BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Rèn luyện thói quen đọc sách - một việc nên làm

    Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, rồi tiến đến hiện tại, Sách và Văn hóa Đọc luôn được đề cao và tôn vinh, đây là nét đẹp mang giá trị văn hóa sâu sắc khó có thể phai nhòa theo năm tháng. Đọc sách giống như việc cái cây được tưới nước thường xuyên, con người chúng ta phát triển từng ngày nhờ quá trình đọc sách và tích lũy tri thức. Hẳn rằng để bàn về vai trò và giá trị mà sách mang đến, đã có biết bao cây bút dành sự ưu ái nhất định của mình cho đề tài này và rồi trở thành một tư tưởng nhân văn của thời đại. Ai cũng biết lợi ích của việc đọc, ai cũng biết giá trị từ sách, tôi tin rằng, ở thời điểm hiện tại đã có không ít bạn trẻ lấy việc đọc sách là mục tiêu để phấn đấu, rằng mỗi ngày dành 10 phút hay 30 phút đọc sách, một ngày phải đọc bao nhiêu trang, một tháng đọc bao nhiêu và một năm nhìn lại ta đã kinh qua bao cuốn sách. Nghe thì có vẻ là một kế hoạch hoàn hảo, nhưng thực tế, ta tự hỏi chính mình, rằng bản thân đã thực sự cố gắng và kỷ luật với việc đọc sách hay chưa?

    Ảnh ngẫu nhiên

    TG10.jpg Chau_Au.jpg Picture2.jpg CangBien.jpg Picture3.png

    Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng

    Việt Nam kho tàng dã sử

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:14' 19-04-2024
    Dung lượng: 2.2 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    VIỆT NAM KHO TÀNG DÃ SỬ
    Biên soạn : Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo
    NXB Văn hóa Thông tin 2004
    Khổ 14.5 x 20.5. Số trang : 935
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
    CÓ MỘT KHO TÀNG DÃ SỬ VIỆT NAM
    PH
    CÁC NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN TIÊU BIỂU
    CHUYỆN VỀ ĐỨC THÁNH TAM GIANG
    CHUYỆN VUA ĐINH TIÊN HOÀNG
    CHUYỆN VUA LÊ ĐẠI HÀNH
    CHUYỆN VỀ VUA LÝ THÁI TỔ
    LÀNG MỌC THỜ ĐẦU, LÀNG CẦU THỜ CHÂN, PHÁP VÂN THỜ KHÚC GIỮA
    CHUYỆN GỐC GÁC VUA QUAN HỌ TRẦN
    CHUYỆN VUA LÊ THÁNH TÔNG
    PHẢI LÀ CON MẸ CON CHA
    THÌ SINH RA ĐẤT DUYÊN HÀ THẦN KHÊ
    CHUYỆN CHÚA CHỔM
    CHUYỆN ĐÀO DUY TỪGỬI THƯCHO CHÚA TRỊNH
    CHUYỆN ÔNG NGUYỄN QUÁN NHO
    ĐÁNH GIẶC HỌ ĐINH LÀM QUAN HỌ ĐẶNG

    MỘT NGÕ 4 THƯỢNG THƯ
    MỘT LÀNG 19 ÔNG TIÊN SĨ!
    BẢY LÀNG KẺ ĐÁM, TÁM LÀNG KẺ HE
    KHÔNG ĐÁNH NỔI GIẶC QUÈ THANH TƯỚC
    NGƯỜI NGHỆ AN, GAN THẠCH HÀ!
    LẮM TIỀN ÔNG CHOÁC, LẮM BẠC ÔNG CHOAI
    LẮM NỒI ĐỒNG QUAI LÀ ÔNG LÁI CẢNH
    CHUYỆN VỀ VUA QUANG TRUNG
    MỘT CÁCH TRỊ TỘI GIÁO DÂN THEO LỆNH TRIỀU ĐÌNH
    NGƯỜI CON TRAI CỦA THẦY DẠY PHAN BÁ VÀNH
    MƯỜI HAI MÂM LỄ VẬT
    CHI CHI CHÀNH CHÀNH
    HÒN KIM TRÔNG TỚI ĐÁ CHỒNG
    CẢM THƯƠNG ÔNG QUẢN KHĂN HỒNG NĂM XƯA
    THỨ NHẤT ANH CẢ TRUNG ĐỒNG
    THỨ NHÌ ANH CÔNG KẺ THƯỢNG
    THỨ BA ANH TƯỚNG PHÙ YÊN
    THỨ TƯ QUAN THỌ LÀNG CHIỀN OAI PHONG
    THỨ NHẤT ÔNG CAI - THỨ HAI ÔNG ĐỀ
    AI VỀ ĐÔNG CHỮ
    CHUYỆN TỨ HỔ Ở NGHỆ AN
    MỜI CỌP LÀM LÝ TRƯỞNG
    THÀNH HOÀNG... SỐNG
    THƠ TỪ LÃO HÚNG, PHÚ QUÍ MỤ BÔNG

    LỊCH SỰ CÔ HỒNG, KHÔN NGOAN CHÚ BƯỞI
    NỰC CƯỜI HAI BẢY MƯỜI BA
    TRỜI LÀM TRẬN GIÓ TÁM GÀ CHẾT THIÊU
    DẠY CHIM DỰ TRẬN
    DẠY CHÓ DIỆT THÙ
    MƯỢN GÀ LÙNG GIẶC
    NHỜ TRÂU PHÁ VÒNG VÂY
    DÙNG GỖ PHÁ ĐỊCH
    MÙ U CŨNG LẬP CHIẾN CÔNG!
    MỘT SỐ BÀI VÈ THỜI PHONG KIẾN VÀ THỜI THUỘC PHÁP
    PHẦN II
    DÃ SỬ QUA CÁC ĐỊA DANH
    GÒ THÁNH HÓA
    NHỮNG CÁNH ĐỒNG MANG TÊN CHIẾN CÔNG
    VƯỜN ĐÀO AO CÁ
    SỰ TÍCH LÀNG CẦU KỆ, LÀNG KÉO LÊ
    NÚI THÁP BÚT
    VÁCH ĐÁ SÁP ONG
    NGUỒN GỐC TÊN GỌI MƯỜNG LAY
    VÌ SAO CÓ TÊN MƯỜNG PHĂNG?
    SỰ TÍCH GÒ CON CÁ
    SỰ TÍCH CẦU BƯƠU
    HỒ TÂY VÀ HỒ TRÚC BẠCH
    SỰ TÍCH ĐỐNG DẤM Ở THÔN ĐA SĨ

    SỰ TÍCH LÀNG DỘC ỐC - YÊN PHÚC
    CHƠI VỚI KẺ SỐM KHÔNG ỐM CŨNG QUÈ
    BẢY LÀNG GÀ BA LÀNG HÓP KHÔNG BẰNG THẰNG CHÓP LÀNG CỔ DƯ
    SỰ TÍCH RẠCH BÀ HÉT
    SỰ TÍCH RẠCH BỎ LƯỢC
    CẦU THỊ NGHÈ
    SỰ TÍCH ĐỊA DANH MỎ CÀY
    ĐỊA DANH CAO LÃNH
    VÌ SAO CÓ TÊN TỈNH SA - ĐÉC?
    SỰ TÍCH HÒN CAU VÀ HÒN TRẦU
    SỰ TÍCH HÒN TRÁC, HÒN TÀI
    PHẦN III
    DÃ SỬ XUNG QUANH MỘT VÀI CUỘC KHỞI NGHĨA
    DÃ SỬ VỀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN
    DÃ SỬ VỀ KHỞI NGHĨA TÂY SƠN
    CHƯƠNG IV
    DÃ SỬ VỀ NHỮNG NGƯỜI THUỘC DÂN TỘC THIỂU SỐ
    KHU LIÊN
    PHẠM VĂN
    TRẦN QUÝ
    MA HA MAY A
    MỊ Ê
    BA ÔNG CHÁU CHA CON ĐỀU LÀ PHÒ MÃ
    THÂN CẢNH PHÚC, THIÊN THẦN ĐỘNG GIÁP (1077)

    TÔNG ĐẢN
    NÙNG TỒN PHÚC
    NÙNG TRÍ VIỄN
    NÙNG TRÍ CAO
    A NỒNG
    HOÀNG PHÁP
    HOÀNG LỤC
    CÔNG CHÚA DU CHÀNG (?)
    DƯƠNG TỰ MINH
    HÀ HƯNG TÔNG
    BẢO THOÁT THỐC HOA
    HÀ ĐẶC - HÀ CHƯƠNG
    NGUYỄN THẾ LỘC
    ĂM POI
    LẠNG CHƯỢ
    NANG XO
    LÒ LẸT
    CHẾ MÂN
    VI PHÚC HÂN
    NGUYỄN CẨM MIÊN
    BẾ KHẮC THIỆU
    HOÀNG ĐẠI HUỀ
    CHEI CHETTA II
    ĐỨC VUA QUÁN

    PO ROMÉ
    BẾ PHÙNG
    CẦM ĂM CA
    HOÀNG CÔNG CHẤT
    MẠC THIÊN TÍCH
    CẦM NHÂN QUÝ
    BOK KI
    YĂ ĐỐ
    NGUYỄN VĂN TỒN
    BẾ HỰU CUNG
    LÊ VĂN KHÔI
    NÔNG VĂN VÂN
    QUÁCH TẤT CÔNG
    CHÂN TRIẾT
    LÂM SÂM
    ĐỘI TIÊN PHONG CẨU PUNG
    THANG TRƯỜNG HỢP
    CHƯƠNG HAN
    CẢ GIA ĐÌNH VÌ ĐẤT MƯỜNG LA
    PÔ CUM PAO
    ĐINH CÔNG YỂNG
    HÀ VĂN MAO
    CẦM BÁ THƯỚ
    MÃ QUỐC ANH

    KHUNJUNOB
    AMA DƠ HAO
    PƠ TAO PUI
    TỔNG KHIÊM
    SÙNG MI QUẢNG
    GIANG TẢ CHAY
    N' TRANG LƠNG
    CÔN PÚA
    NÔNG VĂN DỀN
    PHẦN V
    MỘT SỐ THẦN TÍCH
    THẦN THÔNG, CƯƠNG NGHỊ, HÙNG CƯỜNG
    LINH CÔNG, THỦY CÔNG, ĐÀO CÔNG
    ĐÀO AN, ĐÀO Ý
    HÀ DỰC, HÀ MINH
    BẢY VỊ ĐẠI VƯƠNG
    CAO NHA
    LÝ ĐỨC, LÝ TĨNH
    HÙNG ANH HÙNG DỰC
    NGUYỄN TUẤN, NGUYÊN CHIÊU, NGUYỄN MINH
    TRƯỞNG MINH, THỨ MINH, QUÝ MINH
    LÝ LỖ, LÝ HUYÊN
    TẢN VIÊN SƠN THÁNH VÀ NĂM VỊ NHÂN THẦN
    THIÊN KHAI

    NGUYỄN MINH
    HÀN SÙNG, MỸ DUNG CÔNG CHÚA
    PHẠM THIỆN, PHẠM QUANG
    MINH ĐỨC, CHIÊU TRUNG
    MINH L
    NGỌC THỎ, ĐÔ HỔNG
    NGUYỄN NGỌ
    MINH LANG VÀ SÁT HẢI
    NĂM ANH EM HỌ NGUYỄN
    HÙNG HẢI, ĐỖ HUY
    LÝ TIẾN
    BỐN NÀNG HỒNG
    DƯƠNG NƯỚC, DƯƠNG ĐINH
    BẠCH NGỌC, LƯƠNG TU, NHA TAM NƯƠNG
    NGUYỄN MINH, NGUYỄN TRỰC
    NGUYỄN TRUNG
    LÊ THỊ HOA
    NÀNG CÔN
    NÀNG NGA
    NGỌ CÔNG VÀ NGA NƯƠNG
    CHU LIÊN, ĐỖ THỊ DUNG, ĐỖ XUÂN QUANG
    ĐINH TRIẾT, CUNG CAI NƯƠNG
    NÀNG CỰC
    TƯỚNG QUÂN HƯỚNG THIỆN

    LÃ BẢO, NGUYỄN LANG
    BÙI HỘ
    TRẦN TIÊN QUÂN
    LỮ GIA
    TRIỆU QUANG PHỤC
    NGUYỄN BẠCH LANG, NGUYỄN ĐƯƠNG LÂU, NGUYỄN QUÝ HIỂN
    LÝ NAM ĐẾ
    ĐINH LÃNG, ĐINH THỐNG, ĐINH MINH
    CHIÊU TƯỚNG QUÂN VÀ CUNG PHI NGỌC NƯƠNG
    TRẦN LẠC VÀ TRẦN L
    LÝ PHỤC MAN
    KIỀU CÔNG HÃN
    ĐINH TIÊN HOÀNG
    PHẠM BẠCH HỔ
    LƯU LANG
    VÕ TRUNG
    LƯU CƠ
    BA ANH EM HỌ LÝ
    NGÔ NHẬT KHÁNH
    ĐINH TƯ ĐỒ
    LÊ HOÀN
    LÊ LONG VIỆT
    LIÊN HOA
    TRẦN CÔNG MẪN

    NGUYỄN SÙNG, NGUYỄN QUÁCH, NGUYỄN THIỆU
    CẢNH KỲ, TIẾN SƠN
    THIÊN HIỀN SỨ VƯƠNG
    NGUYỄN PHẤN, NGUYỄN TRỌNG, NGUYỄN QUÝ
    ĐINH ĐIỀN VÀ MÔI NƯƠNG
    TÔ LỊCH
    QUẢNG LỢI BẠCH MÃ
    VỢ CHỒNG VŨ PHỤC
    LÝ TỬ LONG
    THẦN LONG ĐỖ
    LÊ PHỤNG HIỂU
    LÝ CÔNG UẨN
    NHẬT QUANG VÀ QUỲNH HOA
    Ỷ LAN PHU NHÂN
    LÝ HOÀNG NGHỊ
    HOÀNG LANG
    NGỌC T
    VÕ DANH HƯƠNG VÀ VÕ THỊ HUỆ
    NHẠC CÔNG VÀ QUÁCH NƯƠNG
    LƯƠNG ĐOẠN
    HOÀNG ĐÌNH ĐỘ, HOÀNG ĐÌNH ÁI
    NGUYỄN TUYÊN
    PHỔ MINH - NGUYỄN TẨU - TAM LANG
    CÔNG CHÚA CON VUA TRẦN THÁI TÔNG

    HOÀNG TÔ
    CÁC NỮ TƯỚNG HỌ ĐÀO
    TRẦN SỸ , TRẦN CHÍNH, TRẦN AN, TRẦN HUỆ
    BỐN ANH EM HỌ NGUYỄN
    BÙI GIA LIỄU
    TRẦN QUỐC TUẤN
    HAI ÔNG HỌ MAI, HỌ NGUYỄN
    PHẠM PHÚ
    PHẠM HỒNG
    HOÀNG MINH
    LÝ THỊ CHÂU
    ĐOÀN THƯỢNG
    HOÀNG TỬ UY LINH LANG
    ĐINH LÔI
    TRẦN KHÁNH DƯ
    TRẦN NHẬT DUẬT
    NGUYỆT LÃNG, TRUNG QUỐC
    NGUYỄN CUNG PHI
    ĐẠO MINH, ĐẠO LINH, ĐẠO HIỂN
    ĐÔNG KỲ
    CAO CÁC
    TRẦN QUÝ KHOÁNG
    LÊ HIẾN GIẢN, LÊ HIẾN TỨ
    NGUYỄN Đ

    HOÀNG THÀNH
    LÊ LỢI, LÊ THẬN
    BẠCH THỤ VÀ HOÀNG QUYẾT
    NGUYỄN PHỤC
    SƠN LINH THẠCH THẦN
    NGUYỄN HỒNG
    THẦN CAO MINH
    QUẬN CÔNG LÊ QUÝ
    VŨ TUẤN CHIÊU
    NGUYỄN TÔNG VĨ
    LÊ QUẾ LINH
    PHẠM KHẮC THÂN
    NGUYỄN THÁI BẠT
    PHẠM NGHỊ VÀ VI NƯƠNG
    PHẠM NGHI, VÕ CHIẾU
    CÔNG CHÚA QUYẾN HOA
    PHẠM TỬ NGHI
    LÝ PHONG
    PHẠM HY NHẠN

    CÓ MỘT KHO TÀNG DÃ SỬ VIỆT NAM
    Theo sự hiểu biết hạn chế của chúng tôi, thì hình như trong giới sử học ở nước ta, chưa có ý kiến nhiều
    lắm về vấn đề dã sử, mà những cuốn sách như Đào Khê dã sử lại cũng rất ít. Song thuật ngữ dã sử thì
    lại khá thông dụng, gần như rất quen thuộc với mọi người.
    Theo đúng nghĩa đen của nó: dã là chốn quê mùa, chốn đồng ruộng. Dã sử có thể hiểu lại chuyện sử
    dân gian, do dân gian ghi chép lưu truyền chứ không phải do Nhà nước chủ trì, giao cho các sử quan
    phụ trách. Nhà nước phải chép quốc sử, tài liệu ấy được gọi là chính sử. Chính sử có những phần
    chính yếu gọi là cương, và những phần cụ thể, chi tiết hơn, gọi là mục. Quyển sử nước ta gọi là Thông
    giám cương mục là vì như thế. Chính sử chỉ chép những điều được chế độ chấp nhận tuỳ theo từng
    triều đại. Có nhiều sự kiện,ừng triều đại đánh giá khác nhau, có thể bỏ đi, không chép hoặc chép một
    cách sơ lược và phê phán gay gắt, thiên lệch. Có nhân vật được tôn vinh, phải chép đầy đủ, nội dung
    phong phú. Có nhân vật chỉ được ghi chép qua, để gọi là có mà thôi. Nhiều chuyện chép vào chính sử
    là rất khách quan (nếu sử quan là người công bằng chính trực, không sợ quyền uy), nhưng nhiều chuyện
    vẫn không phản ánh được hoàn toàn sự thực. Bên cạnh loại sử chính thức như cương mục, còn phải có
    những bộ sách khác ghi đầy đủ, chi tiết hơn - phần lớn ghi chuyện các vua quan, các ông hoàng bà
    chúa, hoặc những trận đánh lớn, những chiến dịch ghi được nhiều quân công. Người ta gọi những sách
    này là những thực lục. Lục cũng có ít nhiều giá trị như sử, nhưng không phải là sử chính thức. Và đó
    cũng là
    những tài liệu quan phương, không phải do dân ghi chép.
    Nhưng trong cuộc sống có biết bao nhiêu việc đã xảy ra, bao nhiêu nhân vật đã hành động, bao nhiêu
    biến cố dâu bể thăng trầm. Các nhà làm sử dù là sử quan, sử thần (do vua cử ra) hay là sử gia (các trí
    thức chuyên về môn sử học) dù tài giỏi, uyên bác đến đâu, cũng không thể ghi cho đầy đủ. Họ không
    thể nào biết hết mọi chuyện. Ngay cả với những sự kiện trọng đại, họ cũng không thể nói thẳng ra, hoặc
    vì quan niệm, vì kỷ luật bó buộc. Thí dụ như ai đã là cha của các ông vua Lê Hoàn, Lý Công Uẩn
    ..v.v... thì không thể biết (hoặc có biết mà không dám nói), họ đành quy là do mẹ các ông ấy đã được
    giao hợp với Thần! Lại thí dụ như vua Lê Thánh Tông dù là một bậc minh quân, nhưng có thể là có
    chuyện lăng nhăng này nọ. Không thể nói thẳng điều ấy sử quan đành ghi một nhận xét phê phán nhẹ
    nhàng: "nữ yết thái thậm" (con gái hầu quá nhiều). Dân gian không bằng lòng với cách ghi chép này.
    Dã sử sẽ cho thấy ông vua này có khá nhiều giai thoại...
    Vậy là những sự kiện, những nhân vật lịch sử, ngoài những gì họ được chính thức ghi chép trong sách
    vở của nhà nước, họ còn được dân gian ghi nhận. Chuyện của họ dù đúng hay sai, song tất nhiên phải
    có cơ sở, phải có cái lõi sự thực nhất định, và được những người có chứng kiến, có nghe bình luận, có
    ngấm ngầm ghi nhận và khẳng định đó là sự thật. Thế rồi họ sẽ lưu truyền cho nhau, kể một cách tự do
    theo cảm quan hay do nhận thức của số đông. Những chuyện kể ra như vậy đã thành dã sử, hay nói một
    cách khác là sử dân gian. Và tất nhiên, không phải chỉ có chuyện trong cung đình, mà còn có chuyện
    của những người có tên tuổi, chuyện về những sự kiện quan trọng của các triều đại, các giai đoạn. Dã
    sử có thể là chuyện sử của một người (cả người có tiếng tăm và người bình thường) của một làng, của

    một dòng họ. Có thể những chuyện ấy có liên quan ít nhiều đến chính sử, nhưng cũng có thể chỉ là
    chuyện riêng, tầm ảnh hưởng chỉ có trong phạm vi không gian và thời gian hạn hẹp, nhưng vẫn có một
    giá trị sử liệu nhất định, vẫn tồn tại trong ký ức của nhiều người và nhiều thế hệ. Dã sử chỉ là những
    câu chuyện riêng tư. Trong sách Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, có chua thêm cả chữ Pháp để chỉ
    ra rằng dã sử là sử của tư gia (histoire privée). Như vậy là rất đúng.
    Vì những câu chuyện dã sử đều được lưu hành bằng con đường truyền khẩu, phổ biến trong dân gian,
    nên nếu không thận trọng sẽ dễ bị lầm với các thể loại khác, nhất là với các thể loại trong văn học dân
    gian:
    + Dã sử là chuyện sử. Nói sử, người ta thường phải nhớ đến nhiều thời đại, đến cổ sử, cận sử và hiện
    đại. Về cổ sử của dân tộc người dân ta đã có nhiều chuyện để tự hào. Thí dụ dân ta hay kể chuyện Con
    Rồng Cháu Tiên. Cũng có liên quan đến sử, song đây lại không phải là dã sử mà là thần thoại. Đa số
    các truyền thuyết, các cổ tích (nhất là cổ tích truyền kỳ) cũng không phải là dã sử. Song, cũng là thần,
    mà nói đến các thần tích thì khác. Một số thần tích, thần phả có thể xem là dã sử. Chuyện các vị Thành
    hoàng, các phúc thần ở các làng thì là dã sử hẳn hoi. Vì các vị này đều là những con người thực ở làng
    ấy, làm nên lịch sử của làng, chứ không phải là người trong thần thoại.
    + Chuyện truyền thuyết vô cùng phong phú trong văn học dân gian nước ta, có truyện là dã sử, nhưng
    nhiều chuyện lại không thuộc thể loại này. Thí dụ như những câu chuyện địa danh, nói về những núi
    này, sông nọ. Yếu tố dã sử và truyền thuyết ở đây có thể nhận ra rất dễ dàng. Ở Hải Phòng có một làng
    được đặt tên là làng Lưu Kiếm, vì có chuyện Trần Hưng Đạo để lại đây một thanh gươm khi ngài đi
    đánh giặc Nguyên. Vậy chuyện địa danh này là một dã sử. Còn như ở Thái Nguyên, có núi Cốc sông
    Công, và có chuyện kể về một đôi trai gái, đã lưu danh để cho người ta nhớ được mối tình chung thuỷ
    của mình. Chuyện địa danh này là một cổ tích, chứ không phải là dã sử. Vào vùng quê Nam bộ, chuyện
    cầu Thị Nghè là dã sử, nhưng chuyện núi Bà Đen lại là truyền thuyết.
    + Chuyện dã sử cũng thường bị lầm với các giai thoại. Vì thường các giai thoại đều là chuyện của
    nhân vật này, sự kiện kia. Cũng có những nhân vật có liên quan nhiều ít đến lịch sử. Do đó phải chú
    trọng đến nội dung. Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát có nhiều giai thoại văn chương, những mẩu chuyện này
    của các ông là ở trong phạm vi văn học nhiều hơn trong phạm vi lịch sử, dù các ông đều có vai trò, có
    địa vị trong sử sách. Giai thoại có ba loại: giai thoại lịch sử, đa số là dã sử, còn giai thoại văn học
    và giai thoại folklore chỉ có liên quan ít nhiều, chứ chủ yếu không phải là dã sử.
    + Chúng ta còn có nhiều tập gia phả, nhiều sách địa chí. Đây chính là những dã sử hẳn hoi (theo đúng
    chữ histoire privée mà Đào Duy Anh đã chú thích). Địa chí hay gia phả chủ yếu là chép chuyện riêng
    biệt của một làng hay một họ, có thể chép được rất nhiều chuyện thật mà quốc sử không ghi chép được.
    Cũng có những chuyện chưa biết có chính xác không, nhưng vẫn phải giữ gìn để có cơ hội đối chiếu và
    tham khảo về sau. Tất nhiên, trong những gia phả và địa chí, có nhiều nội dung không liên quan đến dã
    sử. Nhiều làng, nhiều dòng họường ghép cho gia tộc và cho địa phương mình những chuyện hoang
    đường với dụng ý tôn vinh, không rõ sự thực đến đâu. Nhiều sự tích về các ruộng đồng, núi non, sản
    nghiệp, phong tục, nhiều bản phả hệ công phu, nhưng gắn bó với lịch sử đất nước thì không rõ nét lắm.
    Tìm các chi tiết dã sử trong địa chí và phả tộc có thể gặp nhiều tư liệu quý, nhưng lại phải chú ý chọn
    lọc chứ không phải xô bồ.
    Đại khái ta có thể hiểu vấn đề dã sử là như vậy. Nhưng thể loại này cần được quan tâm ở nhiều mặt

    khác. Có thể tạm thời lướt qua mấy điều sơ bộ như sau:
    + Dã sử có đáng tin không? Dã sử kể những chuyện thực hay là không thực? Điều này rất khó nói, mà
    phải đi vào từng trường hợp cụ thể để suy nghĩ và đoán định. Thí dụ như câu chuyện Chúa Chổm ở
    nước ta. Có thực lịch sử đã có ông vua Lê Duy Bang (hay Lê Ninh) nào đó, đã là con nợ của nhiều
    người, gây nên những chuyện buồn cười như ta đã biết. Không lấy gì làm chắc, nhưng rất khó bác bỏ.
    Quốc sử không ghi, nhưng nhân dân bao đời nay đã thừa nhận, và câu thành ngữ: Nợ như Chúa Chổm
    vẫn rất quen thuộc, và cái phố Cấm Chỉ ở Hà Nội vẫn còn đó để mãi mãi câu chuyện không thể mờ đi
    trong trí nhớ mọi người. Tôi xin mách thêm với bạn đọc rằng, những ngày đi sưu tầm sử liệu ở miền
    núi Thanh Hoá, tại các vùng như Mường Khô, Mường Kloòng (huyện Bá Thước) tôi cũng được nghe
    các cụ người Mường người Thái nới về vua Chổm. Tôi không tin, nhưng không có lập luận nào để phủ
    định. Lại còn có chuyện không biết làm sao mà kết luận, như câu chuyện của quận mã Đặng Lân, em
    trai bà chúa chè Đặng Thị Huệ. Sử sách ghi rõ là chúa Trịnh Sâm đã phải thi hành án, bắt Đặng Lân
    đày đi xa. Cuộc ra đi của Đặng Lân lại có cờ quạt, đàn sáo tưng bừng đầy đủ nghi vệ giành cho một vị
    hoàng thân quốc thích. Trái lại, dã sử kể rằng Đặng Lân đã bị viên quan Hộ thành chém chết. Bà Chúa
    Chè đã khóc lóc bắt Trịnh Sâm phải trị tội kẻ giết em bà. Nhưng Trịnh Sâm không dám làm, mà tha tội
    cho viên quan công bằng chính trực. Hình như chuyện này mới là thực, vì còn lại câu thành ngữ:
    "Quan Hộ được tha, vương gia muôn tuổi", Nguyễn Huy Tưởng đã khai thác để chép vào tiểu thuyết
    Đêm Hội Long Trì. Thế nhưng, lại có người bảo với tôi, đó là chuyện Nguyễn Huy Tưởng sáng tác ra
    mà thôi! Thật không biết làm sao mà xác định. Nhưng dẫu có phải lưỡng lự, vẫn phải công nhận là dã
    sử đã làm phong phú thêm cho lịch sử nước nhà. Tin hay không tin là do quyền đoán định của chúng ta.
    Mà rõ ràng dã sử là loại tài liệu có ích và cần thiết cho chúng ta nghiên cứu.
    *
    * *
    Như vậy thì nội dung dã sử gồm những gì? Đó là những tư liệu đã được lưu truyền trong nhân dân,
    trong thôn xóm. Có thể đó chỉ là những lời đồn đại nhưng không có tính cách nhất thời, mà lại có một
    giá trị lâu dài, đã bám vào lịch sử và cùng được nhìn nhận như tài liệu lịch sử, không chính thống mà
    vẫn ít nhiều có khả năng chinh phục. Nó cũng có thể được ghi chép trong sách vở, các tài liệu không
    chính thức của Nhà nước, của một địa phương hay của một tác gia. Chuyện ở những tài liệu này không
    có vị trí như các sử liệu đích thực, nhưng vẫn có giá trị riêng, có thể bổ sung cho quốc sử. Rất có khả
    năng (loại tư liệu này là có ích, là rất quan trọng, cần thiết cho việc nghiên cứu. Có thể lấy một ví dụ
    để minh hoạ cho tình hình chung. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chẳng hạn, ta biết Lê Lợi khởi nghĩa là nhờ
    có thanh gươm do Nguyễn Thận vớt được trên dòng sông Sũ, bến đò Mục. Sau đó, tất nhiên là Nguyễn
    Thận được cùng Lê Lợi chiến đấu, để có tên trong danh sách khai quốc công thần. Nhưng tất cả các
    sách Toàn thư, Thực lục cũng chỉ cho biết thông tin như vậy mà không nói rõ thêm. Lại phải tìm trong
    các dã sử, xem các sách địa chí, mới biết rằng Nguyễn Thận đã ra Bắc, lấy vợ ở Hưng Yên và trở
    thành Thành hoàng của một làng ngoài đó. Nhiều khi, ngay những câu chuyện truyền văn cũng đem lại
    cho chúng ta những hoài nghi, phải bỏ công đối chiếu điều tra, mà vẫn không xác minh được, đành
    theo sử sách, nhưng vẫn có chút lạc quan trong hoài niệm mơ hồ. Tài liệu của Pháp, cũng như của ta,
    đều nói rằng Hoàng Hoa Thám trong bước đường cùng đã bị phản bội, bị thủ hạ của bọn Lương Tam
    Kỳ giết chết nộp cho địch. Người Pháp cũng chưa tin lắm, nên đã cho bêu đầu ông mấy ngày ở Nhã
    Nam cho mọi người lần lượt xác minh, thừa nhận Đề Thám đã bị giết. Nhưng dã sử không tin như thế.

    Phan Trần Chúc tin theo dã sử đã chép rằng: mấy năm sau, tại một làng quê miền núi Bắc bộ, một ông
    già yên ổn nhắm mắt: ông già ấy là Hoàng Hoa Thám (sách Ba Đình). Chẳng biết sự thực như thế nào,
    nhưng tài liệu này quả thật làm cho chúng ta bớt nỗi đau buồn khi được tin Đề Thám thất bại.
    Vậy là ta có thể nhận ra được nội dung của dã sử:
    + Những chuyện đời tư, việc tư của các vua quan, các tướng tá, các nhân vật có tên tuổi trong lịch sử,
    trong văn chương nước nhà mà sử không ghi chép được hoặc có ghi chép mà bị bỏ sót hay quên đi.
    Những chuyện lặt vặt này cũng có người đã phải quan tâm đến và gọi là những dật sự (dật là chuyện
    lặt vặt, lẻ tẻ, kín đáo, phải biết thu nhặt lại). Dật sự không hẳn là dã sử, nhưng dã sử thì chứa rất nhiều
    dật sự.
    + Những chuyện về các địa phương. Loại chuyện thường được chép nhiều trong các sách địa chí. Có
    chuyện về người, có chuyện về các địa điểm, nhưng cần chú ý nó chỉ liên quan khi có quan hệ đến các
    vấn đề lịch sử mà thôi. Địa chí thường chép cả những sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt xã hội, các phong
    tục tập quán, các hương ước, sự lễ, có vấn đề là lịch sử, có vấn đề thuộc những ngành chuyên môn
    khác như địa lý học, phong tục học, v.v.. Riêng về những chuyện địa danh, cần chú ý chỉ những địa
    điểm do con người tạo ra, hay con người có can thiệp vào mới gọi là dã sử, còn những địa danh được
    xem là có nguồn gốc thiên nhiên, thì>
    + Các tập gia phả cũng là tài liệu dã sử phong phú. Nhiều nhân vật trong các dòng họ đã có công tích,
    có sự nghiệp đáng trân trọng nhưng sử sách không chép được. Vậy phải có gia phả để bù vào. Gia phả
    chính là dã sử (là chuyện tư gia - histoire privée). Tất nhiên phải dè chừng nhiều sử liệu trong các gia
    phả thường không được khách quan cho lắm. Có nhân vật có vấn đề với lịch sử, con cháu của họ khi
    chép đến, đã tìm cách giới thiệu cho vấn đề nhẹ đi, có khi lại biến cải theo một cách khác. Có những
    tiểu sử hay hành trạng của nhiều người khác quê quán, khác thời đại, mà vẫn được chép tương tự như
    nhau, nhất là những vấn đề mang tính cách giai thoại. Nghiên cứu các nhân vật được tôn vinh ở các
    giai thoại ta thường gặp tình trạng này. Bài thơ Vịnh con trai để biểu dương ý chí anh hùng, nơi này
    người ta cho tác giả là Trần Nguyên Hãn (đời nhà Trần), nơi kia lại bảo là của Phùng Khắc Khoan. Do
    đó mà sử dụng dã sử như một sử liệu là điều phải rất nên thận trọng.
    + Dã sử là chuyện về người, và cũng là chuyện về các sự kiện lịch sử. Có thể hiểu khái niệm sự kiện
    lịch sử một cách rộng rãi. Có những chuyện ngoại giao, chuyện xử kiện, chuyện tranh chấp nội bộ
    trong cung đình, đền miếu, trấn thành, phủ huyện v.v... Và còn có cả những chuyện tình sử nữa. Đặc
    biệt có nhiều sự kiện vốn là phải được giữ kín (như loại cung đình bí sử) nhưng không biết vì sao mà
    cứ được đồn đại ra ngoài, và được lưu truyền mãi mãi. Người bình dân vốn hay tò mò, nghe những
    chuyện như thế họ thường lưu ý, rồi kể lại, cứ mỗi lần kể là mỗi lần uốn nắn, thậm chí là xuyên tạc,
    càng xuyên tạc thì lại càng được thích thú lan truyền. Chắc chắn nhiều chuyện thuộc loại này đã bị thêu
    dệt, thậm chí bị hư cấu do nhiều nguyên nhân. Dù sao thì cũng là chứng tích về một cách nhìn nhận hay
    đánh giá về người, về việc. Nó là một dạng sử bình tuỳ theo mức độ và phương pháp. Do vậy, nó có
    thể đáng tin, mà cũng không đáng tin. Nhưng vẫn không loại trừ ở nhiều trường hợp, dã sử là tài liệu
    có ích.
    Có thể tìm hiểu cả vấn đề phương pháp của dã sử không? Chắc là được. Dã sử không do một người
    nào ghi chép mà chỉ là tác phẩm khuyết danh, đa biện pháp và đa tác giả. Nó cũng là một tác phẩm văn
    học dân gian (hay sử dân gian). Ta có thể tìm hiểu được thi pháp ca dao, thi pháp cổ tích, v. v... thì tại

    sao lại không tìm được thi pháp của dã sử. Có thể thấy dã sử là tác phẩm đa dạng (có phần truyền
    khẩu và có phần được ghi chép). Dã sử rất biết tôn trọng phương pháp ghi chép chính quy, tuân theo lề
    lối biên chép, tuân theo ảnh hưởng của thời đại, của pháp luật, nhưng vẫn giữ được tính cách độc lập
    của mình. Tính cách độc lập thể hiện ở sự nhất trí tôn vinh quê hương, tiên tổ, để cố gắng làm sao giữ
    gìn được đúng truyền thống của nước nhà, làng xóm, họ hàng của mình. Sự khai thác các biện pháp thể
    hiện của dã sử cũng là đa dạng: có thể theo phương pháp. Viết liệt truyện, viết sự tích, có thể vận dụng
    cả biện pháp của những thần thoại, cổ tích, giai thoại vào để cho những sự kiện trong dã sử có màu
    sắc, có khả năng hấp dẫn nhiều hơn. Tin hay không tin đó là quyền của người đọc, nhưng dã sử đã vì
    đó mà trở nên hấp dẫn và sinh động.
    Trong phương pháp thể hiện của dã sử, có một vấn đề quan trọng mà dã sử đã đóng góp cho nền văn
    hoá dân gian của dân tộc, ấy là sự ra đời của các bài vè. Vè chính là tài liệu dã sử đích thực. Văn học
    dân gian đã nói đến các bài vè và xem đó là một thể loại trong kho tàng dân ca. Nhưng giới nghiên cứu
    sử học thì phải nhận thêm rằng đó chính là kho tàng sử liệu. Vè là những tài liệu khẩu báo, ghi chép
    các sự kiện đã diễn ra trong đất nước này, cả trong phạm vi rộng và hẹp. Một sự việc xảy ra trong một
    làng, một xóm là có ngay một bài đề ghi nhận sự kiện lịch sử của địa phương ấy. Một biến cố lớn lao
    của đất nước, sử sách không ghi chép được đầy đủ chi tiết, thì đã có các bài vè làm hộ công việc này.
    Chính tác giả các bài vè đã cho ta rõ những sự kiện lớn lao mà trong lúc đương thời dám ghi chép.
    Một cuộc khởi nghĩa như khởi nghĩa của Đề Thám, người Tây chép theo quan điểm của kẻ thực dân
    xâm lược, báo chí có thể đưa tin như các tin tức hàng ngày, các sử sách dù là của những tác giả tự do
    cũng không sao dám ghi chép, vì ghi chép cho đúng thì chắc chắn là phải bị tù, hoặc sách sẽ bị cấm
    không cho lưu hành. Phải để các sử gia dân gian làm công việc này. Họ sẽ chép lại sự kiện này bằng
    hàng chục bài vè khác nhau. (Tôi mới tìm được có trên mười bài, không rõ có còn nữa không). Những
    bài vè như thế đúng là dã sử.
    Có những bài vè không phải chỉ dùng bút pháp dân dã như loại vè Đề Thám, vè Nguyễn Xuân Ôn, vè
    Phan Đình Phùng, vè Phan Bội Châu, mà lại được nâng lên thành những truyện thơ hẳn hoi. Rõ ràng
    là sự phát triển của thi pháp dã sử. Dưới triều nhà Nguyễn, những gì nói về Tây Sơn đều bị cấm đoán.
    Nhưng đã có tác giả viết ra những cuốn nói về các danh tướng Tây Sơn như Tây Sơn tiềm long lục,
    hoặc nói về tiểu sử, hành trạng của
    nữ tướng Bùi Thị Xuân như Cân quắc anh hùng truyện. Các tác giả những sách ấy đều là những nhà
    nho tâm huyết, tác phẩm của họ đáng là những tác phẩm thuộc văn chương bác học (theo cách phân
    chia trước đây). Nhưng lịch sử đã buộc họ phải trở thành những tác giả dân gian. Tác phẩm của họ
    phải dấu diếm, phải lén lút, ngay lúc ấy, không được công bố đàng hoàng. Vậy họ là tác giả dân gian,
    và sách của họ là tài liệu dã sử.
    Cũng thuộc vào nhóm tư liệu này, tôi nghĩ rằng nên kể vào đây những câu ca dao, hoặc những khúc dân
    ca có liên quan với lịch sử. Nghe một câu hát như:
    Một nhà sinh được ba vua
    Vua sống vua chết vua thua chạy dài.
    Chắc ai cũng phải thấy đó là câu ca dao lịch sử nói về ba ông vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm
    Nghi. Nhưng chỉ có dân chúng mới có cách nói như vậy. Văn chương chính quy của nhà n không bao

    giờ kể chuyện mà gọi các nhà vua một cách bất kính. Đó chỉ có thể là cách ăn nói của dân. Và như thế
    là dã sử. Lại còn một câu hát đối đáp:
    Em đố anh từ Nam chí Bắc
    Sông nào là sông sâu nhất
    Núi nào là núi cao nhất ở nước ta
    Anh mà giảng được cho ra
    Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh.
    Đáp:
    Sâu nhất là sông Bạch Đằng
    Ba lần giặc đến ba lần giặc tan
    Cao nhất là núi Lam Sơn
    Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.
    Ai dám cho rằng câu ca dao này không phải là ca dao lịch sử. Mà lịch sử đây lại là lịch sử được tóm
    tắt, được hệ thống và được chọn lọc một cách tài tình. Không đi vào chi tiết, nhưng lại có chi tiết rất
    tiêu biểu, rất thơ mộng. Thi pháp chính là ở đây. Phải yêu lịch sử, hiểu lịch sử lắm mới có thể nói
    được như vậy. Từ một thí dụ cụ thể này, có thể theo dõi nhiều hiện tượng khác đã được dã sử phản
    ánh, để nhìn nhận biện pháp thể hiện của loại hình này. Hy vọng sẽ có dịp chúng ta đi vào một chuyên
    đề khảo luận đầy đủ và nghiêm túc hơn.
    Quan niệm như vậy, ta thấy rõ dã sử là vô cùng dồi dào, phong phú. Nước ta có lịch sử bốn nghìn
    năm, nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới bắt đầu chép sử. Ba ngàn năm trước đã có bao nhiêu sự kiện xảy
    ra, nhưng tiếc rằng ta không còn lưu giữ được một chi tiết nào (ngoài những truyền thuyết). Rồi trong
    thời trung đại, cận đại và ngay thời kỳ hiện đại bây giờ, cũng có bao nhiêu là chuyện mà sách vở không
    thể chính thức ghi chép, nhưng người dân đều biết cả. Chuyện không lấy gì làm chính xác hay chắc
    chắn, song cứ vẫn được lưu truyền từ người này sang người khác, mà không ai dám công bố hay dám
    tự ý in ra. Tất cả đều là dã sử cả đấy, vì trong số đó, có thể sẽ có nhiều chuyện có thể là sử liệu chính
    thức, sẽ được công nhận vào một thời gian thích hợp nào đấy. Gọi đây là một kho tàng, quả là chính
    xác. Chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều người chung sức để làm được bộ kho tàng vĩ đại này. Những cuốn
    xã chí, hương biên hay tỉnh chí, những sách giai thoại, dật sự, v.v... đang được lần lượt ra đời đều
    thuộc kho tàng này cả. Có một bộ kho tàng như vậy, mới biết được thực sự đất nước mình đã vận hành,
    đã phát triển đa phương, đa hình, đa diện ra sao. Có nhiều tập như thế, mới làm được một bộ toàn thư
    xứng đáng với tên gọi ấy. Còn bây giờ, cuốn sách này của chúng tôi chỉ có mục đích là gợi ý, là một
    kinh nghiệm thử thách mà thôi. Chúng tôi tạm xếp các mẩu chuyện vào năm phần sơ lược:
    1. Dã sử về các nhân vật và sự kiện qua nhiều thế kỷ, từ những thời Đinh Lê Lý Trần Lê cho đến thời
    Pháp thuộc. Phần này phải là rất đồ sộ, nhưng cũng chỉ có thể nhắc qua một số việc (không phân loại,

    không kê cứu), chỉ cốt làm quen với dã sử mà thôi.
    2. Dã sử qua các địa danh: chỉ có mục đích gợi ý bằng vài chuyện tiêu biểu, chứ địa danh trong cả
    nước thì làm sao ghi hết được.
    3. Dã sử chung quanh một vài cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa trong lử ta có nhiều, mỗi cuộc khởi nghĩa
    là cả một kho chuyện. Tôi tin rằng bạn đọc có thể liên hệ để kể thêm nhiều dã sử về loại này mà các
    bạn biết rõ hơn chúng tôi nhiều.
    4. Dã sử về các nhân vật thuộc dân tộc thiểu số. Chúng tôi mạnh dạn đưa ra mục này. Nước ta gồm
    nhiều dân tộc, và tất cả các dân tộc đã xuất xứ ra sao, và thời gian sống trên đất nước dài ngắn như thế
    nào, cũng đều có công làm ra lịch sử Việt Nam. Chính sử của Nhà nước thường không chép đến họ, dù
    chính họ làm nên những bản mường, làm giàu cho lịch sử Việt. Tất nhiên, nói đến họ là rất khó khăn.
    Người Mường, người Thái, người Tây Nguyên có hay không có chữ viết, khó lòng tra cứu. Những
    sách như Tài pú xấu, Quăm tô Mương còn ít được biết đến. Song sự tích của họ đúng là dã sử Việt
    Nam, ta phải công bằng mà đề cập đến.
    5. Cuối cùng, cũng để cho vấn đề thời đại được trọn vẹn, xin kèm thêm một ít thần phả, thần tích. Loại
    này chúng tôi đã giới thiệu nhiều lần trên các bộ sách về Thành Hoàng. Ở đây chỉ xin trích lại một ít
    mà thôi.
    TM nhóm biên soạn
    VŨ NGỌC KHÁNH

    Phần I CÁC NHÂN VẬT VÀ SỰ KIỆN TIÊU
    BIỂU

    CHUYỆN VỀ ĐỨC THÁNH TAM GIANG
    Đức Thánh Tam Giang là Trương Hống và Trương Hát, hai vị tướng sau thành thần. Hai anh em làm
    tướng của Triệu Quang Phục, đánh thắng giặc Lương. Triệu Quang Phục mất, hai ông không chịu theo
    Lý Mật Tử, mà chết thành thần. Sau hiển linh phù trợ nhiều cuộc chiến đấu. Bài thơ Nam quốc sơn hà
    của Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, được xem là tác phẩm của hai ông cho ngâm trên sông Như
    Nguyệt. Còn câu thành ngữ trên đây là chỉ vào sự tích của bà mẹ hai ông.
    Những tên riêng: Cầu Trông - Cửu Cữu là chỉ vào xứ đồng, nay thuộc làng Vân Mẫu, xã Văn Dương,
    huyện Quế Võ (Bắc Ninh). Có người phụ nữ ở làng Vân Mẫu, mới 18 tuổi đi tắm ở bến Phả Lại, bị
    rồng thần quấn, về có mang 14 tháng. Năm Nhâm Ngọ (522) sinh được 4 con đặt tên là Lừng, Lẫy,
    Hống, Hách (sau đọc thành Hát).>
    Gọi là Cầu Trông, là vì đây là nơi bà sinh con, nằm chờ cho cả bốn đứa con lần lượt chào đời. Có
    giọt máu của bà rơi chảy dưới đất, sau hoá thành con đường. Còn đồng Cửu Cữu là cái tên chỉ vào một
    bãi rộng, thường có nhiều lũ quỷ đến quấy phá. Khi bà mất, cả bốn anh em Trương Hống đã phải vật
    nhau với quỷ để khiêng được linh cữu của mẹ. Bà mẹ đã trở thành một vị thánh mẫu được nhân dân tôn
    thờ, gọi là đức thánh Từ Nhan.
    Cùng với sáu chữ trong thành ngữ trên đây, sau này người dân còn ghép thêm ba chữ nữa. Gò Cầu
    Trông, đồng Cửu Cữu, đống Phất cờ mới là đầy đủ. Đống Phất cờ cũng ở quanh khu vực này, là nơi
    mà Trương Hống, Trương Hát đã tập hợp nghĩa quân, rồi dùng làm cứ điểm thống thuộc dưới sự chỉ
    huy của Triệu Quang Phục.

    CHUYỆN VUA ĐINH TIÊN HOÀNG
    Ông Đinh Công Trứ phụ thân của Đinh Bộ Lĩnh là tướng của Dương Diên Nghệ, được giao làm thứ sử
    Hoan Châu mất sớm. Bà mẹ từ trước đã không theo chồng vào phía nam, mà ở lại sống trong cảnh
    nghèo nàn ũ tại quê nhà ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).
    Cả một thời gian dài mò cua bắt ốc giúp mẹ, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh đã phải đến ở nhờ người chú là
    Đinh Thúc Dự tại sách Bông. Chú giao cho đi chăn trâu, cắt cỏ, do đó mà chơi thân với lũ trẻ trong
    làng. Cậu bé láu lỉnh thông minh đã bày ra nhiều trò chơi khá độc đáo. Lúc bấy giờ bốn phương loạn
    lạc, các ông thổ hào ở các vùng đều mong mở mang cơ nghiệp, tranh bá đồ vương, nên chuyên dùng
    gươm giáo để đọ sức nhau, đem quân đi gây chiến nơi này nơi khác. Các cảnh tượng ấy đập vào mắt
    cậu bé, làm cho cậu nhiều lần ước mơ một cuộc tranh đua! Cậu tưởng tượng một ngày kia, mình cũng
    có thể uy nghi trên ngựa, múa gươm, trổ tài với thiên hạ. Chưa đến ngày đó, thì ngay b...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không chỉ là kho tàng kiến thức mà còn là phép màu kỳ diệu với tâm hồn mỗi người

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTNT THCS AYUN PA - GIA LAI !