Nam -- 3. Mai Hắc Đế khởi nghĩa (722) -- 4.
Giặc Côn Lôn và Đồ Bà -- 5. Bố Cái Đại Vương -- 6. Cuộc xâm lăng Giao Châu của Nam Chiếu --- 7.
Sự thất bại của Nam Chiếu và sự nghiệp của Cao Biền.
Chương 9 - Cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam từ họ Khúc đến họ Ngô Trận thủy chiến đầu tiên của
Việt Nam. Phần Thứ Ba Việt Nam Trên Đường Độc Lập (939)
Chương 1 - Nhà Ngô (939 - 965)
Chương 2 - Nhà Đinh (968 - 980) 1. Đinh Tiên Hoàng -- 2. Đinh Phế Đế.
Chương 3 - Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
1. Lê Hoàn đánh Tống -- 2. Việc ngoại giao -- 3. Việc đánh Chiêm Thành -- 4. Sự mở mang trong
nước -- 5. Cái án Lê Hoàn và Dương Hậu. Chương 4 - Các vua kế tiếp Lê Đại Hành
I. Lê Trung Tông (1005)
II. Lê Ngọa Triều (1005 - 1009)
1. Việc ngoại giao với Bắc Triều -- 2. Sự tàn ác của Ngọa Triều -- 3. Vụ âm mưu cướp ngôi nhà Tiền
Lê. Chương 5 - Nhà Hậu Lý (1010 - 1225)
I. Lý Thái Tổ (1010 - 1028)
II. Lý Thái Tông (1028 - 1054)
1. Việc chính trị -- 2. Việc quân sự -- 3. Dẹp Chiêm Thành.
III. Lý Thánh Tông (1054 - 1072) 1. Việc mở mang Phật Giáo và Nho Giáo -- 2. Đánh Chiêm Thành.
IV. Lý Nhân Tông (1072 - 1127)
1. Vụ tranh dành quyền vị -- 2. Việc chính trị -- 3. Việc đánh Tống -- 4. Cuộc phục thù của nhà Tống -5. Đánh Chiêm Thành.
V. Lý Thần Tông (1128 - 1138)
VI. Lý Anh Tông (1138 - 1175) 1. Đỗ Anh Vũ và Tô Hiến Thành -- 2. Việc ngoại giao.
VII. Lý Cao Tông (1176 - 1210)
VIII. Lý Huệ Tông (1211 - 1225)
IX. Lý Chiêu Hoàng (1225)
Chương 6 - Khái niệm về Phật giáo và văn học dưới đời nhà Lý
Chương 7 - Nhà Trần (1225 - 1413) -- Nước Việt Nam dưới đời Trần Sơ I. Trần Thái Tông (1225 1258) 1. Tàn sát h ọ Lý. -- 2. Việc đảo lộn nhân luân. -- 3. Việc đánh dẹp trong nước. -- 4. Những
công cuộc cải cách. -- 5. Việc binh chế và lực lượng quân đội dưới đời Trần - Sơ. -- 6. Kinh tế và xã
hội. -- 7. Phong tục. -- 8. Văn hóa. -- 9. Cuộc chiến tranh tự vệ thứ nhất của Việt Nam.
II. Tr ần Thánh Tông (1258 - 1278)
1. Việc chính trị. -- 2. Việc ngoại giao với Mông Cổ.
III. Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
A- Mông C ổ gây hấn lần thứ hai
1. Việc ngoại giao tan vỡ. -- 2 Huyết chiến giữa Việt Nam và Mông Cổ. - Hội Nghị Bình Than (1282).
- Hội Nghị Diên Hồng (1284). - Quân Nam rút theo kế hoạch. - Hội nghị quân sự Vạn Kiếp. III Mông
Cổ tấn công. - Mặt trận Đông Nam. - Cuộc tổng tấn công của Việt Nam. Việt Nam thu phục Thăng
Long. - Trận Tây Kết. - Trận Vạn Kiếp.
B- Mông C ổ tấn công lần thứ hai (1287)
I Trận Vân Đồn. II Trận Bạch Đằng. III Việc truy kích Thoát Hoan. IV Cuộc giảng hòa. V Chiến pháp
của Hưng Đạo Vương.
IV. Tr ần Anh Tông (1293 - 1314)
Việc gả Huyền Trân cho Chế Mân
V. Trần Minh Tông (1314 - 1329)
VI. Trần Hiến Tông (1329 - 1341)
Giặc Ngưu Hống và giặc Lào
VII. Trần Dụ Tông (1341 - 1369)
1. Việc chính trị. -- 2. Việc giao thiệp với Trung Hoa. -- 3. Việc giao thiệp với Chiêm Thành. -- 4. Dụ
Dương Nhật Lễ. VIII. Tr ần Nghệ Tông (1370 - 1372)
Tiểu sử Hồ Quý Ly.
IX. Trần Duệ Tông (1372 - 1377)
X. Trần Phế Đế (1377 - 1388)
1. Việc giao thiệp với nhà Minh. -- 2. Chiêm Thành tấn công Thăng Long. -- 3. Âm mưu trừ Hồ Quý
Ly thất bại.
XI. Trần Thuận Tông (1388 - 1398) 1. chế Bồng Nga tử trận. -- 2. Cuộc cách mạng của Hồ Quý Ly:
Cải cách chính trị. Cải cách quân sự. Cải cách kinh tế. Cải cách xã hội. Cải cách văn hóa. -- 3. Cuộc
đảo chính Hồ Quý Ly.
Chương 8 - Nhà Hồ (1400 - 1407)
I. Hồ Quý Ly (1400)
II. Hồ Hán Thương (1400 - 1407)
1. Cu ộc giao tranh giữa nhà Hồ và nhà Minh. - Thành Đa Bang thất thủ. - Trận Mộc Phàm Giang. Trận Hàm Tử Quan. - Nguyên nhân thất bại của Hồ Quý Ly. -- 2. Hồ Quý Ly có làm mất nước không?
Chương 9 - Bắc thuộc lần thứ năm -- Nhà Hậu Trần (1407 - 413)
1. Chính sách thống trị của nhà Minh. -- 2. Giản Định Đế khởi nghĩa (1407 - 1409).
- 3. Trần Quý Khoách (1409 - 1413)
Chương 10 - Nhà Hậu Lê. Lê Lợi chấm dứt chế độ Minh thuộc (1417 - 1427) 1. Giai đoạn đen tối. -2. Giai đoạn tươi sáng. -- 3. Cuộc tổng phản công của giặc Minh (Mặt trận miền Bắc). -- 4. Trận Tuy
Động. -- 5. Việt quân phong tỏa Đông Đô.
-- 6. Trận chi Lăng. -- 7. Quân Minh xin hòa giải. -- 8. Việc cầu phong.
Nhà Hậu Lê (1428 - 1527)
I. Lê Thái Tổ (1428 - 1433)
1. Học chính. -- 2. Luật pháp. -- 3. Hành chánh. -- 4. Cải cách điền địa. -- 5. Binh chế. -- 6. Việc giết
công thần. II. Lê Thái Tông (1434 - 1442)
Cái án Lê Chi Viên (1442)
III. Lê Nhân Tông (1443 - 1459)
IV. Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
1. Việc chính trị. -- 2. Tổ chức hương thôn. -- 3. Việc đình. -- 4. Hành chính. -- 5. Quan chế. -- 6. Thuế
đinh. -- 7. Thuế điền thổ. -- 8. Nông nghiệp. -- 9. Luật pháp bảo vệ nhân quyền. -- 10. Quyền lợi xã
hội. -- 11. Tổ chức võ bị. -- 12. Võ công đời Hồng Đức. -- 13. Văn trị đời Hồng Đức.
V. Lê Hi ến Tông (1497 - 1504)
VI. Lê Túc Tông (1504 1505)
VII. Lê Uy Mục (1505 - 1509)
VIII. Lê Tương Dực (1510 - 1516)
IX. Lê Chiêu Tông
X. Lê Cung Hoàng (1516 - 1527)
Chương 11 - Nhà Mạc (1527 - 1667)
Mạc Đăng Dung (1527 - 1529)
1. Tình trạng Việt Nam đầu thế kỷ XVI. -- 2. Tiểu sử Mạc Đăng Dung. -- 3. Vụ Trần Thiêm Bình thứ
hai. -- 4. Một cuộc chiến tranh tâm lý. -- 5.Vụ án Mạc Đăng Dung. Chương 12 - Loạn phong kiến Việt
Nam. Nam Bắc triều (1527 - 1592) 1. Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. -- 2. Biến cố tại Nam triều. -- 3.
Thất bại của Bắc triều. Chương 13 - Nước Việt Nam từ Bắc vào Nam (1674 - 1775)
1. Họ Trịnh làm chúa miền Bắc. -- 2. Họ Nguyễn xưng hùng phương Nam.
Chương 14 - Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1775)
1. Đại chiến lần thứ nhất (1627). -- 2. Đại chiến lần thứ hai (1630) -- 3. Đại chiến lần thứ ba (1635). - 4. Đại chiến lần thứ tư (1648). -- 5. Đại chiến lần thứ năm (1655) -- 6. Đại chiến lần thứ sáu (1661)
-- 7. Đại chiến lần thứ bảy (1672).
Chương 15 - Sự nghiệp hai họ Trịnh - Nguyễn
Chương 16 - Những vụ phiến loạn dưới đời chúa Trịnh
Chương 17 - Các hoạt động của Nguyễn
Chương 18 - Các cuộc chiến tranh cuối cùng của hai họ Trịnh - Nguyễn (1774) Chương 19 - Nhà Tây
Sơn (1778 - 1802)
1. Ti ểu sử nhà Tây Sơn. -- 2. Tây Sơn diệt Nguyễn tại Nam Việt. -- 3. Nguyễn Huệ đuổi quân Xiêm. - 4. Nguyễn Huệ đánh Thuận Hóa. -- 5. Nguyễn Huệ ra Thăng Long. -- 6. Chim Bằng gẫy cánh.
Chương 20 - Một võ công oanh liệt bậc nhất của Việt Nam cuối thế kỷ XVIII 1. Cái chết của Vũ Văn
Nhậm. -- 2. Chiến sự Việt-Thanh. -- 3. Cuộc giao thiệp giữa Tây Sơn và Thanh đình. -- 4. Chính trị
của vua Quang Trung. -- 5. Vua Chiêu Thống bị nhục trên đất Tàu.
Những cuộc chiến tranh cuối cùng giữa Tây Sơn và Cựu Nguyễn 1. Nguyễn Vương quật khởi. -- 2.
Nguyễn Vương tấn công Qui Nhơn lần thứ nhất (1790). -- 3. Qui Nhơn thất thủ lần thứ hai và ba. -- 4.
Phú Xuân đổi chủ. -- 5. Nguyễn Vương ra Bắc Hà.
Chương 21 - Người Âu Châu sang Việt Nam
1. Việt Nam dưới con mắt người Pháp. -- 2. Đạo Thiên Chúa.
Chương 22 - Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
I. Gia Long (1802 - 1820)
1. Th ế tổ xưng đế hiệu. -- 2. Bộ máy chính quyền trung ương. -- 3. Các địa hạt hành chính lớn. -- 4.
Binh chế. -- 5. Công vụ. -- 6. Việc học hành và luật pháp. -- 7. Việc tài chính. -- 8. Việc ngoại giao
với Pháp. -- 9. Việc ngoại giao với Trung Quốc.
- 10. Giao thiệp với Miên-Lào-Tiêm La. -- 11. Bàn về loạn phong kiến ở Việt Nam. -- 12. Vài ý kiến
về vua Gia Long.
II. Thánh Tổ (1820 - 1840) 1. Hoàn thiên b ộ máy chính quyền. -- 2. Việc học hành thi cử. -- 3. Sách
vở. -- 4. Những cuộc phiến loạn. -- 5. Việc ngoại giao với Pháp. -- 6. Việc Ai Lao và Chân Lạp. -- 7.
Việc cấm đạo. -- 8. Bàn về Thánh Tổ.
III. Hiến Tổ (1841 - 1847)
1. Cá nhân của vua Hiến Tổ. -- 2. Việc Chân Lạp và Tiêm La. -- 3. Cuộc đánh phá đầu tiên của Pháp ở
Việt Nam. Phần Thứ Tư Việt Nam Mất Độc Lập Về Tay Pháp
Chương 1 - Dực Tông (1847 - 1883)
1. Vua Tự Đức và tình thế Việt Nam giữa thế kỷ XIX. -- 2. Việc ngoại giao và cấm đạo. -- 3. Việc văn
học và binh chế. -- 4. Những vụ phiến động trong nước. Chương 2 - Người Pháp ra mặt xâm chiếm
Việt Nam 1. Nguyên nhân c ủa sự xâm lăng. -- 2. Đặc phái viên Pháp đến Việt Nam. -- 3. Việt Nam
mất ba tỉnh Đông Nam Kỳ. -- 4. Phản ứng của triều đình Huế. -- 5. Phong Trào kháng Pháp ở Nam Kỳ.
-- 6. Người Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. -- 7. Những nghĩa sĩ miền Nam.
Chương 3 - Quân Pháp đánh Bắc Kỳ 1. Nguyên nhân Việc người Pháp ra Bắc. -- 2. Pháp quân đánh
Bắc Kỳ lần thứ I. -3. Hòa ước năm Giáp Tuất (1874). -- 4. Hà thành thất thủ lần thứ hai. -- 5. Sự phế lập ở Huế. -- 6.
Hòa ước năm Quí Mùi (1883). -- 7. Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai.
- 8. Hòa ước Patenôtre (1884).
Chương 4 - Tàn cuộc của phong kiến Việt Nam 1. Phong trào C ần Vương cứu quốc. -- 2. Phong trào
Văn Thân kháng Pháp. -- 3. Vua Thành Thái (1884 - 1907). -- 4. Vua Duy Tân (1907 - 1916). -- 5.
Cuộc bảo hộ của nước Pháp.
Chương V - Những cuộc tranh thủ độc lập của Việt Nam từ 1928 - 1954 1. Xã h ội Việt Nam dưới thời
Pháp thuộc. -- 2. Những cuộc tranh đấu của thế hệ trẻ tuổi. -- 3. Cuộc đảo chánh 9-3-1945. -- 4. Lá bài
Bảo Đại và Hiệp Định Hạ Long. -5. Cuộc chiến tranh Thực - Cộng (1945 - 1954). -- 6. Thỏa hiệp Genève. -- 7. Kết Luận
Tài li ệu tham khảo
Ý kiến của văn gia trí thức về Việt Sử Toàn Thư
Phụ lục 1: Bảng đối chiếu các triều đại Việt Nam với triều đại Trung Hoa Phụ lục 2: Thế Phả họ
Nguyễn
Phụ lục 3: Thế Phả họ Trịnh
Lời Giới Thiệu
Kính dâng hương hồn song thân đã sớm hun đúc cho con một tấm lòng thiết tha với đất nước để viết
nên những trang sử oai hùng của dân tộc.
Phạm Văn Sơn
"Chim Việt làm tổ cành nam (Việt điểu sào nam chi)", một câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một ý
nghĩa thật sâu: người Việt Nam không bao giờ quên được cội nguồn của mình! Nhờ tinh thần đó mà
trên trường quốc tế, dù phải chịu một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây.
Nhưng hiện nay, với chính sách hủy diệt văn hóa truyền thống dân tộc trong nước, và sức lôi cuốn
mãnh liệt của nền văn minh vật chất Âu Mỹ ngoài nước, dân tộc chúng ta đang phải đối đầu với một
hiểm họa diệt vong mới, có mức độ trầm trọng hơn tất cả các hiểm họa đã gặp phải trong quá khứ.
Chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, phát xuất từ đáy lòng của mọi người Việt mới giúp chúng ta vượt qua
được hiểm họa này. Chỉ có lòng yêu quê hương thiết tha mới là động cơ bắt chúng ta chung góp tâm trí
vào việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa cao quý của cha ông để lại.
Với mục tiêu duy nhất là nuôi dưỡng lòng yêu nước cần thiết trong lòng mọi người Việt tại Nhật, sinh
thành những tâm hồn thiết tha với quê hương, dân tộc, chúng tôi đã mạn phép in lại 600 bộ Việt Sử
Toàn Thư này của Sử Gia Phạm Văn Sơn để phân phối trong cộng đồng người Việt tại Nhật.
Với công trình khảo cứu sâu rộng của Sử gia yêu nước Phạm Văn Sơn và tính chất khách quan, dân
tộc, khoa học, phong phú, giản dị ... của bộ sách này, chúng tôi mong muốn mỗi gia đình Việt Nam tại
Nhật sẽ có ít nhất một bộ, lúc nào cũng có trong nhà, để dễ dàng chỉ dạy con em về lịch sử hào hùng
bất khuất của dân tộc Việt.
Chúng tôi cũng chân thành cảm tạ Hiệp Hội Liên Đới Người Tỵ Nạn Đông Dương đã yểm trợ toàn thể
chi phí để in lại bộ sách này. Hi ệp Hội Người Việt Tại Nhật Bản
Nhật Bản, 1983
Nam Nghệ Xã
Cùng Bạn Đọc Thân Mến từ mười hai năm nay, bước chân vào làng sử học, chúng tôi đã được hân
hạnh giới thiệu các bạn văn gia trí thức và học sinh một tổ tác phẩm nhỏ như Việt Nam Tranh Đấu Sử,
Việt Nam Hiện Đại Sử Yếu, Vĩ Tuyến 17, Việt Sử Tân Biên quyển I, II, III.
Những cuốn sách này được tái bản nhiều lần và trước những sự đóng góp của chúng tôi đối với văn
hóa nước nhà, các bạn đọc đã tỏ có nhiều cảm tình và tin cậy, do đó để tạ lòng tri kỷ bốn phương hàng
năm chúng tôi tiếp tục gửi đến tay các bạn những tác phẩm về sử học.
Gần đây, Việt sử tân biên được các bạn trí thức trong nước và ngoài nước đặc biệt lưu ý và tán thưởng
trên các báo Bách Khoa, Thế Giới Tự Do, Tân Dân, Chỉ Đạo, Ngôn Luận, Tự Do, v.v... nhưng bộ sử
này còn tới 4 cuốn nữa mới hết, tức là phải xuất bản đều đặn luôn bốn năm mới hoàn thành.
Trong lúc này, nhi ều bạn giáo sư và học sinh thường gửi thư đến chúng tôi yêu cầu nên gấp rút soạn
một cuốn Việt sử tân biên thâu hẹp gồm đủ chi tiết từ Thượng cổ thời đại đến hết thời Pháp thuộc để
tiện dụng hơn trong các trường học. Theo ý các bạn, Việt Sử Tân Biên gồm 7 cuốn chỉ lợi ích nhiều
cho các giáo sư sử địa, các văn gia trí thức cần biên khảo rộng rãi và cho một số sinh viên nặng tình
đặc biệt với sử học. Quả vậy, chúng tôi đã đọc khá nhiều sách, chuyện ký để viết một bộ sách có mục
đích giúp các bạn kể trên khỏi mất nhiều thời giờ tìm tòi sử liệu và nghĩ ngợi về sự bình giải, mặc dầu
công việc của chúng tôi vẫn có thể còn nhiều khuyết điểm.
Ngoài ra, từ trên 30 năm nay, tuy trong các thư viện của chúng ta đã có một sách về lịch sử, nhưng các
sách này vẫn còn mang nặng ảnh hưởng của tư tưởng thời phong kiến, đế quốc. Nếu cần tiến bộ, tất
nhiên ta phải có những cuốn sử mới viết theo quan niệm rộng rãi và tinh thần phóng khoáng của trào
lưu dân chủ ngày nay cùng gồm thâu được nhiều điều mới lạ do sự khám phá hay sưu tầm của các học
giả cận đại, hiện đại.
Hôm nay, Việt Sử Toàn Thư ra mắt các bạn. Chúng tôi hy vọng tác phẩm này sẽ hợp với nhu cầu của
tình thế một phần nào, góp được ít nhiều công quả cần thiết cho sự phát triển và xây dựng văn học của
nước nhà trong giai đoạn mới của lịch sử. Tuy nhiên do sử học nước nhà chưa hết phôi thai, ấu trĩ, sử
liệu lại thất đắc khá nhiều qua các quốc biến, sách này không khỏi có điều lỗi lầm, sơ sót. Trong khi
chờ đợi một hoàn thiện, chúng tôi xin sẵn sàng chào đón sự uốn nắn và chỉ bảo của các bạn trí thức
gần xa.
Sài gòn ngày 14 tháng 3 năm Canh Tý - Phạm Văn Sơn
Phần Thứ Nhất
Chương 1 - Khái Luận Về Xã Hội Việt Nam Xưa và Nay
- Địa lý thiên nhiên Việt Nam
- Người Việt Nam
- Gốc tích của người Việt Nam
1- Địa Lý Thiên Nhiên Việt Nam Việt Nam ngày nay là một nước trên bán đảo Đông Dương ở vào
khoảng giữa Ấn Độ và Trung Hoa thuộc Châu Á hướng về phía Nam. Bắc, Việt Nam giáp Trung Hoa
(giáp giới ba tỉnh miền Nam Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây), Tây giáp Ai Lao,
Cao Mên, Đông giáp bờ bể Nam Hải. Một đằng khác, ở Đông Nam Châu Á, bán đảo Đông Dương
trong đó có Việt Nam nhìn qua quần đảo Phi Luật Tân và duỗi chân về phía Nam như đạp xuống quần
đảo Mã Lai mà vị trí cùng mối liên hệ đối với bán đảo Đông Dương có thể ví với Địa Trung Hải ở Âu
Châu.
N ước Việt Nam giống hình chữ S hẹp ở giữa, rộng hai đầu. Chiều cong vòng theo bờ biển bắt đầu từ
vịnh Bắc Việt, lượn vào đến đầu Trung Việt dần dần ưỡn ra, xuống đến Nam Việt thì chiều cong lại
dần dần ăn vòng vào theo một đường rất êm dịu.
Di ện tích rộng chừng 312.000 cây số vuông trong đó:
Bắc Việt: 105.000 cây số vuông
Trung Việt: 150.000 cây số vuông
Nam Việt: 57.000 cây số vuông
B ắc Việt chia ra làm ba miền: Thượng du có nhiều rừng núi chạy vòng cánh cung theo hình thể xứ
Bắc, như chiếc quạt xòe ra từ nơi giáp miền Thượng Lào chạy sát các vùng biên giới Việt Hoa. Ngọn
núi cao nhất là Hoàng Liên Sơn (3.141 thước). Trung du là miền ở giữa trung châu và thượng du, sát
các khu rừng núi. Trung châu đáng chú ý vì có nhiều đồng bằng, sẵn ruộng đất để cầy cấy và sông ngòi
thuận tiện cho mọi việc giao thông (sông Hồng Hà phát nguyên từ Tây Tạng có nhiều chi nhánh tản mác
khắp Trung Châu, sông thường không rộng lắm) - dân cư rất đông đúc, thóc lúa, ngô, khoai có nhiều.
Trung Việt là một giải đất hẹp, có giẫy Trường Sơn giống như cái xương sống chạy dọc từ Bắc Việt
vào Nam Việt, có thể ví là cái bình phong ngăn cách hai xứ Việt Lào, ở đây ruộng đất hiếm hoi, khô
khan, vì vị trí sát bể và núi nên sự sinh sống của dân chúng trông vào lâm sản và hải sản hay ngư lợi
(nghề đánh cá). Kinh tế nông nghiệp ở đây không được phong phú như ở miền Bắc Việt và Nam Việt
có thể coi là hai vựa thóc của Việt Nam.
Nam Việt ở vào khúc dưới sông Cửu Long có sông Tiền Giang, Hậu Giang, Vàm Cỏ và Đồng Nai chạy
dài trên toàn cõi, lại có nhiều đất ruộng nên rất thịnh đạt về nông nghiệp. Nhân dân ở đây không đông
đúc mấy, tương đối với tổng số diện tích đất đai, vừa sống với biển, vừa sống với ruộng vườn nên
không chật vật, vất vả như dân Bắc Việt bị nạn nhân mãn từ bao nhiêu đời. (Mật độ dân cư trung bình
lên tới 800 người trên một cây số vuông, có chỗ lên tới 2.000 người, điều ít thấy ở một nơi nào trên
thế giới ngày nay.)
Việt Nam là một xứ thuộc nhiệt đới, nhưng khí hậu có khác nhau từ Nam ra Bắc, thường nóng và ẩm
thấp. Bắc Việt giáp giới Trung Quốc là một miền ôn đới, có bốn mùa rõ rệt, mùa xuân đầm ấm, có
nhiều ngày lất phất mưa, cũng có khi lạnh. Trong mùa này, cây cỏ mọc mạnh. Mùa hè nóng bức, có khi
rất oi ả, khó chịu, nhưng cũng là mùa để thảo mộc sinh sôi nảy nở, thuận tiện cho nông nghiệp. Các
bệnh dịch tả nhất là đối với con trẻ hay phát sinh trong vụ hè. Vào khoảng tháng sáu hay tháng bảy,
thường có nước lớn do những trận mưa rào như trút nước từ các vùng thượng du về đồng bằng dễ sinh
ra nạn nước lụt, xưa kia hay phá vỡ đê điều, gây nên nhiều sự thiệt hại về tài sản và tính mệnh cho dân
chúng vùng Trung Châu. Cuộc chống chọi với nước lũ hằng năm đe dọa đê điều, đáng kể là một công
cuộc vĩ đại của dân tộc Việt Nam trải qua bao nhiêu thế kỷ trong khi khoa học chưa được áp dụng.
Đây là một cuộc chiến đấu giữa Người và Thiên Nhiên, có lẽ đã hun đúc cho dân tộc chúng ta cái đức
tính kiên nhẫn và một tinh thần chiến đấu đáng kể. Trái lại vì lụt mà ruộng đất thêm mầu mỡ, nhất là ở
đồng bằng sông Cửu Long. Mùa thu có những ngày nắng dịu nhưng về những ngày chót, đời sống của
cỏ cây bắt đầu ngưng trệ cho đến mùa đông thì rõ rệt là mùa thu, nắng hanh thường hay phát sinh các
bệnh lặt vặt và gió bấc lạnh thổi buốt kèm với mưa phùn, lại có những sự thay đổi thời tiết rất đột
ngột, đang nóng đổi ngay ra lạnh.
từ cửa Hàn trở vào Nam Việt khí hậu hình như riêng biệt. Ở đây có rõ rệt hai mùa mưa, nắng, nhất là ở
Nam Việt, nghĩa là có 6 tháng nắng. Trong một ngày có nhiều trận mưa rào đổ xuống trong chốc lát rồi
trời lại nắng ráo như thường. Buổi tối thường có gió mát. Ở địa phương này vấn đề thực phẩm, khí hậu
và nông nghiệp chịu ảnh hưởng của biển rất nhiều.
S ống trên đất Việt Nam, ngoài dân tộc Việt Nam còn có nhiều giống khác nữa tại các vùng sơn cước
mà người Việt ngày nay gọi là các đồng bào Thượng, vì trải qua bao nhiêu thế hệ đã cùng sinh sống
với nhau tuy không trực tiếp nhiều, nhưng đã cùng chung lưng đấu cật những biến cố lớn lao của lịch
sử và không hề có sự mâu thuẫn gì về quyền lợi tinh thần hay vật chất.
Ở miền thượng du Bắc Việt có dân Thái, Thổ, Mường, Mán, Mèo, Nùng, Yao, Lô Lô...Ở các miền
rừng núi Trung Việt có giống Mọi và Chàm. Ở Nam Việt trong các vùng sơn lâm cũng có dân Mọi,
Chàm, các thành thị có Chà Và, Hoa Kiều, cùng người Thổ nguồn gốc Cao Mên, lâu đời sinh sống ở
đây vui vẻ êm ấm như người Việt và không bị một đố kỵ nào hết.
Nhân dân Việt Nam ở Bắc Việt có vào khoảng 9 triệu người, Trung Việt có độ 6 triệu, Nam Việt có
chừng 5 triệu, đó là con số ước lượng 30 năm về trước. Giờ đây có thể con số đó đã vượt quá rồi.
Còn dân miền núi cũng tới trên dưới một triệu.
2- Người Việt Nam Người Việt Nam thuộc giống da vàng. Kẻ làm nghề lao động dầm mưa dãi nắng da
ngăm ngăm đen. Người làm các nghề nhàn nhã ít ra ngoài trời thì da trắng mầu ngà. Về chiều cao,
người Việt Nam phần nhiều tầm thước (không cao không thấp), nhỏ hơn người Tầu chút ít -- mặt phần
nhiều xương xương, trán cao rộng, mắt đen và hơi xếch về phía bên, gò má cao, mũi hơi tẹt, môi hơi
dầy, răng to thường khểnh, râu thưa, tóc đen và nhiều, cắt ngắn. Dáng đi lanh lẹ, vẻ mặt lanh lợi, thân
hình mảnh dẻ nhưng cứng cát và vững chắc.
Y ph ục của người đàn ông Việt Nam thường dài, rộng trong áo hẹp. Người lao động vận quần áo ngắn,
ở nơi tỉnh thành dùng mầu trắng, chốn thôn quê dùng mầu nâu hoặc đen, đi ra ngoài thăm bè bạn, dự lễ
nghi thường mặc thêm chiếc áo thâm dài quá gối. Ở chốn thôn quê thì thêm chiếc khăn đen hay quấn
ngang đầu làm cho vẻ mặt thêm phần nghiêm trang. Ngày nay, ở các thành thị, những người tân tiến như
các công chức, trí thức, sinh viên là những phần tử có tiếp xúc với văn hóa Tây phương thường vận
Âu phục do lẽ thuận tiện và mỹ thuật.
Ph ụ nữ Việt Nam ở các đô thị Bắc Việt và Trung Việt thường mặc quần trắng hay đen, nhưng áo dài thì
thay đổi nhiều mầu, chít khăn đen, cuộn tròn ngang đầu. Ở thôn quê thì mặc váy, có yếm che ngực, lại
cũng có nhiều người mặc quần như đàn bà thành thị. Ở Nam Việt, đàn bà ưa mặc quần đen, áo ngắn và
búi tóc.
Người đàn bà Việt Nam có nhiều đức tốt hơn là thói xấu. Phần lớn từ thành thị đến thôn quê, người đàn
bà lo buôn bán, cầy cấy, biết tần tảo, chịu thương khó và rất hy sinh cho chồng con. Sự kiện tốt đẹp
nầy là do ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh đã đi sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc chúng ta từ
ngót hai ngàn năm nay.
Gần một thế kỷ trở về đây, Việt Nam lại xúc tiếp với Tây phương, phụ nữ Việt Nam hấp thụ văn hóa
Âu Mỹ đã tỏ ra có nhiều khả năng trên trường học vấn và đã có những sự tranh đấu về quyền lợi gia
đình, xã hội với nam giới.
Bàn Về các điều tốt xấu trong con người Việt Nam, ta thấy đồng bào ta thông minh, nhớ dai, có óc
nghệ thuật, khéo tay chân, giàu trực giác hơn là luận lý, ưa điều đạo đức, ham chuộng văn chương. (Có
người nói người Việt ta thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thiết tưởng không đúng, chẳng qua
chúng ta trong mười thế kỷ mất độc lập, chịu ảnh hưởng văn hóa nô dịch nên không được hướng dẫn
phải đường, phải lối mà thôi, chớ không phải là ta không biết trọng thực học). Chúng ta lại còn đức
tính lễ phép và biết ơn, chuộng hòa bình và giàu óc hy sinh.
Người lao động rất cần cù và nhẫn nại, có sức chịu đựng những việc nặng nhọc rất bền bỉ, nhất là các
đồng bào miền Bắc. Người đi lính ra trận rất trọng kỷ luật và can đảm. Nói đến người lính đây tức là
lớp nông dân của chúng ta trong vai trò tranh đấu cho Tự do và Độc lập của xứ sở từ bốn ngàn năm
lập quốc đến giờ rất đáng phục.
Tinh thần dân tộc được như vậy là nhờ ở hoàn cảnh kinh tế, địa lý, văn hóa và chính trị cấu tạo nên
bởi:
1) Bắc giáp Trung Quốc, Nam giáp Chiêm Thành là hai gọng kìm ghê gớm, luôn luôn xiết chặt vào dân
tộc chúng ta. 2) R ừng núi Bắc Việt hoang vu và nhiều thú dữ.
3) Đồng bằng Bắc Việt hay bị lụt lội và hạn hán.
4) Miền duyên hải Trung Việt hay nổi giông tố.
5) Vì hai vụ gió mùa đổi thay luân chuyển, khí hậu thường hay khô ráo và ẩm thấp.
Đó là những yếu tố đã hun đúc cho chúng ta nhiều năng lực tranh đấu, sức chịu đựng với thiên nhiên và
các cường bang ngoại địch.
Chúng ta cũng có nhiều tính xấu như các dân tộc khác: Người dân trung lưu và hạ lưu hay nông nổi,
háo danh, thích phô trương, mê cờ bạc, tin ma quỷ, sùng việc cúng bái, không nhiệt tín tôn giáo nào cả,
ham kiện cáo, tinh vặt và quỷ quyệt.
tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất, mặc dầu có sự phân biệt TrungNam-Bắc, giọng nói
hơi nặng nhẹ ở một vài nơi, nhưng người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo
cũng không có gì khác biệt lắm từ Nam ra Bắc.
Xã hội Việt Nam gồm 4 giai cấp: Sĩ, Nông, Công, Thương, cùng sống dưới chế độ phong kiến lâu đời,
nhưng không có nhiều chia rẽ quá đáng như ở nhiều dân tộc khác. Tóm l ại, Việt Nam, nếu đem so sánh
với nhiều dân tộc khác thì rõ rệt có rất nhiều đức tính thuần nhất nhờ đó mà có đủ sức mạnh vật chất,
tinh thần để giải quyết nhiều việc khó khăn nội ngoại, qua nhiều thế hệ.
tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất vì mặc dầu có sự phân chia TrungNam-Bắc, giọng nói
có hơi nặng nhẹ ít nhiều, nhưng người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo
cũng không có gì khác biệt từ Nam ra Bắc.
Đ ây là sự trình bày đại khái về vị trí, tính tình, phong tục của người Việt Nam. Chúng tôi xin nghiên
cứu kỹ lưỡng thành từng vấn đề ở những trang dưới đây tùy theo sự thuận tiện của việc biên khảo.
3- Gốc Tích Của Người Việt Nam Bàn Về gốc tích dân tộc Việt Nam, những nhà làm sử của chúng ta
và các học giả ngoại quốc thường không đồng ý kiến. Nguyên do dân tộc Việt Nam là một dân tộc rất
cố cựu, ra đời trong khi khoa học, nhân chủng học, địa dư học và sử học chưa khai triển. Thêm vào
đó, dân tộc Việt Nam từ bốn ngàn năm lập quốc, trải qua bao nhiêu cuộc biến chuyển của Lịch sử,
sống một cuộc đời bất định từ lưu vực sông Nhị Hà, sông Mã cho tới ngày nay mới ngừng hẳn bên bờ
biển Tiêm La.
Nhi ều nhà khảo cổ Pháp cho rằng người Việt Nam phát tích ở miền núi Tây Tạng cũng như người
Thái, qua các triều đại di cư dần xuống Bắc Việt, lần xuống phía Đông Nam và lập ra nước Việt Nam
ngày nay. Còn người Thái lần theo sông Cửu Long (Mêkong) tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào. Như
vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây Bắc Trung Hoa là nguồn gốc.
Đồng thời, một vài dân tộc khác ở các quần đảo Đông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam,
Chiêm Thành cũng tập hợp trên bán đảo Đông Dương.
Có Thuyết cho rằng người Việt thuộc giống Anhđô-nê-diêng (Indonésien) bị giống Ariăng (Aryens)
đánh bạt ra khỏi Ấn Độ phải chạy qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây ta chia ra làm hai ngành, một ở lại
bán đảo Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mêla-nê-diêng (Mélanésien), một thiên xuống
Nam Dương quần đảo -- Ở mạn Bắc, ta hòa giống với người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn minh
Trung Quốc. Ở mạn Nam giống Anhđô-nê-diêng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành, chịu văn
hóa Ấn Độ. Ngay ngành ở mạn Bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở Trung Châu sông Nhị Hà
và các miền duyên hải, nhờ có đất cát phì nhiêu lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà xúc tiếp
được với văn hóa Trung Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lần lên các vùng cao nguyên, sống
với rừng núi -- chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ được nền nếp cũ là các tổ chức
và thể chế phong kiến. Các người Mường hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của
chi phái này.
Ông Léonard Aurousseau, c ăn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt Nam thuộc dòng dõi người nước
Việt đời Xuân Thu tức là thuộc quyền Quốc vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ 6 trước Công
Lịch), đóng kinh đô ở thành Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 trước Công Lịch), nước
Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống miền Nam chia ra làm phái:
1) Đông Âu hay là Việt Đông Hải thuộc miền Ôn Châu (phía Nam tỉnh Chiết Giang).
2) Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu tức Phúc Kiến.
3) Nam Việt thuộc Quảng Đông và phía Bắc Quảng Tây.
4) Lạc Việt hay là Tây Âu Lạc ở phía Nam Quảng Tây. Và miền Bắc Việt của chúng ta bây giờ.
Chúng ta thuộc thị tộc nào?
Tác giả cuốn "Nguồn gốc dân tộc Việt Nam" như chúng tôi xét, cũng không đứng ngoài thuyết này.
Giao Chỉ và Việt Thường Theo s ự khảo cứu của ông Đào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu, Thuấn,
Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đương quanh quẩn ở lưu vực sông
Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì ở miền Nam trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông
Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người phương Bắc. Trong thư tịch của
người Trung Hoa, bọn người đó gọi là Man Di sống ở bên các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong
các rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chài lưới, săn bắn. Họ có tục đặc biệt là xâm mình và cắt tóc
ngắn; để giải thích phong tục đó người ta nói rằng người Man Di hằng ngày lặn lội dưới sông, biển
thường bị giống Giao Long làm hại nên xâm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là
vật cùng giống mà không giết hại.
từ đời Nghiêu Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với người Hán
tộc. Đem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở về miền Hồ Nam ngày nay, gần hồ Động
Đình và núi Nam Lĩnh.
Người Hán tộc gọi nhóm Man Di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xâm mình để thành hình
trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng chủng của giống Giao
Long. Quan niệm "Tô Tem" bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ có hình trạng Giao Long, thờ
Giao Long làm tổ nên gọi nơi họ ở là Giao Chỉ tức là miền đất của giống người Giao Long.
Một thuyết khác cho rằng người Giao Chỉ có tên này do hai ngón chân cái giao nhau. Theo hai Bác s ĩ
P. Huard và Bigot trong Bulletin de la Société Médico-chirurgicale de l'Indochine quyển XV, số 5
tháng 5, năm 1937 trang 489-506, dưới tiêu đề: "Les Giao Chỉ " thì việc người Giao Chỉ có hai ngón
chân cái giao nhau không đáng coi là một điều đặc biệt, tức là nhiều dân tộc khác ở Á Đông cũng có
hình tích này.
B ộ Từ Nguyên (quyển Tí, trang ...
 





