Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Việt Nam kho tàng dã sử

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:14' 19-04-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:14' 19-04-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
VIỆT NAM KHO TÀNG DÃ SỬ
Biên soạn : Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo
NXB Văn hóa Thông tin 2004
Khổ 14.5 x 20.5. Số trang : 935
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
CÓ MỘT KHO TÀNG DÃ SỬ VIỆT NAM
PH
CÁC NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN TIÊU BIỂU
CHUYỆN VỀ ĐỨC THÁNH TAM GIANG
CHUYỆN VUA ĐINH TIÊN HOÀNG
CHUYỆN VUA LÊ ĐẠI HÀNH
CHUYỆN VỀ VUA LÝ THÁI TỔ
LÀNG MỌC THỜ ĐẦU, LÀNG CẦU THỜ CHÂN, PHÁP VÂN THỜ KHÚC GIỮA
CHUYỆN GỐC GÁC VUA QUAN HỌ TRẦN
CHUYỆN VUA LÊ THÁNH TÔNG
PHẢI LÀ CON MẸ CON CHA
THÌ SINH RA ĐẤT DUYÊN HÀ THẦN KHÊ
CHUYỆN CHÚA CHỔM
CHUYỆN ĐÀO DUY TỪGỬI THƯCHO CHÚA TRỊNH
CHUYỆN ÔNG NGUYỄN QUÁN NHO
ĐÁNH GIẶC HỌ ĐINH LÀM QUAN HỌ ĐẶNG
MỘT NGÕ 4 THƯỢNG THƯ
MỘT LÀNG 19 ÔNG TIÊN SĨ!
BẢY LÀNG KẺ ĐÁM, TÁM LÀNG KẺ HE
KHÔNG ĐÁNH NỔI GIẶC QUÈ THANH TƯỚC
NGƯỜI NGHỆ AN, GAN THẠCH HÀ!
LẮM TIỀN ÔNG CHOÁC, LẮM BẠC ÔNG CHOAI
LẮM NỒI ĐỒNG QUAI LÀ ÔNG LÁI CẢNH
CHUYỆN VỀ VUA QUANG TRUNG
MỘT CÁCH TRỊ TỘI GIÁO DÂN THEO LỆNH TRIỀU ĐÌNH
NGƯỜI CON TRAI CỦA THẦY DẠY PHAN BÁ VÀNH
MƯỜI HAI MÂM LỄ VẬT
CHI CHI CHÀNH CHÀNH
HÒN KIM TRÔNG TỚI ĐÁ CHỒNG
CẢM THƯƠNG ÔNG QUẢN KHĂN HỒNG NĂM XƯA
THỨ NHẤT ANH CẢ TRUNG ĐỒNG
THỨ NHÌ ANH CÔNG KẺ THƯỢNG
THỨ BA ANH TƯỚNG PHÙ YÊN
THỨ TƯ QUAN THỌ LÀNG CHIỀN OAI PHONG
THỨ NHẤT ÔNG CAI - THỨ HAI ÔNG ĐỀ
AI VỀ ĐÔNG CHỮ
CHUYỆN TỨ HỔ Ở NGHỆ AN
MỜI CỌP LÀM LÝ TRƯỞNG
THÀNH HOÀNG... SỐNG
THƠ TỪ LÃO HÚNG, PHÚ QUÍ MỤ BÔNG
LỊCH SỰ CÔ HỒNG, KHÔN NGOAN CHÚ BƯỞI
NỰC CƯỜI HAI BẢY MƯỜI BA
TRỜI LÀM TRẬN GIÓ TÁM GÀ CHẾT THIÊU
DẠY CHIM DỰ TRẬN
DẠY CHÓ DIỆT THÙ
MƯỢN GÀ LÙNG GIẶC
NHỜ TRÂU PHÁ VÒNG VÂY
DÙNG GỖ PHÁ ĐỊCH
MÙ U CŨNG LẬP CHIẾN CÔNG!
MỘT SỐ BÀI VÈ THỜI PHONG KIẾN VÀ THỜI THUỘC PHÁP
PHẦN II
DÃ SỬ QUA CÁC ĐỊA DANH
GÒ THÁNH HÓA
NHỮNG CÁNH ĐỒNG MANG TÊN CHIẾN CÔNG
VƯỜN ĐÀO AO CÁ
SỰ TÍCH LÀNG CẦU KỆ, LÀNG KÉO LÊ
NÚI THÁP BÚT
VÁCH ĐÁ SÁP ONG
NGUỒN GỐC TÊN GỌI MƯỜNG LAY
VÌ SAO CÓ TÊN MƯỜNG PHĂNG?
SỰ TÍCH GÒ CON CÁ
SỰ TÍCH CẦU BƯƠU
HỒ TÂY VÀ HỒ TRÚC BẠCH
SỰ TÍCH ĐỐNG DẤM Ở THÔN ĐA SĨ
SỰ TÍCH LÀNG DỘC ỐC - YÊN PHÚC
CHƠI VỚI KẺ SỐM KHÔNG ỐM CŨNG QUÈ
BẢY LÀNG GÀ BA LÀNG HÓP KHÔNG BẰNG THẰNG CHÓP LÀNG CỔ DƯ
SỰ TÍCH RẠCH BÀ HÉT
SỰ TÍCH RẠCH BỎ LƯỢC
CẦU THỊ NGHÈ
SỰ TÍCH ĐỊA DANH MỎ CÀY
ĐỊA DANH CAO LÃNH
VÌ SAO CÓ TÊN TỈNH SA - ĐÉC?
SỰ TÍCH HÒN CAU VÀ HÒN TRẦU
SỰ TÍCH HÒN TRÁC, HÒN TÀI
PHẦN III
DÃ SỬ XUNG QUANH MỘT VÀI CUỘC KHỞI NGHĨA
DÃ SỬ VỀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN
DÃ SỬ VỀ KHỞI NGHĨA TÂY SƠN
CHƯƠNG IV
DÃ SỬ VỀ NHỮNG NGƯỜI THUỘC DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHU LIÊN
PHẠM VĂN
TRẦN QUÝ
MA HA MAY A
MỊ Ê
BA ÔNG CHÁU CHA CON ĐỀU LÀ PHÒ MÃ
THÂN CẢNH PHÚC, THIÊN THẦN ĐỘNG GIÁP (1077)
TÔNG ĐẢN
NÙNG TỒN PHÚC
NÙNG TRÍ VIỄN
NÙNG TRÍ CAO
A NỒNG
HOÀNG PHÁP
HOÀNG LỤC
CÔNG CHÚA DU CHÀNG (?)
DƯƠNG TỰ MINH
HÀ HƯNG TÔNG
BẢO THOÁT THỐC HOA
HÀ ĐẶC - HÀ CHƯƠNG
NGUYỄN THẾ LỘC
ĂM POI
LẠNG CHƯỢ
NANG XO
LÒ LẸT
CHẾ MÂN
VI PHÚC HÂN
NGUYỄN CẨM MIÊN
BẾ KHẮC THIỆU
HOÀNG ĐẠI HUỀ
CHEI CHETTA II
ĐỨC VUA QUÁN
PO ROMÉ
BẾ PHÙNG
CẦM ĂM CA
HOÀNG CÔNG CHẤT
MẠC THIÊN TÍCH
CẦM NHÂN QUÝ
BOK KI
YĂ ĐỐ
NGUYỄN VĂN TỒN
BẾ HỰU CUNG
LÊ VĂN KHÔI
NÔNG VĂN VÂN
QUÁCH TẤT CÔNG
CHÂN TRIẾT
LÂM SÂM
ĐỘI TIÊN PHONG CẨU PUNG
THANG TRƯỜNG HỢP
CHƯƠNG HAN
CẢ GIA ĐÌNH VÌ ĐẤT MƯỜNG LA
PÔ CUM PAO
ĐINH CÔNG YỂNG
HÀ VĂN MAO
CẦM BÁ THƯỚ
MÃ QUỐC ANH
KHUNJUNOB
AMA DƠ HAO
PƠ TAO PUI
TỔNG KHIÊM
SÙNG MI QUẢNG
GIANG TẢ CHAY
N' TRANG LƠNG
CÔN PÚA
NÔNG VĂN DỀN
PHẦN V
MỘT SỐ THẦN TÍCH
THẦN THÔNG, CƯƠNG NGHỊ, HÙNG CƯỜNG
LINH CÔNG, THỦY CÔNG, ĐÀO CÔNG
ĐÀO AN, ĐÀO Ý
HÀ DỰC, HÀ MINH
BẢY VỊ ĐẠI VƯƠNG
CAO NHA
LÝ ĐỨC, LÝ TĨNH
HÙNG ANH HÙNG DỰC
NGUYỄN TUẤN, NGUYÊN CHIÊU, NGUYỄN MINH
TRƯỞNG MINH, THỨ MINH, QUÝ MINH
LÝ LỖ, LÝ HUYÊN
TẢN VIÊN SƠN THÁNH VÀ NĂM VỊ NHÂN THẦN
THIÊN KHAI
NGUYỄN MINH
HÀN SÙNG, MỸ DUNG CÔNG CHÚA
PHẠM THIỆN, PHẠM QUANG
MINH ĐỨC, CHIÊU TRUNG
MINH L
NGỌC THỎ, ĐÔ HỔNG
NGUYỄN NGỌ
MINH LANG VÀ SÁT HẢI
NĂM ANH EM HỌ NGUYỄN
HÙNG HẢI, ĐỖ HUY
LÝ TIẾN
BỐN NÀNG HỒNG
DƯƠNG NƯỚC, DƯƠNG ĐINH
BẠCH NGỌC, LƯƠNG TU, NHA TAM NƯƠNG
NGUYỄN MINH, NGUYỄN TRỰC
NGUYỄN TRUNG
LÊ THỊ HOA
NÀNG CÔN
NÀNG NGA
NGỌ CÔNG VÀ NGA NƯƠNG
CHU LIÊN, ĐỖ THỊ DUNG, ĐỖ XUÂN QUANG
ĐINH TRIẾT, CUNG CAI NƯƠNG
NÀNG CỰC
TƯỚNG QUÂN HƯỚNG THIỆN
LÃ BẢO, NGUYỄN LANG
BÙI HỘ
TRẦN TIÊN QUÂN
LỮ GIA
TRIỆU QUANG PHỤC
NGUYỄN BẠCH LANG, NGUYỄN ĐƯƠNG LÂU, NGUYỄN QUÝ HIỂN
LÝ NAM ĐẾ
ĐINH LÃNG, ĐINH THỐNG, ĐINH MINH
CHIÊU TƯỚNG QUÂN VÀ CUNG PHI NGỌC NƯƠNG
TRẦN LẠC VÀ TRẦN L
LÝ PHỤC MAN
KIỀU CÔNG HÃN
ĐINH TIÊN HOÀNG
PHẠM BẠCH HỔ
LƯU LANG
VÕ TRUNG
LƯU CƠ
BA ANH EM HỌ LÝ
NGÔ NHẬT KHÁNH
ĐINH TƯ ĐỒ
LÊ HOÀN
LÊ LONG VIỆT
LIÊN HOA
TRẦN CÔNG MẪN
NGUYỄN SÙNG, NGUYỄN QUÁCH, NGUYỄN THIỆU
CẢNH KỲ, TIẾN SƠN
THIÊN HIỀN SỨ VƯƠNG
NGUYỄN PHẤN, NGUYỄN TRỌNG, NGUYỄN QUÝ
ĐINH ĐIỀN VÀ MÔI NƯƠNG
TÔ LỊCH
QUẢNG LỢI BẠCH MÃ
VỢ CHỒNG VŨ PHỤC
LÝ TỬ LONG
THẦN LONG ĐỖ
LÊ PHỤNG HIỂU
LÝ CÔNG UẨN
NHẬT QUANG VÀ QUỲNH HOA
Ỷ LAN PHU NHÂN
LÝ HOÀNG NGHỊ
HOÀNG LANG
NGỌC T
VÕ DANH HƯƠNG VÀ VÕ THỊ HUỆ
NHẠC CÔNG VÀ QUÁCH NƯƠNG
LƯƠNG ĐOẠN
HOÀNG ĐÌNH ĐỘ, HOÀNG ĐÌNH ÁI
NGUYỄN TUYÊN
PHỔ MINH - NGUYỄN TẨU - TAM LANG
CÔNG CHÚA CON VUA TRẦN THÁI TÔNG
HOÀNG TÔ
CÁC NỮ TƯỚNG HỌ ĐÀO
TRẦN SỸ , TRẦN CHÍNH, TRẦN AN, TRẦN HUỆ
BỐN ANH EM HỌ NGUYỄN
BÙI GIA LIỄU
TRẦN QUỐC TUẤN
HAI ÔNG HỌ MAI, HỌ NGUYỄN
PHẠM PHÚ
PHẠM HỒNG
HOÀNG MINH
LÝ THỊ CHÂU
ĐOÀN THƯỢNG
HOÀNG TỬ UY LINH LANG
ĐINH LÔI
TRẦN KHÁNH DƯ
TRẦN NHẬT DUẬT
NGUYỆT LÃNG, TRUNG QUỐC
NGUYỄN CUNG PHI
ĐẠO MINH, ĐẠO LINH, ĐẠO HIỂN
ĐÔNG KỲ
CAO CÁC
TRẦN QUÝ KHOÁNG
LÊ HIẾN GIẢN, LÊ HIẾN TỨ
NGUYỄN Đ
HOÀNG THÀNH
LÊ LỢI, LÊ THẬN
BẠCH THỤ VÀ HOÀNG QUYẾT
NGUYỄN PHỤC
SƠN LINH THẠCH THẦN
NGUYỄN HỒNG
THẦN CAO MINH
QUẬN CÔNG LÊ QUÝ
VŨ TUẤN CHIÊU
NGUYỄN TÔNG VĨ
LÊ QUẾ LINH
PHẠM KHẮC THÂN
NGUYỄN THÁI BẠT
PHẠM NGHỊ VÀ VI NƯƠNG
PHẠM NGHI, VÕ CHIẾU
CÔNG CHÚA QUYẾN HOA
PHẠM TỬ NGHI
LÝ PHONG
PHẠM HY NHẠN
CÓ MỘT KHO TÀNG DÃ SỬ VIỆT NAM
Theo sự hiểu biết hạn chế của chúng tôi, thì hình như trong giới sử học ở nước ta, chưa có ý kiến nhiều
lắm về vấn đề dã sử, mà những cuốn sách như Đào Khê dã sử lại cũng rất ít. Song thuật ngữ dã sử thì
lại khá thông dụng, gần như rất quen thuộc với mọi người.
Theo đúng nghĩa đen của nó: dã là chốn quê mùa, chốn đồng ruộng. Dã sử có thể hiểu lại chuyện sử
dân gian, do dân gian ghi chép lưu truyền chứ không phải do Nhà nước chủ trì, giao cho các sử quan
phụ trách. Nhà nước phải chép quốc sử, tài liệu ấy được gọi là chính sử. Chính sử có những phần
chính yếu gọi là cương, và những phần cụ thể, chi tiết hơn, gọi là mục. Quyển sử nước ta gọi là Thông
giám cương mục là vì như thế. Chính sử chỉ chép những điều được chế độ chấp nhận tuỳ theo từng
triều đại. Có nhiều sự kiện,ừng triều đại đánh giá khác nhau, có thể bỏ đi, không chép hoặc chép một
cách sơ lược và phê phán gay gắt, thiên lệch. Có nhân vật được tôn vinh, phải chép đầy đủ, nội dung
phong phú. Có nhân vật chỉ được ghi chép qua, để gọi là có mà thôi. Nhiều chuyện chép vào chính sử
là rất khách quan (nếu sử quan là người công bằng chính trực, không sợ quyền uy), nhưng nhiều chuyện
vẫn không phản ánh được hoàn toàn sự thực. Bên cạnh loại sử chính thức như cương mục, còn phải có
những bộ sách khác ghi đầy đủ, chi tiết hơn - phần lớn ghi chuyện các vua quan, các ông hoàng bà
chúa, hoặc những trận đánh lớn, những chiến dịch ghi được nhiều quân công. Người ta gọi những sách
này là những thực lục. Lục cũng có ít nhiều giá trị như sử, nhưng không phải là sử chính thức. Và đó
cũng là
những tài liệu quan phương, không phải do dân ghi chép.
Nhưng trong cuộc sống có biết bao nhiêu việc đã xảy ra, bao nhiêu nhân vật đã hành động, bao nhiêu
biến cố dâu bể thăng trầm. Các nhà làm sử dù là sử quan, sử thần (do vua cử ra) hay là sử gia (các trí
thức chuyên về môn sử học) dù tài giỏi, uyên bác đến đâu, cũng không thể ghi cho đầy đủ. Họ không
thể nào biết hết mọi chuyện. Ngay cả với những sự kiện trọng đại, họ cũng không thể nói thẳng ra, hoặc
vì quan niệm, vì kỷ luật bó buộc. Thí dụ như ai đã là cha của các ông vua Lê Hoàn, Lý Công Uẩn
..v.v... thì không thể biết (hoặc có biết mà không dám nói), họ đành quy là do mẹ các ông ấy đã được
giao hợp với Thần! Lại thí dụ như vua Lê Thánh Tông dù là một bậc minh quân, nhưng có thể là có
chuyện lăng nhăng này nọ. Không thể nói thẳng điều ấy sử quan đành ghi một nhận xét phê phán nhẹ
nhàng: "nữ yết thái thậm" (con gái hầu quá nhiều). Dân gian không bằng lòng với cách ghi chép này.
Dã sử sẽ cho thấy ông vua này có khá nhiều giai thoại...
Vậy là những sự kiện, những nhân vật lịch sử, ngoài những gì họ được chính thức ghi chép trong sách
vở của nhà nước, họ còn được dân gian ghi nhận. Chuyện của họ dù đúng hay sai, song tất nhiên phải
có cơ sở, phải có cái lõi sự thực nhất định, và được những người có chứng kiến, có nghe bình luận, có
ngấm ngầm ghi nhận và khẳng định đó là sự thật. Thế rồi họ sẽ lưu truyền cho nhau, kể một cách tự do
theo cảm quan hay do nhận thức của số đông. Những chuyện kể ra như vậy đã thành dã sử, hay nói một
cách khác là sử dân gian. Và tất nhiên, không phải chỉ có chuyện trong cung đình, mà còn có chuyện
của những người có tên tuổi, chuyện về những sự kiện quan trọng của các triều đại, các giai đoạn. Dã
sử có thể là chuyện sử của một người (cả người có tiếng tăm và người bình thường) của một làng, của
một dòng họ. Có thể những chuyện ấy có liên quan ít nhiều đến chính sử, nhưng cũng có thể chỉ là
chuyện riêng, tầm ảnh hưởng chỉ có trong phạm vi không gian và thời gian hạn hẹp, nhưng vẫn có một
giá trị sử liệu nhất định, vẫn tồn tại trong ký ức của nhiều người và nhiều thế hệ. Dã sử chỉ là những
câu chuyện riêng tư. Trong sách Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, có chua thêm cả chữ Pháp để chỉ
ra rằng dã sử là sử của tư gia (histoire privée). Như vậy là rất đúng.
Vì những câu chuyện dã sử đều được lưu hành bằng con đường truyền khẩu, phổ biến trong dân gian,
nên nếu không thận trọng sẽ dễ bị lầm với các thể loại khác, nhất là với các thể loại trong văn học dân
gian:
+ Dã sử là chuyện sử. Nói sử, người ta thường phải nhớ đến nhiều thời đại, đến cổ sử, cận sử và hiện
đại. Về cổ sử của dân tộc người dân ta đã có nhiều chuyện để tự hào. Thí dụ dân ta hay kể chuyện Con
Rồng Cháu Tiên. Cũng có liên quan đến sử, song đây lại không phải là dã sử mà là thần thoại. Đa số
các truyền thuyết, các cổ tích (nhất là cổ tích truyền kỳ) cũng không phải là dã sử. Song, cũng là thần,
mà nói đến các thần tích thì khác. Một số thần tích, thần phả có thể xem là dã sử. Chuyện các vị Thành
hoàng, các phúc thần ở các làng thì là dã sử hẳn hoi. Vì các vị này đều là những con người thực ở làng
ấy, làm nên lịch sử của làng, chứ không phải là người trong thần thoại.
+ Chuyện truyền thuyết vô cùng phong phú trong văn học dân gian nước ta, có truyện là dã sử, nhưng
nhiều chuyện lại không thuộc thể loại này. Thí dụ như những câu chuyện địa danh, nói về những núi
này, sông nọ. Yếu tố dã sử và truyền thuyết ở đây có thể nhận ra rất dễ dàng. Ở Hải Phòng có một làng
được đặt tên là làng Lưu Kiếm, vì có chuyện Trần Hưng Đạo để lại đây một thanh gươm khi ngài đi
đánh giặc Nguyên. Vậy chuyện địa danh này là một dã sử. Còn như ở Thái Nguyên, có núi Cốc sông
Công, và có chuyện kể về một đôi trai gái, đã lưu danh để cho người ta nhớ được mối tình chung thuỷ
của mình. Chuyện địa danh này là một cổ tích, chứ không phải là dã sử. Vào vùng quê Nam bộ, chuyện
cầu Thị Nghè là dã sử, nhưng chuyện núi Bà Đen lại là truyền thuyết.
+ Chuyện dã sử cũng thường bị lầm với các giai thoại. Vì thường các giai thoại đều là chuyện của
nhân vật này, sự kiện kia. Cũng có những nhân vật có liên quan nhiều ít đến lịch sử. Do đó phải chú
trọng đến nội dung. Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát có nhiều giai thoại văn chương, những mẩu chuyện này
của các ông là ở trong phạm vi văn học nhiều hơn trong phạm vi lịch sử, dù các ông đều có vai trò, có
địa vị trong sử sách. Giai thoại có ba loại: giai thoại lịch sử, đa số là dã sử, còn giai thoại văn học
và giai thoại folklore chỉ có liên quan ít nhiều, chứ chủ yếu không phải là dã sử.
+ Chúng ta còn có nhiều tập gia phả, nhiều sách địa chí. Đây chính là những dã sử hẳn hoi (theo đúng
chữ histoire privée mà Đào Duy Anh đã chú thích). Địa chí hay gia phả chủ yếu là chép chuyện riêng
biệt của một làng hay một họ, có thể chép được rất nhiều chuyện thật mà quốc sử không ghi chép được.
Cũng có những chuyện chưa biết có chính xác không, nhưng vẫn phải giữ gìn để có cơ hội đối chiếu và
tham khảo về sau. Tất nhiên, trong những gia phả và địa chí, có nhiều nội dung không liên quan đến dã
sử. Nhiều làng, nhiều dòng họường ghép cho gia tộc và cho địa phương mình những chuyện hoang
đường với dụng ý tôn vinh, không rõ sự thực đến đâu. Nhiều sự tích về các ruộng đồng, núi non, sản
nghiệp, phong tục, nhiều bản phả hệ công phu, nhưng gắn bó với lịch sử đất nước thì không rõ nét lắm.
Tìm các chi tiết dã sử trong địa chí và phả tộc có thể gặp nhiều tư liệu quý, nhưng lại phải chú ý chọn
lọc chứ không phải xô bồ.
Đại khái ta có thể hiểu vấn đề dã sử là như vậy. Nhưng thể loại này cần được quan tâm ở nhiều mặt
khác. Có thể tạm thời lướt qua mấy điều sơ bộ như sau:
+ Dã sử có đáng tin không? Dã sử kể những chuyện thực hay là không thực? Điều này rất khó nói, mà
phải đi vào từng trường hợp cụ thể để suy nghĩ và đoán định. Thí dụ như câu chuyện Chúa Chổm ở
nước ta. Có thực lịch sử đã có ông vua Lê Duy Bang (hay Lê Ninh) nào đó, đã là con nợ của nhiều
người, gây nên những chuyện buồn cười như ta đã biết. Không lấy gì làm chắc, nhưng rất khó bác bỏ.
Quốc sử không ghi, nhưng nhân dân bao đời nay đã thừa nhận, và câu thành ngữ: Nợ như Chúa Chổm
vẫn rất quen thuộc, và cái phố Cấm Chỉ ở Hà Nội vẫn còn đó để mãi mãi câu chuyện không thể mờ đi
trong trí nhớ mọi người. Tôi xin mách thêm với bạn đọc rằng, những ngày đi sưu tầm sử liệu ở miền
núi Thanh Hoá, tại các vùng như Mường Khô, Mường Kloòng (huyện Bá Thước) tôi cũng được nghe
các cụ người Mường người Thái nới về vua Chổm. Tôi không tin, nhưng không có lập luận nào để phủ
định. Lại còn có chuyện không biết làm sao mà kết luận, như câu chuyện của quận mã Đặng Lân, em
trai bà chúa chè Đặng Thị Huệ. Sử sách ghi rõ là chúa Trịnh Sâm đã phải thi hành án, bắt Đặng Lân
đày đi xa. Cuộc ra đi của Đặng Lân lại có cờ quạt, đàn sáo tưng bừng đầy đủ nghi vệ giành cho một vị
hoàng thân quốc thích. Trái lại, dã sử kể rằng Đặng Lân đã bị viên quan Hộ thành chém chết. Bà Chúa
Chè đã khóc lóc bắt Trịnh Sâm phải trị tội kẻ giết em bà. Nhưng Trịnh Sâm không dám làm, mà tha tội
cho viên quan công bằng chính trực. Hình như chuyện này mới là thực, vì còn lại câu thành ngữ:
"Quan Hộ được tha, vương gia muôn tuổi", Nguyễn Huy Tưởng đã khai thác để chép vào tiểu thuyết
Đêm Hội Long Trì. Thế nhưng, lại có người bảo với tôi, đó là chuyện Nguyễn Huy Tưởng sáng tác ra
mà thôi! Thật không biết làm sao mà xác định. Nhưng dẫu có phải lưỡng lự, vẫn phải công nhận là dã
sử đã làm phong phú thêm cho lịch sử nước nhà. Tin hay không tin là do quyền đoán định của chúng ta.
Mà rõ ràng dã sử là loại tài liệu có ích và cần thiết cho chúng ta nghiên cứu.
*
* *
Như vậy thì nội dung dã sử gồm những gì? Đó là những tư liệu đã được lưu truyền trong nhân dân,
trong thôn xóm. Có thể đó chỉ là những lời đồn đại nhưng không có tính cách nhất thời, mà lại có một
giá trị lâu dài, đã bám vào lịch sử và cùng được nhìn nhận như tài liệu lịch sử, không chính thống mà
vẫn ít nhiều có khả năng chinh phục. Nó cũng có thể được ghi chép trong sách vở, các tài liệu không
chính thức của Nhà nước, của một địa phương hay của một tác gia. Chuyện ở những tài liệu này không
có vị trí như các sử liệu đích thực, nhưng vẫn có giá trị riêng, có thể bổ sung cho quốc sử. Rất có khả
năng (loại tư liệu này là có ích, là rất quan trọng, cần thiết cho việc nghiên cứu. Có thể lấy một ví dụ
để minh hoạ cho tình hình chung. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chẳng hạn, ta biết Lê Lợi khởi nghĩa là nhờ
có thanh gươm do Nguyễn Thận vớt được trên dòng sông Sũ, bến đò Mục. Sau đó, tất nhiên là Nguyễn
Thận được cùng Lê Lợi chiến đấu, để có tên trong danh sách khai quốc công thần. Nhưng tất cả các
sách Toàn thư, Thực lục cũng chỉ cho biết thông tin như vậy mà không nói rõ thêm. Lại phải tìm trong
các dã sử, xem các sách địa chí, mới biết rằng Nguyễn Thận đã ra Bắc, lấy vợ ở Hưng Yên và trở
thành Thành hoàng của một làng ngoài đó. Nhiều khi, ngay những câu chuyện truyền văn cũng đem lại
cho chúng ta những hoài nghi, phải bỏ công đối chiếu điều tra, mà vẫn không xác minh được, đành
theo sử sách, nhưng vẫn có chút lạc quan trong hoài niệm mơ hồ. Tài liệu của Pháp, cũng như của ta,
đều nói rằng Hoàng Hoa Thám trong bước đường cùng đã bị phản bội, bị thủ hạ của bọn Lương Tam
Kỳ giết chết nộp cho địch. Người Pháp cũng chưa tin lắm, nên đã cho bêu đầu ông mấy ngày ở Nhã
Nam cho mọi người lần lượt xác minh, thừa nhận Đề Thám đã bị giết. Nhưng dã sử không tin như thế.
Phan Trần Chúc tin theo dã sử đã chép rằng: mấy năm sau, tại một làng quê miền núi Bắc bộ, một ông
già yên ổn nhắm mắt: ông già ấy là Hoàng Hoa Thám (sách Ba Đình). Chẳng biết sự thực như thế nào,
nhưng tài liệu này quả thật làm cho chúng ta bớt nỗi đau buồn khi được tin Đề Thám thất bại.
Vậy là ta có thể nhận ra được nội dung của dã sử:
+ Những chuyện đời tư, việc tư của các vua quan, các tướng tá, các nhân vật có tên tuổi trong lịch sử,
trong văn chương nước nhà mà sử không ghi chép được hoặc có ghi chép mà bị bỏ sót hay quên đi.
Những chuyện lặt vặt này cũng có người đã phải quan tâm đến và gọi là những dật sự (dật là chuyện
lặt vặt, lẻ tẻ, kín đáo, phải biết thu nhặt lại). Dật sự không hẳn là dã sử, nhưng dã sử thì chứa rất nhiều
dật sự.
+ Những chuyện về các địa phương. Loại chuyện thường được chép nhiều trong các sách địa chí. Có
chuyện về người, có chuyện về các địa điểm, nhưng cần chú ý nó chỉ liên quan khi có quan hệ đến các
vấn đề lịch sử mà thôi. Địa chí thường chép cả những sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt xã hội, các phong
tục tập quán, các hương ước, sự lễ, có vấn đề là lịch sử, có vấn đề thuộc những ngành chuyên môn
khác như địa lý học, phong tục học, v.v.. Riêng về những chuyện địa danh, cần chú ý chỉ những địa
điểm do con người tạo ra, hay con người có can thiệp vào mới gọi là dã sử, còn những địa danh được
xem là có nguồn gốc thiên nhiên, thì>
+ Các tập gia phả cũng là tài liệu dã sử phong phú. Nhiều nhân vật trong các dòng họ đã có công tích,
có sự nghiệp đáng trân trọng nhưng sử sách không chép được. Vậy phải có gia phả để bù vào. Gia phả
chính là dã sử (là chuyện tư gia - histoire privée). Tất nhiên phải dè chừng nhiều sử liệu trong các gia
phả thường không được khách quan cho lắm. Có nhân vật có vấn đề với lịch sử, con cháu của họ khi
chép đến, đã tìm cách giới thiệu cho vấn đề nhẹ đi, có khi lại biến cải theo một cách khác. Có những
tiểu sử hay hành trạng của nhiều người khác quê quán, khác thời đại, mà vẫn được chép tương tự như
nhau, nhất là những vấn đề mang tính cách giai thoại. Nghiên cứu các nhân vật được tôn vinh ở các
giai thoại ta thường gặp tình trạng này. Bài thơ Vịnh con trai để biểu dương ý chí anh hùng, nơi này
người ta cho tác giả là Trần Nguyên Hãn (đời nhà Trần), nơi kia lại bảo là của Phùng Khắc Khoan. Do
đó mà sử dụng dã sử như một sử liệu là điều phải rất nên thận trọng.
+ Dã sử là chuyện về người, và cũng là chuyện về các sự kiện lịch sử. Có thể hiểu khái niệm sự kiện
lịch sử một cách rộng rãi. Có những chuyện ngoại giao, chuyện xử kiện, chuyện tranh chấp nội bộ
trong cung đình, đền miếu, trấn thành, phủ huyện v.v... Và còn có cả những chuyện tình sử nữa. Đặc
biệt có nhiều sự kiện vốn là phải được giữ kín (như loại cung đình bí sử) nhưng không biết vì sao mà
cứ được đồn đại ra ngoài, và được lưu truyền mãi mãi. Người bình dân vốn hay tò mò, nghe những
chuyện như thế họ thường lưu ý, rồi kể lại, cứ mỗi lần kể là mỗi lần uốn nắn, thậm chí là xuyên tạc,
càng xuyên tạc thì lại càng được thích thú lan truyền. Chắc chắn nhiều chuyện thuộc loại này đã bị thêu
dệt, thậm chí bị hư cấu do nhiều nguyên nhân. Dù sao thì cũng là chứng tích về một cách nhìn nhận hay
đánh giá về người, về việc. Nó là một dạng sử bình tuỳ theo mức độ và phương pháp. Do vậy, nó có
thể đáng tin, mà cũng không đáng tin. Nhưng vẫn không loại trừ ở nhiều trường hợp, dã sử là tài liệu
có ích.
Có thể tìm hiểu cả vấn đề phương pháp của dã sử không? Chắc là được. Dã sử không do một người
nào ghi chép mà chỉ là tác phẩm khuyết danh, đa biện pháp và đa tác giả. Nó cũng là một tác phẩm văn
học dân gian (hay sử dân gian). Ta có thể tìm hiểu được thi pháp ca dao, thi pháp cổ tích, v. v... thì tại
sao lại không tìm được thi pháp của dã sử. Có thể thấy dã sử là tác phẩm đa dạng (có phần truyền
khẩu và có phần được ghi chép). Dã sử rất biết tôn trọng phương pháp ghi chép chính quy, tuân theo lề
lối biên chép, tuân theo ảnh hưởng của thời đại, của pháp luật, nhưng vẫn giữ được tính cách độc lập
của mình. Tính cách độc lập thể hiện ở sự nhất trí tôn vinh quê hương, tiên tổ, để cố gắng làm sao giữ
gìn được đúng truyền thống của nước nhà, làng xóm, họ hàng của mình. Sự khai thác các biện pháp thể
hiện của dã sử cũng là đa dạng: có thể theo phương pháp. Viết liệt truyện, viết sự tích, có thể vận dụng
cả biện pháp của những thần thoại, cổ tích, giai thoại vào để cho những sự kiện trong dã sử có màu
sắc, có khả năng hấp dẫn nhiều hơn. Tin hay không tin đó là quyền của người đọc, nhưng dã sử đã vì
đó mà trở nên hấp dẫn và sinh động.
Trong phương pháp thể hiện của dã sử, có một vấn đề quan trọng mà dã sử đã đóng góp cho nền văn
hoá dân gian của dân tộc, ấy là sự ra đời của các bài vè. Vè chính là tài liệu dã sử đích thực. Văn học
dân gian đã nói đến các bài vè và xem đó là một thể loại trong kho tàng dân ca. Nhưng giới nghiên cứu
sử học thì phải nhận thêm rằng đó chính là kho tàng sử liệu. Vè là những tài liệu khẩu báo, ghi chép
các sự kiện đã diễn ra trong đất nước này, cả trong phạm vi rộng và hẹp. Một sự việc xảy ra trong một
làng, một xóm là có ngay một bài đề ghi nhận sự kiện lịch sử của địa phương ấy. Một biến cố lớn lao
của đất nước, sử sách không ghi chép được đầy đủ chi tiết, thì đã có các bài vè làm hộ công việc này.
Chính tác giả các bài vè đã cho ta rõ những sự kiện lớn lao mà trong lúc đương thời dám ghi chép.
Một cuộc khởi nghĩa như khởi nghĩa của Đề Thám, người Tây chép theo quan điểm của kẻ thực dân
xâm lược, báo chí có thể đưa tin như các tin tức hàng ngày, các sử sách dù là của những tác giả tự do
cũng không sao dám ghi chép, vì ghi chép cho đúng thì chắc chắn là phải bị tù, hoặc sách sẽ bị cấm
không cho lưu hành. Phải để các sử gia dân gian làm công việc này. Họ sẽ chép lại sự kiện này bằng
hàng chục bài vè khác nhau. (Tôi mới tìm được có trên mười bài, không rõ có còn nữa không). Những
bài vè như thế đúng là dã sử.
Có những bài vè không phải chỉ dùng bút pháp dân dã như loại vè Đề Thám, vè Nguyễn Xuân Ôn, vè
Phan Đình Phùng, vè Phan Bội Châu, mà lại được nâng lên thành những truyện thơ hẳn hoi. Rõ ràng
là sự phát triển của thi pháp dã sử. Dưới triều nhà Nguyễn, những gì nói về Tây Sơn đều bị cấm đoán.
Nhưng đã có tác giả viết ra những cuốn nói về các danh tướng Tây Sơn như Tây Sơn tiềm long lục,
hoặc nói về tiểu sử, hành trạng của
nữ tướng Bùi Thị Xuân như Cân quắc anh hùng truyện. Các tác giả những sách ấy đều là những nhà
nho tâm huyết, tác phẩm của họ đáng là những tác phẩm thuộc văn chương bác học (theo cách phân
chia trước đây). Nhưng lịch sử đã buộc họ phải trở thành những tác giả dân gian. Tác phẩm của họ
phải dấu diếm, phải lén lút, ngay lúc ấy, không được công bố đàng hoàng. Vậy họ là tác giả dân gian,
và sách của họ là tài liệu dã sử.
Cũng thuộc vào nhóm tư liệu này, tôi nghĩ rằng nên kể vào đây những câu ca dao, hoặc những khúc dân
ca có liên quan với lịch sử. Nghe một câu hát như:
Một nhà sinh được ba vua
Vua sống vua chết vua thua chạy dài.
Chắc ai cũng phải thấy đó là câu ca dao lịch sử nói về ba ông vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm
Nghi. Nhưng chỉ có dân chúng mới có cách nói như vậy. Văn chương chính quy của nhà n không bao
giờ kể chuyện mà gọi các nhà vua một cách bất kính. Đó chỉ có thể là cách ăn nói của dân. Và như thế
là dã sử. Lại còn một câu hát đối đáp:
Em đố anh từ Nam chí Bắc
Sông nào là sông sâu nhất
Núi nào là núi cao nhất ở nước ta
Anh mà giảng được cho ra
Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh.
Đáp:
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
Ai dám cho rằng câu ca dao này không phải là ca dao lịch sử. Mà lịch sử đây lại là lịch sử được tóm
tắt, được hệ thống và được chọn lọc một cách tài tình. Không đi vào chi tiết, nhưng lại có chi tiết rất
tiêu biểu, rất thơ mộng. Thi pháp chính là ở đây. Phải yêu lịch sử, hiểu lịch sử lắm mới có thể nói
được như vậy. Từ một thí dụ cụ thể này, có thể theo dõi nhiều hiện tượng khác đã được dã sử phản
ánh, để nhìn nhận biện pháp thể hiện của loại hình này. Hy vọng sẽ có dịp chúng ta đi vào một chuyên
đề khảo luận đầy đủ và nghiêm túc hơn.
Quan niệm như vậy, ta thấy rõ dã sử là vô cùng dồi dào, phong phú. Nước ta có lịch sử bốn nghìn
năm, nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới bắt đầu chép sử. Ba ngàn năm trước đã có bao nhiêu sự kiện xảy
ra, nhưng tiếc rằng ta không còn lưu giữ được một chi tiết nào (ngoài những truyền thuyết). Rồi trong
thời trung đại, cận đại và ngay thời kỳ hiện đại bây giờ, cũng có bao nhiêu là chuyện mà sách vở không
thể chính thức ghi chép, nhưng người dân đều biết cả. Chuyện không lấy gì làm chính xác hay chắc
chắn, song cứ vẫn được lưu truyền từ người này sang người khác, mà không ai dám công bố hay dám
tự ý in ra. Tất cả đều là dã sử cả đấy, vì trong số đó, có thể sẽ có nhiều chuyện có thể là sử liệu chính
thức, sẽ được công nhận vào một thời gian thích hợp nào đấy. Gọi đây là một kho tàng, quả là chính
xác. Chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều người chung sức để làm được bộ kho tàng vĩ đại này. Những cuốn
xã chí, hương biên hay tỉnh chí, những sách giai thoại, dật sự, v.v... đang được lần lượt ra đời đều
thuộc kho tàng này cả. Có một bộ kho tàng như vậy, mới biết được thực sự đất nước mình đã vận hành,
đã phát triển đa phương, đa hình, đa diện ra sao. Có nhiều tập như thế, mới làm được một bộ toàn thư
xứng đáng với tên gọi ấy. Còn bây giờ, cuốn sách này của chúng tôi chỉ có mục đích là gợi ý, là một
kinh nghiệm thử thách mà thôi. Chúng tôi tạm xếp các mẩu chuyện vào năm phần sơ lược:
1. Dã sử về các nhân vật và sự kiện qua nhiều thế kỷ, từ những thời Đinh Lê Lý Trần Lê cho đến thời
Pháp thuộc. Phần này phải là rất đồ sộ, nhưng cũng chỉ có thể nhắc qua một số việc (không phân loại,
không kê cứu), chỉ cốt làm quen với dã sử mà thôi.
2. Dã sử qua các địa danh: chỉ có mục đích gợi ý bằng vài chuyện tiêu biểu, chứ địa danh trong cả
nước thì làm sao ghi hết được.
3. Dã sử chung quanh một vài cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa trong lử ta có nhiều, mỗi cuộc khởi nghĩa
là cả một kho chuyện. Tôi tin rằng bạn đọc có thể liên hệ để kể thêm nhiều dã sử về loại này mà các
bạn biết rõ hơn chúng tôi nhiều.
4. Dã sử về các nhân vật thuộc dân tộc thiểu số. Chúng tôi mạnh dạn đưa ra mục này. Nước ta gồm
nhiều dân tộc, và tất cả các dân tộc đã xuất xứ ra sao, và thời gian sống trên đất nước dài ngắn như thế
nào, cũng đều có công làm ra lịch sử Việt Nam. Chính sử của Nhà nước thường không chép đến họ, dù
chính họ làm nên những bản mường, làm giàu cho lịch sử Việt. Tất nhiên, nói đến họ là rất khó khăn.
Người Mường, người Thái, người Tây Nguyên có hay không có chữ viết, khó lòng tra cứu. Những
sách như Tài pú xấu, Quăm tô Mương còn ít được biết đến. Song sự tích của họ đúng là dã sử Việt
Nam, ta phải công bằng mà đề cập đến.
5. Cuối cùng, cũng để cho vấn đề thời đại được trọn vẹn, xin kèm thêm một ít thần phả, thần tích. Loại
này chúng tôi đã giới thiệu nhiều lần trên các bộ sách về Thành Hoàng. Ở đây chỉ xin trích lại một ít
mà thôi.
TM nhóm biên soạn
VŨ NGỌC KHÁNH
Phần I CÁC NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN TIÊU
BIỂU
CHUYỆN VỀ ĐỨC THÁNH TAM GIANG
Đức Thánh Tam Giang là Trương Hống và Trương Hát, hai vị tướng sau thành thần. Hai anh em làm
tướng của Triệu Quang Phục, đánh thắng giặc Lương. Triệu Quang Phục mất, hai ông không chịu theo
Lý Mật Tử, mà chết thành thần. Sau hiển linh phù trợ nhiều cuộc chiến đấu. Bài thơ Nam quốc sơn hà
của Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, được xem là tác phẩm của hai ông cho ngâm trên sông Như
Nguyệt. Còn câu thành ngữ trên đây là chỉ vào sự tích của bà mẹ hai ông.
Những tên riêng: Cầu Trông - Cửu Cữu là chỉ vào xứ đồng, nay thuộc làng Vân Mẫu, xã Văn Dương,
huyện Quế Võ (Bắc Ninh). Có người phụ nữ ở làng Vân Mẫu, mới 18 tuổi đi tắm ở bến Phả Lại, bị
rồng thần quấn, về có mang 14 tháng. Năm Nhâm Ngọ (522) sinh được 4 con đặt tên là Lừng, Lẫy,
Hống, Hách (sau đọc thành Hát).>
Gọi là Cầu Trông, là vì đây là nơi bà sinh con, nằm chờ cho cả bốn đứa con lần lượt chào đời. Có
giọt máu của bà rơi chảy dưới đất, sau hoá thành con đường. Còn đồng Cửu Cữu là cái tên chỉ vào một
bãi rộng, thường có nhiều lũ quỷ đến quấy phá. Khi bà mất, cả bốn anh em Trương Hống đã phải vật
nhau với quỷ để khiêng được linh cữu của mẹ. Bà mẹ đã trở thành một vị thánh mẫu được nhân dân tôn
thờ, gọi là đức thánh Từ Nhan.
Cùng với sáu chữ trong thành ngữ trên đây, sau này người dân còn ghép thêm ba chữ nữa. Gò Cầu
Trông, đồng Cửu Cữu, đống Phất cờ mới là đầy đủ. Đống Phất cờ cũng ở quanh khu vực này, là nơi
mà Trương Hống, Trương Hát đã tập hợp nghĩa quân, rồi dùng làm cứ điểm thống thuộc dưới sự chỉ
huy của Triệu Quang Phục.
CHUYỆN VUA ĐINH TIÊN HOÀNG
Ông Đinh Công Trứ phụ thân của Đinh Bộ Lĩnh là tướng của Dương Diên Nghệ, được giao làm thứ sử
Hoan Châu mất sớm. Bà mẹ từ trước đã không theo chồng vào phía nam, mà ở lại sống trong cảnh
nghèo nàn ũ tại quê nhà ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
Cả một thời gian dài mò cua bắt ốc giúp mẹ, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh đã phải đến ở nhờ người chú là
Đinh Thúc Dự tại sách Bông. Chú giao cho đi chăn trâu, cắt cỏ, do đó mà chơi thân với lũ trẻ trong
làng. Cậu bé láu lỉnh thông minh đã bày ra nhiều trò chơi khá độc đáo. Lúc bấy giờ bốn phương loạn
lạc, các ông thổ hào ở các vùng đều mong mở mang cơ nghiệp, tranh bá đồ vương, nên chuyên dùng
gươm giáo để đọ sức nhau, đem quân đi gây chiến nơi này nơi khác. Các cảnh tượng ấy đập vào mắt
cậu bé, làm cho cậu nhiều lần ước mơ một cuộc tranh đua! Cậu tưởng tượng một ngày kia, mình cũng
có thể uy nghi trên ngựa, múa gươm, trổ tài với thiên hạ. Chưa đến ngày đó, thì ngay b...
Biên soạn : Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo
NXB Văn hóa Thông tin 2004
Khổ 14.5 x 20.5. Số trang : 935
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
CÓ MỘT KHO TÀNG DÃ SỬ VIỆT NAM
PH
CÁC NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN TIÊU BIỂU
CHUYỆN VỀ ĐỨC THÁNH TAM GIANG
CHUYỆN VUA ĐINH TIÊN HOÀNG
CHUYỆN VUA LÊ ĐẠI HÀNH
CHUYỆN VỀ VUA LÝ THÁI TỔ
LÀNG MỌC THỜ ĐẦU, LÀNG CẦU THỜ CHÂN, PHÁP VÂN THỜ KHÚC GIỮA
CHUYỆN GỐC GÁC VUA QUAN HỌ TRẦN
CHUYỆN VUA LÊ THÁNH TÔNG
PHẢI LÀ CON MẸ CON CHA
THÌ SINH RA ĐẤT DUYÊN HÀ THẦN KHÊ
CHUYỆN CHÚA CHỔM
CHUYỆN ĐÀO DUY TỪGỬI THƯCHO CHÚA TRỊNH
CHUYỆN ÔNG NGUYỄN QUÁN NHO
ĐÁNH GIẶC HỌ ĐINH LÀM QUAN HỌ ĐẶNG
MỘT NGÕ 4 THƯỢNG THƯ
MỘT LÀNG 19 ÔNG TIÊN SĨ!
BẢY LÀNG KẺ ĐÁM, TÁM LÀNG KẺ HE
KHÔNG ĐÁNH NỔI GIẶC QUÈ THANH TƯỚC
NGƯỜI NGHỆ AN, GAN THẠCH HÀ!
LẮM TIỀN ÔNG CHOÁC, LẮM BẠC ÔNG CHOAI
LẮM NỒI ĐỒNG QUAI LÀ ÔNG LÁI CẢNH
CHUYỆN VỀ VUA QUANG TRUNG
MỘT CÁCH TRỊ TỘI GIÁO DÂN THEO LỆNH TRIỀU ĐÌNH
NGƯỜI CON TRAI CỦA THẦY DẠY PHAN BÁ VÀNH
MƯỜI HAI MÂM LỄ VẬT
CHI CHI CHÀNH CHÀNH
HÒN KIM TRÔNG TỚI ĐÁ CHỒNG
CẢM THƯƠNG ÔNG QUẢN KHĂN HỒNG NĂM XƯA
THỨ NHẤT ANH CẢ TRUNG ĐỒNG
THỨ NHÌ ANH CÔNG KẺ THƯỢNG
THỨ BA ANH TƯỚNG PHÙ YÊN
THỨ TƯ QUAN THỌ LÀNG CHIỀN OAI PHONG
THỨ NHẤT ÔNG CAI - THỨ HAI ÔNG ĐỀ
AI VỀ ĐÔNG CHỮ
CHUYỆN TỨ HỔ Ở NGHỆ AN
MỜI CỌP LÀM LÝ TRƯỞNG
THÀNH HOÀNG... SỐNG
THƠ TỪ LÃO HÚNG, PHÚ QUÍ MỤ BÔNG
LỊCH SỰ CÔ HỒNG, KHÔN NGOAN CHÚ BƯỞI
NỰC CƯỜI HAI BẢY MƯỜI BA
TRỜI LÀM TRẬN GIÓ TÁM GÀ CHẾT THIÊU
DẠY CHIM DỰ TRẬN
DẠY CHÓ DIỆT THÙ
MƯỢN GÀ LÙNG GIẶC
NHỜ TRÂU PHÁ VÒNG VÂY
DÙNG GỖ PHÁ ĐỊCH
MÙ U CŨNG LẬP CHIẾN CÔNG!
MỘT SỐ BÀI VÈ THỜI PHONG KIẾN VÀ THỜI THUỘC PHÁP
PHẦN II
DÃ SỬ QUA CÁC ĐỊA DANH
GÒ THÁNH HÓA
NHỮNG CÁNH ĐỒNG MANG TÊN CHIẾN CÔNG
VƯỜN ĐÀO AO CÁ
SỰ TÍCH LÀNG CẦU KỆ, LÀNG KÉO LÊ
NÚI THÁP BÚT
VÁCH ĐÁ SÁP ONG
NGUỒN GỐC TÊN GỌI MƯỜNG LAY
VÌ SAO CÓ TÊN MƯỜNG PHĂNG?
SỰ TÍCH GÒ CON CÁ
SỰ TÍCH CẦU BƯƠU
HỒ TÂY VÀ HỒ TRÚC BẠCH
SỰ TÍCH ĐỐNG DẤM Ở THÔN ĐA SĨ
SỰ TÍCH LÀNG DỘC ỐC - YÊN PHÚC
CHƠI VỚI KẺ SỐM KHÔNG ỐM CŨNG QUÈ
BẢY LÀNG GÀ BA LÀNG HÓP KHÔNG BẰNG THẰNG CHÓP LÀNG CỔ DƯ
SỰ TÍCH RẠCH BÀ HÉT
SỰ TÍCH RẠCH BỎ LƯỢC
CẦU THỊ NGHÈ
SỰ TÍCH ĐỊA DANH MỎ CÀY
ĐỊA DANH CAO LÃNH
VÌ SAO CÓ TÊN TỈNH SA - ĐÉC?
SỰ TÍCH HÒN CAU VÀ HÒN TRẦU
SỰ TÍCH HÒN TRÁC, HÒN TÀI
PHẦN III
DÃ SỬ XUNG QUANH MỘT VÀI CUỘC KHỞI NGHĨA
DÃ SỬ VỀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN
DÃ SỬ VỀ KHỞI NGHĨA TÂY SƠN
CHƯƠNG IV
DÃ SỬ VỀ NHỮNG NGƯỜI THUỘC DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHU LIÊN
PHẠM VĂN
TRẦN QUÝ
MA HA MAY A
MỊ Ê
BA ÔNG CHÁU CHA CON ĐỀU LÀ PHÒ MÃ
THÂN CẢNH PHÚC, THIÊN THẦN ĐỘNG GIÁP (1077)
TÔNG ĐẢN
NÙNG TỒN PHÚC
NÙNG TRÍ VIỄN
NÙNG TRÍ CAO
A NỒNG
HOÀNG PHÁP
HOÀNG LỤC
CÔNG CHÚA DU CHÀNG (?)
DƯƠNG TỰ MINH
HÀ HƯNG TÔNG
BẢO THOÁT THỐC HOA
HÀ ĐẶC - HÀ CHƯƠNG
NGUYỄN THẾ LỘC
ĂM POI
LẠNG CHƯỢ
NANG XO
LÒ LẸT
CHẾ MÂN
VI PHÚC HÂN
NGUYỄN CẨM MIÊN
BẾ KHẮC THIỆU
HOÀNG ĐẠI HUỀ
CHEI CHETTA II
ĐỨC VUA QUÁN
PO ROMÉ
BẾ PHÙNG
CẦM ĂM CA
HOÀNG CÔNG CHẤT
MẠC THIÊN TÍCH
CẦM NHÂN QUÝ
BOK KI
YĂ ĐỐ
NGUYỄN VĂN TỒN
BẾ HỰU CUNG
LÊ VĂN KHÔI
NÔNG VĂN VÂN
QUÁCH TẤT CÔNG
CHÂN TRIẾT
LÂM SÂM
ĐỘI TIÊN PHONG CẨU PUNG
THANG TRƯỜNG HỢP
CHƯƠNG HAN
CẢ GIA ĐÌNH VÌ ĐẤT MƯỜNG LA
PÔ CUM PAO
ĐINH CÔNG YỂNG
HÀ VĂN MAO
CẦM BÁ THƯỚ
MÃ QUỐC ANH
KHUNJUNOB
AMA DƠ HAO
PƠ TAO PUI
TỔNG KHIÊM
SÙNG MI QUẢNG
GIANG TẢ CHAY
N' TRANG LƠNG
CÔN PÚA
NÔNG VĂN DỀN
PHẦN V
MỘT SỐ THẦN TÍCH
THẦN THÔNG, CƯƠNG NGHỊ, HÙNG CƯỜNG
LINH CÔNG, THỦY CÔNG, ĐÀO CÔNG
ĐÀO AN, ĐÀO Ý
HÀ DỰC, HÀ MINH
BẢY VỊ ĐẠI VƯƠNG
CAO NHA
LÝ ĐỨC, LÝ TĨNH
HÙNG ANH HÙNG DỰC
NGUYỄN TUẤN, NGUYÊN CHIÊU, NGUYỄN MINH
TRƯỞNG MINH, THỨ MINH, QUÝ MINH
LÝ LỖ, LÝ HUYÊN
TẢN VIÊN SƠN THÁNH VÀ NĂM VỊ NHÂN THẦN
THIÊN KHAI
NGUYỄN MINH
HÀN SÙNG, MỸ DUNG CÔNG CHÚA
PHẠM THIỆN, PHẠM QUANG
MINH ĐỨC, CHIÊU TRUNG
MINH L
NGỌC THỎ, ĐÔ HỔNG
NGUYỄN NGỌ
MINH LANG VÀ SÁT HẢI
NĂM ANH EM HỌ NGUYỄN
HÙNG HẢI, ĐỖ HUY
LÝ TIẾN
BỐN NÀNG HỒNG
DƯƠNG NƯỚC, DƯƠNG ĐINH
BẠCH NGỌC, LƯƠNG TU, NHA TAM NƯƠNG
NGUYỄN MINH, NGUYỄN TRỰC
NGUYỄN TRUNG
LÊ THỊ HOA
NÀNG CÔN
NÀNG NGA
NGỌ CÔNG VÀ NGA NƯƠNG
CHU LIÊN, ĐỖ THỊ DUNG, ĐỖ XUÂN QUANG
ĐINH TRIẾT, CUNG CAI NƯƠNG
NÀNG CỰC
TƯỚNG QUÂN HƯỚNG THIỆN
LÃ BẢO, NGUYỄN LANG
BÙI HỘ
TRẦN TIÊN QUÂN
LỮ GIA
TRIỆU QUANG PHỤC
NGUYỄN BẠCH LANG, NGUYỄN ĐƯƠNG LÂU, NGUYỄN QUÝ HIỂN
LÝ NAM ĐẾ
ĐINH LÃNG, ĐINH THỐNG, ĐINH MINH
CHIÊU TƯỚNG QUÂN VÀ CUNG PHI NGỌC NƯƠNG
TRẦN LẠC VÀ TRẦN L
LÝ PHỤC MAN
KIỀU CÔNG HÃN
ĐINH TIÊN HOÀNG
PHẠM BẠCH HỔ
LƯU LANG
VÕ TRUNG
LƯU CƠ
BA ANH EM HỌ LÝ
NGÔ NHẬT KHÁNH
ĐINH TƯ ĐỒ
LÊ HOÀN
LÊ LONG VIỆT
LIÊN HOA
TRẦN CÔNG MẪN
NGUYỄN SÙNG, NGUYỄN QUÁCH, NGUYỄN THIỆU
CẢNH KỲ, TIẾN SƠN
THIÊN HIỀN SỨ VƯƠNG
NGUYỄN PHẤN, NGUYỄN TRỌNG, NGUYỄN QUÝ
ĐINH ĐIỀN VÀ MÔI NƯƠNG
TÔ LỊCH
QUẢNG LỢI BẠCH MÃ
VỢ CHỒNG VŨ PHỤC
LÝ TỬ LONG
THẦN LONG ĐỖ
LÊ PHỤNG HIỂU
LÝ CÔNG UẨN
NHẬT QUANG VÀ QUỲNH HOA
Ỷ LAN PHU NHÂN
LÝ HOÀNG NGHỊ
HOÀNG LANG
NGỌC T
VÕ DANH HƯƠNG VÀ VÕ THỊ HUỆ
NHẠC CÔNG VÀ QUÁCH NƯƠNG
LƯƠNG ĐOẠN
HOÀNG ĐÌNH ĐỘ, HOÀNG ĐÌNH ÁI
NGUYỄN TUYÊN
PHỔ MINH - NGUYỄN TẨU - TAM LANG
CÔNG CHÚA CON VUA TRẦN THÁI TÔNG
HOÀNG TÔ
CÁC NỮ TƯỚNG HỌ ĐÀO
TRẦN SỸ , TRẦN CHÍNH, TRẦN AN, TRẦN HUỆ
BỐN ANH EM HỌ NGUYỄN
BÙI GIA LIỄU
TRẦN QUỐC TUẤN
HAI ÔNG HỌ MAI, HỌ NGUYỄN
PHẠM PHÚ
PHẠM HỒNG
HOÀNG MINH
LÝ THỊ CHÂU
ĐOÀN THƯỢNG
HOÀNG TỬ UY LINH LANG
ĐINH LÔI
TRẦN KHÁNH DƯ
TRẦN NHẬT DUẬT
NGUYỆT LÃNG, TRUNG QUỐC
NGUYỄN CUNG PHI
ĐẠO MINH, ĐẠO LINH, ĐẠO HIỂN
ĐÔNG KỲ
CAO CÁC
TRẦN QUÝ KHOÁNG
LÊ HIẾN GIẢN, LÊ HIẾN TỨ
NGUYỄN Đ
HOÀNG THÀNH
LÊ LỢI, LÊ THẬN
BẠCH THỤ VÀ HOÀNG QUYẾT
NGUYỄN PHỤC
SƠN LINH THẠCH THẦN
NGUYỄN HỒNG
THẦN CAO MINH
QUẬN CÔNG LÊ QUÝ
VŨ TUẤN CHIÊU
NGUYỄN TÔNG VĨ
LÊ QUẾ LINH
PHẠM KHẮC THÂN
NGUYỄN THÁI BẠT
PHẠM NGHỊ VÀ VI NƯƠNG
PHẠM NGHI, VÕ CHIẾU
CÔNG CHÚA QUYẾN HOA
PHẠM TỬ NGHI
LÝ PHONG
PHẠM HY NHẠN
CÓ MỘT KHO TÀNG DÃ SỬ VIỆT NAM
Theo sự hiểu biết hạn chế của chúng tôi, thì hình như trong giới sử học ở nước ta, chưa có ý kiến nhiều
lắm về vấn đề dã sử, mà những cuốn sách như Đào Khê dã sử lại cũng rất ít. Song thuật ngữ dã sử thì
lại khá thông dụng, gần như rất quen thuộc với mọi người.
Theo đúng nghĩa đen của nó: dã là chốn quê mùa, chốn đồng ruộng. Dã sử có thể hiểu lại chuyện sử
dân gian, do dân gian ghi chép lưu truyền chứ không phải do Nhà nước chủ trì, giao cho các sử quan
phụ trách. Nhà nước phải chép quốc sử, tài liệu ấy được gọi là chính sử. Chính sử có những phần
chính yếu gọi là cương, và những phần cụ thể, chi tiết hơn, gọi là mục. Quyển sử nước ta gọi là Thông
giám cương mục là vì như thế. Chính sử chỉ chép những điều được chế độ chấp nhận tuỳ theo từng
triều đại. Có nhiều sự kiện,ừng triều đại đánh giá khác nhau, có thể bỏ đi, không chép hoặc chép một
cách sơ lược và phê phán gay gắt, thiên lệch. Có nhân vật được tôn vinh, phải chép đầy đủ, nội dung
phong phú. Có nhân vật chỉ được ghi chép qua, để gọi là có mà thôi. Nhiều chuyện chép vào chính sử
là rất khách quan (nếu sử quan là người công bằng chính trực, không sợ quyền uy), nhưng nhiều chuyện
vẫn không phản ánh được hoàn toàn sự thực. Bên cạnh loại sử chính thức như cương mục, còn phải có
những bộ sách khác ghi đầy đủ, chi tiết hơn - phần lớn ghi chuyện các vua quan, các ông hoàng bà
chúa, hoặc những trận đánh lớn, những chiến dịch ghi được nhiều quân công. Người ta gọi những sách
này là những thực lục. Lục cũng có ít nhiều giá trị như sử, nhưng không phải là sử chính thức. Và đó
cũng là
những tài liệu quan phương, không phải do dân ghi chép.
Nhưng trong cuộc sống có biết bao nhiêu việc đã xảy ra, bao nhiêu nhân vật đã hành động, bao nhiêu
biến cố dâu bể thăng trầm. Các nhà làm sử dù là sử quan, sử thần (do vua cử ra) hay là sử gia (các trí
thức chuyên về môn sử học) dù tài giỏi, uyên bác đến đâu, cũng không thể ghi cho đầy đủ. Họ không
thể nào biết hết mọi chuyện. Ngay cả với những sự kiện trọng đại, họ cũng không thể nói thẳng ra, hoặc
vì quan niệm, vì kỷ luật bó buộc. Thí dụ như ai đã là cha của các ông vua Lê Hoàn, Lý Công Uẩn
..v.v... thì không thể biết (hoặc có biết mà không dám nói), họ đành quy là do mẹ các ông ấy đã được
giao hợp với Thần! Lại thí dụ như vua Lê Thánh Tông dù là một bậc minh quân, nhưng có thể là có
chuyện lăng nhăng này nọ. Không thể nói thẳng điều ấy sử quan đành ghi một nhận xét phê phán nhẹ
nhàng: "nữ yết thái thậm" (con gái hầu quá nhiều). Dân gian không bằng lòng với cách ghi chép này.
Dã sử sẽ cho thấy ông vua này có khá nhiều giai thoại...
Vậy là những sự kiện, những nhân vật lịch sử, ngoài những gì họ được chính thức ghi chép trong sách
vở của nhà nước, họ còn được dân gian ghi nhận. Chuyện của họ dù đúng hay sai, song tất nhiên phải
có cơ sở, phải có cái lõi sự thực nhất định, và được những người có chứng kiến, có nghe bình luận, có
ngấm ngầm ghi nhận và khẳng định đó là sự thật. Thế rồi họ sẽ lưu truyền cho nhau, kể một cách tự do
theo cảm quan hay do nhận thức của số đông. Những chuyện kể ra như vậy đã thành dã sử, hay nói một
cách khác là sử dân gian. Và tất nhiên, không phải chỉ có chuyện trong cung đình, mà còn có chuyện
của những người có tên tuổi, chuyện về những sự kiện quan trọng của các triều đại, các giai đoạn. Dã
sử có thể là chuyện sử của một người (cả người có tiếng tăm và người bình thường) của một làng, của
một dòng họ. Có thể những chuyện ấy có liên quan ít nhiều đến chính sử, nhưng cũng có thể chỉ là
chuyện riêng, tầm ảnh hưởng chỉ có trong phạm vi không gian và thời gian hạn hẹp, nhưng vẫn có một
giá trị sử liệu nhất định, vẫn tồn tại trong ký ức của nhiều người và nhiều thế hệ. Dã sử chỉ là những
câu chuyện riêng tư. Trong sách Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, có chua thêm cả chữ Pháp để chỉ
ra rằng dã sử là sử của tư gia (histoire privée). Như vậy là rất đúng.
Vì những câu chuyện dã sử đều được lưu hành bằng con đường truyền khẩu, phổ biến trong dân gian,
nên nếu không thận trọng sẽ dễ bị lầm với các thể loại khác, nhất là với các thể loại trong văn học dân
gian:
+ Dã sử là chuyện sử. Nói sử, người ta thường phải nhớ đến nhiều thời đại, đến cổ sử, cận sử và hiện
đại. Về cổ sử của dân tộc người dân ta đã có nhiều chuyện để tự hào. Thí dụ dân ta hay kể chuyện Con
Rồng Cháu Tiên. Cũng có liên quan đến sử, song đây lại không phải là dã sử mà là thần thoại. Đa số
các truyền thuyết, các cổ tích (nhất là cổ tích truyền kỳ) cũng không phải là dã sử. Song, cũng là thần,
mà nói đến các thần tích thì khác. Một số thần tích, thần phả có thể xem là dã sử. Chuyện các vị Thành
hoàng, các phúc thần ở các làng thì là dã sử hẳn hoi. Vì các vị này đều là những con người thực ở làng
ấy, làm nên lịch sử của làng, chứ không phải là người trong thần thoại.
+ Chuyện truyền thuyết vô cùng phong phú trong văn học dân gian nước ta, có truyện là dã sử, nhưng
nhiều chuyện lại không thuộc thể loại này. Thí dụ như những câu chuyện địa danh, nói về những núi
này, sông nọ. Yếu tố dã sử và truyền thuyết ở đây có thể nhận ra rất dễ dàng. Ở Hải Phòng có một làng
được đặt tên là làng Lưu Kiếm, vì có chuyện Trần Hưng Đạo để lại đây một thanh gươm khi ngài đi
đánh giặc Nguyên. Vậy chuyện địa danh này là một dã sử. Còn như ở Thái Nguyên, có núi Cốc sông
Công, và có chuyện kể về một đôi trai gái, đã lưu danh để cho người ta nhớ được mối tình chung thuỷ
của mình. Chuyện địa danh này là một cổ tích, chứ không phải là dã sử. Vào vùng quê Nam bộ, chuyện
cầu Thị Nghè là dã sử, nhưng chuyện núi Bà Đen lại là truyền thuyết.
+ Chuyện dã sử cũng thường bị lầm với các giai thoại. Vì thường các giai thoại đều là chuyện của
nhân vật này, sự kiện kia. Cũng có những nhân vật có liên quan nhiều ít đến lịch sử. Do đó phải chú
trọng đến nội dung. Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát có nhiều giai thoại văn chương, những mẩu chuyện này
của các ông là ở trong phạm vi văn học nhiều hơn trong phạm vi lịch sử, dù các ông đều có vai trò, có
địa vị trong sử sách. Giai thoại có ba loại: giai thoại lịch sử, đa số là dã sử, còn giai thoại văn học
và giai thoại folklore chỉ có liên quan ít nhiều, chứ chủ yếu không phải là dã sử.
+ Chúng ta còn có nhiều tập gia phả, nhiều sách địa chí. Đây chính là những dã sử hẳn hoi (theo đúng
chữ histoire privée mà Đào Duy Anh đã chú thích). Địa chí hay gia phả chủ yếu là chép chuyện riêng
biệt của một làng hay một họ, có thể chép được rất nhiều chuyện thật mà quốc sử không ghi chép được.
Cũng có những chuyện chưa biết có chính xác không, nhưng vẫn phải giữ gìn để có cơ hội đối chiếu và
tham khảo về sau. Tất nhiên, trong những gia phả và địa chí, có nhiều nội dung không liên quan đến dã
sử. Nhiều làng, nhiều dòng họường ghép cho gia tộc và cho địa phương mình những chuyện hoang
đường với dụng ý tôn vinh, không rõ sự thực đến đâu. Nhiều sự tích về các ruộng đồng, núi non, sản
nghiệp, phong tục, nhiều bản phả hệ công phu, nhưng gắn bó với lịch sử đất nước thì không rõ nét lắm.
Tìm các chi tiết dã sử trong địa chí và phả tộc có thể gặp nhiều tư liệu quý, nhưng lại phải chú ý chọn
lọc chứ không phải xô bồ.
Đại khái ta có thể hiểu vấn đề dã sử là như vậy. Nhưng thể loại này cần được quan tâm ở nhiều mặt
khác. Có thể tạm thời lướt qua mấy điều sơ bộ như sau:
+ Dã sử có đáng tin không? Dã sử kể những chuyện thực hay là không thực? Điều này rất khó nói, mà
phải đi vào từng trường hợp cụ thể để suy nghĩ và đoán định. Thí dụ như câu chuyện Chúa Chổm ở
nước ta. Có thực lịch sử đã có ông vua Lê Duy Bang (hay Lê Ninh) nào đó, đã là con nợ của nhiều
người, gây nên những chuyện buồn cười như ta đã biết. Không lấy gì làm chắc, nhưng rất khó bác bỏ.
Quốc sử không ghi, nhưng nhân dân bao đời nay đã thừa nhận, và câu thành ngữ: Nợ như Chúa Chổm
vẫn rất quen thuộc, và cái phố Cấm Chỉ ở Hà Nội vẫn còn đó để mãi mãi câu chuyện không thể mờ đi
trong trí nhớ mọi người. Tôi xin mách thêm với bạn đọc rằng, những ngày đi sưu tầm sử liệu ở miền
núi Thanh Hoá, tại các vùng như Mường Khô, Mường Kloòng (huyện Bá Thước) tôi cũng được nghe
các cụ người Mường người Thái nới về vua Chổm. Tôi không tin, nhưng không có lập luận nào để phủ
định. Lại còn có chuyện không biết làm sao mà kết luận, như câu chuyện của quận mã Đặng Lân, em
trai bà chúa chè Đặng Thị Huệ. Sử sách ghi rõ là chúa Trịnh Sâm đã phải thi hành án, bắt Đặng Lân
đày đi xa. Cuộc ra đi của Đặng Lân lại có cờ quạt, đàn sáo tưng bừng đầy đủ nghi vệ giành cho một vị
hoàng thân quốc thích. Trái lại, dã sử kể rằng Đặng Lân đã bị viên quan Hộ thành chém chết. Bà Chúa
Chè đã khóc lóc bắt Trịnh Sâm phải trị tội kẻ giết em bà. Nhưng Trịnh Sâm không dám làm, mà tha tội
cho viên quan công bằng chính trực. Hình như chuyện này mới là thực, vì còn lại câu thành ngữ:
"Quan Hộ được tha, vương gia muôn tuổi", Nguyễn Huy Tưởng đã khai thác để chép vào tiểu thuyết
Đêm Hội Long Trì. Thế nhưng, lại có người bảo với tôi, đó là chuyện Nguyễn Huy Tưởng sáng tác ra
mà thôi! Thật không biết làm sao mà xác định. Nhưng dẫu có phải lưỡng lự, vẫn phải công nhận là dã
sử đã làm phong phú thêm cho lịch sử nước nhà. Tin hay không tin là do quyền đoán định của chúng ta.
Mà rõ ràng dã sử là loại tài liệu có ích và cần thiết cho chúng ta nghiên cứu.
*
* *
Như vậy thì nội dung dã sử gồm những gì? Đó là những tư liệu đã được lưu truyền trong nhân dân,
trong thôn xóm. Có thể đó chỉ là những lời đồn đại nhưng không có tính cách nhất thời, mà lại có một
giá trị lâu dài, đã bám vào lịch sử và cùng được nhìn nhận như tài liệu lịch sử, không chính thống mà
vẫn ít nhiều có khả năng chinh phục. Nó cũng có thể được ghi chép trong sách vở, các tài liệu không
chính thức của Nhà nước, của một địa phương hay của một tác gia. Chuyện ở những tài liệu này không
có vị trí như các sử liệu đích thực, nhưng vẫn có giá trị riêng, có thể bổ sung cho quốc sử. Rất có khả
năng (loại tư liệu này là có ích, là rất quan trọng, cần thiết cho việc nghiên cứu. Có thể lấy một ví dụ
để minh hoạ cho tình hình chung. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chẳng hạn, ta biết Lê Lợi khởi nghĩa là nhờ
có thanh gươm do Nguyễn Thận vớt được trên dòng sông Sũ, bến đò Mục. Sau đó, tất nhiên là Nguyễn
Thận được cùng Lê Lợi chiến đấu, để có tên trong danh sách khai quốc công thần. Nhưng tất cả các
sách Toàn thư, Thực lục cũng chỉ cho biết thông tin như vậy mà không nói rõ thêm. Lại phải tìm trong
các dã sử, xem các sách địa chí, mới biết rằng Nguyễn Thận đã ra Bắc, lấy vợ ở Hưng Yên và trở
thành Thành hoàng của một làng ngoài đó. Nhiều khi, ngay những câu chuyện truyền văn cũng đem lại
cho chúng ta những hoài nghi, phải bỏ công đối chiếu điều tra, mà vẫn không xác minh được, đành
theo sử sách, nhưng vẫn có chút lạc quan trong hoài niệm mơ hồ. Tài liệu của Pháp, cũng như của ta,
đều nói rằng Hoàng Hoa Thám trong bước đường cùng đã bị phản bội, bị thủ hạ của bọn Lương Tam
Kỳ giết chết nộp cho địch. Người Pháp cũng chưa tin lắm, nên đã cho bêu đầu ông mấy ngày ở Nhã
Nam cho mọi người lần lượt xác minh, thừa nhận Đề Thám đã bị giết. Nhưng dã sử không tin như thế.
Phan Trần Chúc tin theo dã sử đã chép rằng: mấy năm sau, tại một làng quê miền núi Bắc bộ, một ông
già yên ổn nhắm mắt: ông già ấy là Hoàng Hoa Thám (sách Ba Đình). Chẳng biết sự thực như thế nào,
nhưng tài liệu này quả thật làm cho chúng ta bớt nỗi đau buồn khi được tin Đề Thám thất bại.
Vậy là ta có thể nhận ra được nội dung của dã sử:
+ Những chuyện đời tư, việc tư của các vua quan, các tướng tá, các nhân vật có tên tuổi trong lịch sử,
trong văn chương nước nhà mà sử không ghi chép được hoặc có ghi chép mà bị bỏ sót hay quên đi.
Những chuyện lặt vặt này cũng có người đã phải quan tâm đến và gọi là những dật sự (dật là chuyện
lặt vặt, lẻ tẻ, kín đáo, phải biết thu nhặt lại). Dật sự không hẳn là dã sử, nhưng dã sử thì chứa rất nhiều
dật sự.
+ Những chuyện về các địa phương. Loại chuyện thường được chép nhiều trong các sách địa chí. Có
chuyện về người, có chuyện về các địa điểm, nhưng cần chú ý nó chỉ liên quan khi có quan hệ đến các
vấn đề lịch sử mà thôi. Địa chí thường chép cả những sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt xã hội, các phong
tục tập quán, các hương ước, sự lễ, có vấn đề là lịch sử, có vấn đề thuộc những ngành chuyên môn
khác như địa lý học, phong tục học, v.v.. Riêng về những chuyện địa danh, cần chú ý chỉ những địa
điểm do con người tạo ra, hay con người có can thiệp vào mới gọi là dã sử, còn những địa danh được
xem là có nguồn gốc thiên nhiên, thì>
+ Các tập gia phả cũng là tài liệu dã sử phong phú. Nhiều nhân vật trong các dòng họ đã có công tích,
có sự nghiệp đáng trân trọng nhưng sử sách không chép được. Vậy phải có gia phả để bù vào. Gia phả
chính là dã sử (là chuyện tư gia - histoire privée). Tất nhiên phải dè chừng nhiều sử liệu trong các gia
phả thường không được khách quan cho lắm. Có nhân vật có vấn đề với lịch sử, con cháu của họ khi
chép đến, đã tìm cách giới thiệu cho vấn đề nhẹ đi, có khi lại biến cải theo một cách khác. Có những
tiểu sử hay hành trạng của nhiều người khác quê quán, khác thời đại, mà vẫn được chép tương tự như
nhau, nhất là những vấn đề mang tính cách giai thoại. Nghiên cứu các nhân vật được tôn vinh ở các
giai thoại ta thường gặp tình trạng này. Bài thơ Vịnh con trai để biểu dương ý chí anh hùng, nơi này
người ta cho tác giả là Trần Nguyên Hãn (đời nhà Trần), nơi kia lại bảo là của Phùng Khắc Khoan. Do
đó mà sử dụng dã sử như một sử liệu là điều phải rất nên thận trọng.
+ Dã sử là chuyện về người, và cũng là chuyện về các sự kiện lịch sử. Có thể hiểu khái niệm sự kiện
lịch sử một cách rộng rãi. Có những chuyện ngoại giao, chuyện xử kiện, chuyện tranh chấp nội bộ
trong cung đình, đền miếu, trấn thành, phủ huyện v.v... Và còn có cả những chuyện tình sử nữa. Đặc
biệt có nhiều sự kiện vốn là phải được giữ kín (như loại cung đình bí sử) nhưng không biết vì sao mà
cứ được đồn đại ra ngoài, và được lưu truyền mãi mãi. Người bình dân vốn hay tò mò, nghe những
chuyện như thế họ thường lưu ý, rồi kể lại, cứ mỗi lần kể là mỗi lần uốn nắn, thậm chí là xuyên tạc,
càng xuyên tạc thì lại càng được thích thú lan truyền. Chắc chắn nhiều chuyện thuộc loại này đã bị thêu
dệt, thậm chí bị hư cấu do nhiều nguyên nhân. Dù sao thì cũng là chứng tích về một cách nhìn nhận hay
đánh giá về người, về việc. Nó là một dạng sử bình tuỳ theo mức độ và phương pháp. Do vậy, nó có
thể đáng tin, mà cũng không đáng tin. Nhưng vẫn không loại trừ ở nhiều trường hợp, dã sử là tài liệu
có ích.
Có thể tìm hiểu cả vấn đề phương pháp của dã sử không? Chắc là được. Dã sử không do một người
nào ghi chép mà chỉ là tác phẩm khuyết danh, đa biện pháp và đa tác giả. Nó cũng là một tác phẩm văn
học dân gian (hay sử dân gian). Ta có thể tìm hiểu được thi pháp ca dao, thi pháp cổ tích, v. v... thì tại
sao lại không tìm được thi pháp của dã sử. Có thể thấy dã sử là tác phẩm đa dạng (có phần truyền
khẩu và có phần được ghi chép). Dã sử rất biết tôn trọng phương pháp ghi chép chính quy, tuân theo lề
lối biên chép, tuân theo ảnh hưởng của thời đại, của pháp luật, nhưng vẫn giữ được tính cách độc lập
của mình. Tính cách độc lập thể hiện ở sự nhất trí tôn vinh quê hương, tiên tổ, để cố gắng làm sao giữ
gìn được đúng truyền thống của nước nhà, làng xóm, họ hàng của mình. Sự khai thác các biện pháp thể
hiện của dã sử cũng là đa dạng: có thể theo phương pháp. Viết liệt truyện, viết sự tích, có thể vận dụng
cả biện pháp của những thần thoại, cổ tích, giai thoại vào để cho những sự kiện trong dã sử có màu
sắc, có khả năng hấp dẫn nhiều hơn. Tin hay không tin đó là quyền của người đọc, nhưng dã sử đã vì
đó mà trở nên hấp dẫn và sinh động.
Trong phương pháp thể hiện của dã sử, có một vấn đề quan trọng mà dã sử đã đóng góp cho nền văn
hoá dân gian của dân tộc, ấy là sự ra đời của các bài vè. Vè chính là tài liệu dã sử đích thực. Văn học
dân gian đã nói đến các bài vè và xem đó là một thể loại trong kho tàng dân ca. Nhưng giới nghiên cứu
sử học thì phải nhận thêm rằng đó chính là kho tàng sử liệu. Vè là những tài liệu khẩu báo, ghi chép
các sự kiện đã diễn ra trong đất nước này, cả trong phạm vi rộng và hẹp. Một sự việc xảy ra trong một
làng, một xóm là có ngay một bài đề ghi nhận sự kiện lịch sử của địa phương ấy. Một biến cố lớn lao
của đất nước, sử sách không ghi chép được đầy đủ chi tiết, thì đã có các bài vè làm hộ công việc này.
Chính tác giả các bài vè đã cho ta rõ những sự kiện lớn lao mà trong lúc đương thời dám ghi chép.
Một cuộc khởi nghĩa như khởi nghĩa của Đề Thám, người Tây chép theo quan điểm của kẻ thực dân
xâm lược, báo chí có thể đưa tin như các tin tức hàng ngày, các sử sách dù là của những tác giả tự do
cũng không sao dám ghi chép, vì ghi chép cho đúng thì chắc chắn là phải bị tù, hoặc sách sẽ bị cấm
không cho lưu hành. Phải để các sử gia dân gian làm công việc này. Họ sẽ chép lại sự kiện này bằng
hàng chục bài vè khác nhau. (Tôi mới tìm được có trên mười bài, không rõ có còn nữa không). Những
bài vè như thế đúng là dã sử.
Có những bài vè không phải chỉ dùng bút pháp dân dã như loại vè Đề Thám, vè Nguyễn Xuân Ôn, vè
Phan Đình Phùng, vè Phan Bội Châu, mà lại được nâng lên thành những truyện thơ hẳn hoi. Rõ ràng
là sự phát triển của thi pháp dã sử. Dưới triều nhà Nguyễn, những gì nói về Tây Sơn đều bị cấm đoán.
Nhưng đã có tác giả viết ra những cuốn nói về các danh tướng Tây Sơn như Tây Sơn tiềm long lục,
hoặc nói về tiểu sử, hành trạng của
nữ tướng Bùi Thị Xuân như Cân quắc anh hùng truyện. Các tác giả những sách ấy đều là những nhà
nho tâm huyết, tác phẩm của họ đáng là những tác phẩm thuộc văn chương bác học (theo cách phân
chia trước đây). Nhưng lịch sử đã buộc họ phải trở thành những tác giả dân gian. Tác phẩm của họ
phải dấu diếm, phải lén lút, ngay lúc ấy, không được công bố đàng hoàng. Vậy họ là tác giả dân gian,
và sách của họ là tài liệu dã sử.
Cũng thuộc vào nhóm tư liệu này, tôi nghĩ rằng nên kể vào đây những câu ca dao, hoặc những khúc dân
ca có liên quan với lịch sử. Nghe một câu hát như:
Một nhà sinh được ba vua
Vua sống vua chết vua thua chạy dài.
Chắc ai cũng phải thấy đó là câu ca dao lịch sử nói về ba ông vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm
Nghi. Nhưng chỉ có dân chúng mới có cách nói như vậy. Văn chương chính quy của nhà n không bao
giờ kể chuyện mà gọi các nhà vua một cách bất kính. Đó chỉ có thể là cách ăn nói của dân. Và như thế
là dã sử. Lại còn một câu hát đối đáp:
Em đố anh từ Nam chí Bắc
Sông nào là sông sâu nhất
Núi nào là núi cao nhất ở nước ta
Anh mà giảng được cho ra
Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh.
Đáp:
Sâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
Ai dám cho rằng câu ca dao này không phải là ca dao lịch sử. Mà lịch sử đây lại là lịch sử được tóm
tắt, được hệ thống và được chọn lọc một cách tài tình. Không đi vào chi tiết, nhưng lại có chi tiết rất
tiêu biểu, rất thơ mộng. Thi pháp chính là ở đây. Phải yêu lịch sử, hiểu lịch sử lắm mới có thể nói
được như vậy. Từ một thí dụ cụ thể này, có thể theo dõi nhiều hiện tượng khác đã được dã sử phản
ánh, để nhìn nhận biện pháp thể hiện của loại hình này. Hy vọng sẽ có dịp chúng ta đi vào một chuyên
đề khảo luận đầy đủ và nghiêm túc hơn.
Quan niệm như vậy, ta thấy rõ dã sử là vô cùng dồi dào, phong phú. Nước ta có lịch sử bốn nghìn
năm, nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới bắt đầu chép sử. Ba ngàn năm trước đã có bao nhiêu sự kiện xảy
ra, nhưng tiếc rằng ta không còn lưu giữ được một chi tiết nào (ngoài những truyền thuyết). Rồi trong
thời trung đại, cận đại và ngay thời kỳ hiện đại bây giờ, cũng có bao nhiêu là chuyện mà sách vở không
thể chính thức ghi chép, nhưng người dân đều biết cả. Chuyện không lấy gì làm chính xác hay chắc
chắn, song cứ vẫn được lưu truyền từ người này sang người khác, mà không ai dám công bố hay dám
tự ý in ra. Tất cả đều là dã sử cả đấy, vì trong số đó, có thể sẽ có nhiều chuyện có thể là sử liệu chính
thức, sẽ được công nhận vào một thời gian thích hợp nào đấy. Gọi đây là một kho tàng, quả là chính
xác. Chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều người chung sức để làm được bộ kho tàng vĩ đại này. Những cuốn
xã chí, hương biên hay tỉnh chí, những sách giai thoại, dật sự, v.v... đang được lần lượt ra đời đều
thuộc kho tàng này cả. Có một bộ kho tàng như vậy, mới biết được thực sự đất nước mình đã vận hành,
đã phát triển đa phương, đa hình, đa diện ra sao. Có nhiều tập như thế, mới làm được một bộ toàn thư
xứng đáng với tên gọi ấy. Còn bây giờ, cuốn sách này của chúng tôi chỉ có mục đích là gợi ý, là một
kinh nghiệm thử thách mà thôi. Chúng tôi tạm xếp các mẩu chuyện vào năm phần sơ lược:
1. Dã sử về các nhân vật và sự kiện qua nhiều thế kỷ, từ những thời Đinh Lê Lý Trần Lê cho đến thời
Pháp thuộc. Phần này phải là rất đồ sộ, nhưng cũng chỉ có thể nhắc qua một số việc (không phân loại,
không kê cứu), chỉ cốt làm quen với dã sử mà thôi.
2. Dã sử qua các địa danh: chỉ có mục đích gợi ý bằng vài chuyện tiêu biểu, chứ địa danh trong cả
nước thì làm sao ghi hết được.
3. Dã sử chung quanh một vài cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa trong lử ta có nhiều, mỗi cuộc khởi nghĩa
là cả một kho chuyện. Tôi tin rằng bạn đọc có thể liên hệ để kể thêm nhiều dã sử về loại này mà các
bạn biết rõ hơn chúng tôi nhiều.
4. Dã sử về các nhân vật thuộc dân tộc thiểu số. Chúng tôi mạnh dạn đưa ra mục này. Nước ta gồm
nhiều dân tộc, và tất cả các dân tộc đã xuất xứ ra sao, và thời gian sống trên đất nước dài ngắn như thế
nào, cũng đều có công làm ra lịch sử Việt Nam. Chính sử của Nhà nước thường không chép đến họ, dù
chính họ làm nên những bản mường, làm giàu cho lịch sử Việt. Tất nhiên, nói đến họ là rất khó khăn.
Người Mường, người Thái, người Tây Nguyên có hay không có chữ viết, khó lòng tra cứu. Những
sách như Tài pú xấu, Quăm tô Mương còn ít được biết đến. Song sự tích của họ đúng là dã sử Việt
Nam, ta phải công bằng mà đề cập đến.
5. Cuối cùng, cũng để cho vấn đề thời đại được trọn vẹn, xin kèm thêm một ít thần phả, thần tích. Loại
này chúng tôi đã giới thiệu nhiều lần trên các bộ sách về Thành Hoàng. Ở đây chỉ xin trích lại một ít
mà thôi.
TM nhóm biên soạn
VŨ NGỌC KHÁNH
Phần I CÁC NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN TIÊU
BIỂU
CHUYỆN VỀ ĐỨC THÁNH TAM GIANG
Đức Thánh Tam Giang là Trương Hống và Trương Hát, hai vị tướng sau thành thần. Hai anh em làm
tướng của Triệu Quang Phục, đánh thắng giặc Lương. Triệu Quang Phục mất, hai ông không chịu theo
Lý Mật Tử, mà chết thành thần. Sau hiển linh phù trợ nhiều cuộc chiến đấu. Bài thơ Nam quốc sơn hà
của Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, được xem là tác phẩm của hai ông cho ngâm trên sông Như
Nguyệt. Còn câu thành ngữ trên đây là chỉ vào sự tích của bà mẹ hai ông.
Những tên riêng: Cầu Trông - Cửu Cữu là chỉ vào xứ đồng, nay thuộc làng Vân Mẫu, xã Văn Dương,
huyện Quế Võ (Bắc Ninh). Có người phụ nữ ở làng Vân Mẫu, mới 18 tuổi đi tắm ở bến Phả Lại, bị
rồng thần quấn, về có mang 14 tháng. Năm Nhâm Ngọ (522) sinh được 4 con đặt tên là Lừng, Lẫy,
Hống, Hách (sau đọc thành Hát).>
Gọi là Cầu Trông, là vì đây là nơi bà sinh con, nằm chờ cho cả bốn đứa con lần lượt chào đời. Có
giọt máu của bà rơi chảy dưới đất, sau hoá thành con đường. Còn đồng Cửu Cữu là cái tên chỉ vào một
bãi rộng, thường có nhiều lũ quỷ đến quấy phá. Khi bà mất, cả bốn anh em Trương Hống đã phải vật
nhau với quỷ để khiêng được linh cữu của mẹ. Bà mẹ đã trở thành một vị thánh mẫu được nhân dân tôn
thờ, gọi là đức thánh Từ Nhan.
Cùng với sáu chữ trong thành ngữ trên đây, sau này người dân còn ghép thêm ba chữ nữa. Gò Cầu
Trông, đồng Cửu Cữu, đống Phất cờ mới là đầy đủ. Đống Phất cờ cũng ở quanh khu vực này, là nơi
mà Trương Hống, Trương Hát đã tập hợp nghĩa quân, rồi dùng làm cứ điểm thống thuộc dưới sự chỉ
huy của Triệu Quang Phục.
CHUYỆN VUA ĐINH TIÊN HOÀNG
Ông Đinh Công Trứ phụ thân của Đinh Bộ Lĩnh là tướng của Dương Diên Nghệ, được giao làm thứ sử
Hoan Châu mất sớm. Bà mẹ từ trước đã không theo chồng vào phía nam, mà ở lại sống trong cảnh
nghèo nàn ũ tại quê nhà ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
Cả một thời gian dài mò cua bắt ốc giúp mẹ, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh đã phải đến ở nhờ người chú là
Đinh Thúc Dự tại sách Bông. Chú giao cho đi chăn trâu, cắt cỏ, do đó mà chơi thân với lũ trẻ trong
làng. Cậu bé láu lỉnh thông minh đã bày ra nhiều trò chơi khá độc đáo. Lúc bấy giờ bốn phương loạn
lạc, các ông thổ hào ở các vùng đều mong mở mang cơ nghiệp, tranh bá đồ vương, nên chuyên dùng
gươm giáo để đọ sức nhau, đem quân đi gây chiến nơi này nơi khác. Các cảnh tượng ấy đập vào mắt
cậu bé, làm cho cậu nhiều lần ước mơ một cuộc tranh đua! Cậu tưởng tượng một ngày kia, mình cũng
có thể uy nghi trên ngựa, múa gươm, trổ tài với thiên hạ. Chưa đến ngày đó, thì ngay b...
 





