Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Truyen Thuyet Thanh Troy Va Hy lap - Andrew lang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:51' 07-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:51' 07-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRUYỀN THUYẾT VỀ THÀNH
TROY VÀ HY LẠP
Tác giả : Andrew Lang
VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
ULYSSES - KẺ CƯỚP BÓC TRONG CÁC THÀNH PHỐ
CHƯƠNG 1
THỜI THƠ ẤU VÀ CHA MẸ CỦA ULYSESS
CHƯƠNG 2
CUỘC SỐNG THỜI ULYSSES
CHƯƠNG 3
CUỘC TRANH GIÀNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC NÀNG HELEN
XINH ĐẸP Ở THÀNH TROY
CHƯƠNG 4
ĐÁNH CẮP NÀNG HELEN XINH ĐẸP
CHƯƠNG 5
CHIẾN THẮNG CỦA QUÂN THÀNH TROY
CHƯƠNG 6
TRẬN CHIẾN TRÊN THUYỀN
CHƯƠNG 7
CƠN LÔI ĐÌNH VÀ SỰ TRẢ THÙ CỦA PATROCLUS
CHƯƠNG 8
SỰ TÀN NHẪN CỦA ACHILLES VÀ VIỆC CHUỘC LẠI THI THỂ CỦA
HECTOR
CHƯƠNG 9
Á
Ắ
Ê
Ủ
À
ULYSSES ĐÁNH CẮP ĐƯỢC VẬT THIÊNG CỦA THÀNH TROY NHƯ
THẾ NÀO
CHƯƠNG 10
TRẬN CHIẾN VỚI CÁC NỮ CHIẾN BINH AMAZON VÀ MEMNON - CÁI
CHẾT CỦA ACHILLES
CHƯƠNG 11
ULYSSES ĐIỀU KHIỂN THUYỀN ĐI TÌM KIẾM CON TRAI CỦA
ACHILLES - SỰ DŨNG CẢM CỦA EURYPYLYS
CHƯƠNG 12
CÁI CHẾT CỦA PARIS
CHƯƠNG 13
ULYSSES PHÁT MINH RA CON NGỰA GỖ NHƯ THẾ NÀO
CHƯƠNG 14
THÀNH TROY THẤT THỦ VÀ NÀNG HELEN ĐƯỢC CỨU THOÁT
CUỘC PHIÊU LƯU CỦA ULYSSES
CHƯƠNG 1
CÁI CHẾT CỦA AGAMEMNON VÀ NỖI ĐAU ĐỚN CỦA ULYSSES
CHƯƠNG 2
NỮ PHÁP SƯ CIRCE, VÙNG ĐẤT CỦA NGƯỜI CHẾT VÀ CÁC NHÂN
ĐIỂU SIRENS
CHƯƠNG 3
HỒ NƯỚC XOÁY, QUÁI VẬT BIỂN VÀ CON CỪU CỦA THẦN MẶT TRỜI
TELEMACHUS ĐI TÌM CHA
CHƯƠNG 5
ULYSSES THOÁT KHỎI HÒN ĐẢO CỦA NỮ THẦN CALYPSO
CHƯƠNG 6
ULYSSES BỊ ĐẮM THUYỀN VÀ TỚI PHAEACIA
CHƯƠNG 7
ULYSSES TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG, CHÀNG ĐÓNG GIẢ LÀ MỘT KẺ ĂN
MÀY
CHƯƠNG 8
ULYSSES CẢI TRANG THÀNH NGƯỜI ĂN MÀY QUAY TRỞ VỀ LÂU
ĐÀI CỦA MÌNH
CHƯƠNG 9
ULYSSES GIẾT CHẾT BỌN NGƯỜI CẦU HÔN
CHƯƠNG 10
KẾT THÚC
CHƯƠNG 1
NHỮNG ĐỨA CON CỦA MÂY
CHƯƠNg 2
TÌM KIẾM BỘ LÔNG CỪU VÀNG
CHƯƠNG 3
ĐÁNH CẮP BỘ LÔNG CỪU VÀNG
THESEUS
CHƯƠNG 1
ĐÁM CƯỚI CỦA AETHRA
CHƯƠNG 2
THỜI NIÊN THIẾU CỦA THESEUS
CHƯƠNG 3
NHỮNG CHUYẾN THÁM HIỂM CỦA THESEUS
CHƯƠNG 4
THESEUS TÌM THẤY CHA
CHƯƠNG 5
HUY HIỆU CHIẾN THẮNG
CHƯƠNG 6
CHÀNG THESEUS Ở ĐẢO CRETE
CHƯƠNG 7
GIẾT CHẾT MINOTAUR
PERSEUS
CHƯƠNG 1
NÀNG DANAE BỊ CẦM TÙ
CHƯƠNG 2
LỜI THỀ CỦA PERSEUS
CHƯƠNG 3
PERSEUS VÀ ANDROMEDA
CHƯƠNG 4
PERSEUS TRẢ THÙ CHO MẸ MÌNH LÀ NÀNG DANAE
TÁC GIẢ ANDREW LANG
Thân tặng cuốn sách
Truyền thuyết thành Troy và Hi Lạp
Cho H. RIDER HAGGARD
(Nhà văn Anh, tác giả của cuốn truyện nổi
tiếng Kho báu của vua Solomon - ND).
VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Andrew Lang sinh ngày 31 tháng 5
năm 1844 tại Selkirk, Scotland, mất ngày 20
tháng 7 năm 1912. Mọi người thường gọi
ông là anh bạn Scots của những lá thư bởi
trong suốt cuộc đời mình ông đã viết rất
nhiều thư. Ông là một nhà thơ, một nhà tiểu
thuyết, một nhà phê bình văn học và là
người có nhiều đóng góp cho ngành Nhân
loại học. Hiện tại, ông được mọi người biết
đến nhiều nhất với tư cách là nhà sưu tầm
những câu chuyện dân gian và thần thoại.
Tại trường đại học St Andrews, các bài học
được đặt tên theo tên của ông.
Ông học tại Học viện Edinburge,
Đại học St. Andrews và đại học Balliol,
Oxford. Năm 1868, sau khi học xong năm
cuối, ông trở thành nghiên cứu sinh và sau
này là Hội viên danh dự của Trường cao
đẳng Merton. Sau khi tốt nghiệp, ông vừa
viết báo, vừa làm thơ, vừa là nhà phê bình
và nhà lịch sử, chính vì vậy ông nhanh
chóng trở nên nổi tiếng với tư cách là một
trong những nhà văn có tài và có năng lực
nhất vào thời bấy giờ. Nhưng chuyên ngành
ông dành nhiều thời gian và tâm huyết là
Chuyện dân gian và Nhân loại học.
Ngày nay, Lang được biết đến nhờ
những cuốn sách về chuyện dân gian, những
câu chuyện thần thoại và tôn giáo. Tác
phẩm xuất bản đầu tay của ông là Phong tục
và thần thoại, Nghi lễ và Tôn giáo (1887),
trong hai tác phẩm này ông giải thích những
nhân tố “phi lý” của thần thoại chính là
những gì còn sót lại của những hình thức
nguyên thuỷ. Cuốn Đi theo Tôn giáo của
ông chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng Người
nguyên thuỷ quý tộc vào thế kỷ XVIII.
Trong tác phẩm này, ông đề cập đến sự tồn
tại của những ý tưởng tinh thần siêu nhiên
giữa những bộ tộc được gọi là “hoang dã”,
nó tồn tại song song với những mối quan
tâm hiện đại vào thời bấy giờ về những sự
kiện huyền bí ở nước Anh. Truyền thuyết
thành Troy và Hi Lạp được xuất bản lần đầu
tiên năm 1902 bao gồm những câu chuyện
mang màu sắc thần thoại, huyền bí, hấp dẫn.
Sau đó cuốn sách được tái bản nhiều lần và
được in bằng nhiều thứ tiếng trên thế giới.
Nó lôi cuốn bao thế hệ trẻ em và cả người
lớ cho đến tận bây giờ. Tiếp theo là một loạt
các tuyển tập chuyện thần thoại khác của
ông được xuất bản, tạo thành Những cuốn
sách thần thoại của Andrew Lang.
ULYSSES - KẺ CƯỚP BÓC
TRONG CÁC THÀNH PHỐ
CHƯƠNG 1
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
THỜI THƠ ẤU VÀ CHA MẸ CỦA
ULYSESS
Ngày xửa ngày xưa, cách đây đã lâu
lắm rồi trên một hòn đảo nhỏ có tên là
Ithaca nằm ở bờ biển phía Tây của nước Hi
Lạp, có một ông vua tên là Laertes. Vương
quốc của ông là một vương quốc nhỏ có
nhiều núi nhấp nhô, hiểm trở. Nếu đến thăm
đất nước này, mọi người sẽ có cảm giác đây
chỉ là một tỉnh hay một khu vực của một
quốc gia chứ không phải là một đất nước
thống nhất với luật pháp và phong tục tập
quán riêng. Mọi người vẫn thường nói rằng
Ithaca giống như một chiếc lá chắn nằm
ngay trên mặt đại dương bao la. Chắc các
bạn sẽ nghĩ rằng đây là một đất nước có địa
hình bằng phẳng với những dải đồng bằng
rộng và những bãi cỏ xanh rờn thuận lợi cho
việc chăn thả gia súc. Tuy nhiên, vào thời
bấy giờ, Ithaca là một quốc gia nằm ở vùng
biển xa xôi, với hai đỉnh núi chính và một
thung lũng sâu ở giữa, chính vì vậy trông
đấtước này giống hệt một chiếc lá chắn
khổng lồ. Địa hình đất nước hiểm trở, gồ
ghề đến nỗi mọi người ở đây không nuôi
ngựa, trong khi vào thời này phương tiện đi
lại chính là xe ngựa với hai chú ngựa nhỏ
kéo phía trước. Trong đất nước Ithaca, mọi
người không bao giờ cưỡi ngựa và đặc biệt
trong chiến tranh họ không có kỵ binh. Khi
Ulysess, con trai của Laerter - đức vua nước
Ithaca lớn lên, chàng không bao giờ chiến
đấu trên xe ngựa bởi chàng không hề có bất
cứ con ngựa hay chiếc xe kéo nào. Chàng đi
bộ, chiến đấu trên đôi chân vững chắc của
mình giống như những người đàn ông khác
trong nước.
Đất nước Ithaca không có ngựa
nhưng bù lại họ có rất nhiều gia súc mà khó
ai có thể đếm chính xác được bao nhiêu
con. Cha của Ulysess có những đàn cừu lớn,
những đàn lợn béo tốt, những đàn cừu, dê,
nai, thỏ trên những ngọn đồi và trên vùng
đồng bằng trù phú. Đó là trên đất liền, còn
dưới biển khơi là hàng trăm nghìn loài cá
khác nhau với số lượng lớn đủ để phục vụ
nhu cầu lương thực của người dân Ithaca.
Mọi người nơi đây dùng lưới đánh cá, ngoài
ra họ còn dùng cần và móc câu để câu. Ai
nấy đều có công việc của mình và mọi
người luôn chăm chỉ làm việc để nuôi sống
bản thân và gia đình.
Xét về mọi khía cạnh, Ithaca là một
hòn đảo lý tưởng để sinh sống, làm việc và
tận hưởng một cuộc sống yên bình. Điều
kiện tự nhiên nơi đây cũng thuận lợi cho
công việc chăn thả gia súc. Mùa hè kéo dài
và hầu như không có mùa đông, có những
năm không khí lạnh ập đến nhưng giai đoạn
này cũng chỉ kéo dài có một vài tuần sau đó
chim én lại kéo về và các vùng đồng bằng
giống như một khu vườn được bao phủ bởi
cỏ cây, hoa lá. Từ những đoá hoa violet, hoa
loa kèn, hoa thuỷ tiên đến những đóa hoa
hồng đều đua nhau khoe sắc tạo nên một
bức tranh tuyệt đẹp. Phía trên là bầu trời
trong xanh, phía dưới là mặt biển xanh, hòn
đảo Ithaca giống như một chốn thiên đường
dành cho những người yêu thích cuộc sống
bình yên. Trên bờ biển lôi đền sơn màu
trắng trông thật tinh khiết và những nữ thần
rừng có những ngôi đền thờ nhỏ được xây
dựng bằng đá với những bụi hoa hồng gai
bao bọc xung quanh. Từng nét kiến trúc,
từng đặc điểm của cảnh vật thiên nhiên nơi
đây đều mang dấu ấn đặc trưng của Ithaca
mà không một đất nước nào trên vùng lãnh
thổ Hi Lạp có được.
Những hòn đảo khác nằm trong tầm
mắt của mọi người có rất nhiều đỉnh núi
cao, hiểm trở, trải dài như vô tận. Ngọn núi
này nối tiếp ngọn núi kia tím biếc dưới ánh
nắng mặt trời của hoàng hôn. Khó ai có thể
tưởng tượng ra khung cảnh này và khó ai có
thể cưỡng lại được vẻ đẹp của chúng nếu có
cơ hội được nhìn ngắm, thưởng thức. Trong
cuộc đời của mình, Ulysses đã đích thân
đến rất nhiều quốc gia giàu có, nhiều thành
phố lớn đông người sinh sống nhưng dù
chàng ở đâu, làm gì thì trái tim chàng luôn
hướng về hòn đảo nhỏ Ithaca, nơi chàng
được sinh ra, lớn lên, học cách chèo thuyền,
học cách lái tàu và cách sử dụng cung tên
cũng như làm thế nào để săn được những
con thú và hoẵng sống trong rừng rậm.
Ithaca là quê hương của chàng và không gì
có thể thay đổi được sự thật thiêng liêng đó.
Chàng yêu quê, luôn muốn làm mọi điều tốt
đẹp nhất cho quê hương của mình, cho
người dân của mình.
Mẹ của Ulysses là Anticleia, con gái
yêu của đức vua Autolycus sinh sống trên
một đỉnh núi cao trên đất liền. Vua
Autolycus là một trong những người đàn
ông xảo quyệt và khôn khéo nhất mà khó ai
có thể sánh kịp. Ông là một tay trộm lão
luyện, là bậc thầy của những tay trộm khác.
Ông có thể lấy cắp chiếc gối của một người
trong khi người đó đang gối dưới đầu nhưng
dường như ông không hề cảm thấy xấu hổ
về điều này. Ông coi đó là một khả năng đặc
biệt của mình và tin rằng có rất nhiều người
trên đất nước của ông cũng như trên những
nước khác đều mong muốn có được. Người
Hi Lạp có Thần Trộm tên là Hermes và vua
Autolycus tôn thờ vị thần này nên ông
thường học theo cách mà v hay làm. Mọi
người nơi đây có nhiều suy nghĩ tốt đẹp về
những trò lừa bịp xảo quyệt hơn là mối
nguy hại do sự không trung thực của ông
gây ra. Trong rất nhiều trường hợp, sự xảo
quyệt và láu cá đó giúp ích rất nhiều cho
người sở hữu nó. Ngoài ra có thể cả thần
Hermes và vua Autolycus chỉ sử dụng đức
tính đó của mình để làm người khác vui vẻ,
tạo nên những tiếng cười hóm hỉnh, những
trò đùa hài hước khiến không ai có thể nhịn
cười chứ không hề phục vụ cho mục đích
xấu hay hại người. Cũng giống như ông
ngoại của mình, Ulysses cũng rất thành thạo
trong lĩnh vực này. Chàng là người dũng
cảm, khôn ngoan và láu cá nhất nhưng
không bao giờ chàng ăn cắp bất cứ thứ gì dù
chỉ là nhỏ nhất trừ một lần trong cuộc chiến
đấu ác liệt với kẻ thù, nhưng trường hợp
này cũng chỉ do người khác kể lại còn
chúng ta cũng không chắc chắn đó có phải
là sự thật hay không. Chàng đưa ra những
mưu kế xảo quyệt nhất trong chiến tranh và
đã nhiều lần thoát khỏi bàn tay độc ác của
những tên khổng lồ và bộ tộc ăn thịt người.
Không ai biết làm cách nào chàng có thể
làm được điều đó nhưng có một điều chắc
chắn là Ulysses luôn biết cách vận dụng tối
đa món quà trí tuệ mình được ban tặng
trong những tình huống khó khăn, nguy
hiểm nhất.
Ngay khi Ulysses sinh ra, ông ngoại
của chàng đã đến thăm con gái và con rể
trên đảo Ithaca. Ông yêu quý cô con gái
xinh đẹp của mình và muốn được nhìn thấy
đứa cháu ngoại kháu khỉnh mà ông đoán khi
lớn lên nó sẽ rất thông minh. Ông đang ngồi
dùng bữa tối thì vú nuôi của Ulysses là
Eurycleia bế cậu bé đến, đặt cậu lên vào
lòng ông nội và nói:
- Ngài hãy tìm một cái tên thích hợp
để đặt cho cháu ngoại của mình vì đây là
một đứa con cầu tự, vua và hoàng hậu phải
cầu nguyện rất nhiều mới có được cậu ấy.
Autolycus đáp lại:
- Ta tức giận và căm ghét rất nhiều
người trên thế giới này bởi chúng chỉ là một
lũ ngốc, hèn nhát, vì vậy hãy đặt tên cho
đứa trẻ với ý nghĩa là Cậu bé bị phỏng
chân. Như vậy nếu theo tiếng Hi Lạp thì tên
của cậu cháu ngoại yêu quý của ta là
Odysses. Thần dân và những người trong
đất nước của nó sẽ gọi nó là Odysses nên
cái tên đó sẽ được chuyển thành Ulysses và
chúng ta sẽ gọi nó là Ulysses.
Đúng vậy, ông ngoại của Ulysses đã
đặt tên cho chàng và chàng chịu nhiều ảnh
hưởng của ông ngoại. Chúng ta không biết
nhiều về tuổi thơ của Ulysses bởi nó diễn ra
rất bình yên, hầu như không có sự kiện biến
động nào. Một điểm duy nhất ta có thể nghe
nói về thời thơ ấu của chàng là Ulysses luôn
chạy theo cha mình xung quanh vườn và hỏi
những câu hỏi mà ngay cả cha chàng cũng
khó có thể đưa ra lời giải đáp hợp lý. Chàng
luôn xin cha cho cậu có những cây ăn quả
của riêng mình. Ulysses là con trai duy nhất
nên bố mẹ chàng rất cưng chiều và cố gắng
dành cho chàng những điều tốt đẹp nhất.
Cha chàng tặng chàng mười ba cây lê, bốn
mươi cây vải và hứa sẽ trồng cho chàng
năm mươi giàn nho sai trĩu quả, như vậy
chàng có thể ăn trái cây bất cứ lúc nào
chàng thích mà không cần hỏi ý kiến của
người trông vườn. Thực ra không phải tự
nhiên cha chàng lại làm như vậy, ông muốn
đáp ứng sở thích của chàng để chàng không
vì thèm ăn và hái trộm trái cây giống ông
ngoại của mình. Vua Laertus kính trọng cha
vợ của mình nhưng ông không muốn con
trai mình học tập một vài thói quen và bản
tính của ông trong đó có thói quen ăn cắp.
Đức vua muốn cậu con trai duy nhất của
mình phải trở thành một người đàn ông
thông minh, dũng cảm và quan trọng là phải
đường hoàng, được mọi người kính trọng.
Vua Aulolycus đặt tên cho Ulysses
và nói rằng khi cậu bé lớn lên, cậu phải đến
nhà ông và ông sẽ dành tặng cho cậu một
món quà tuyệt vời mà không phải đứa trẻ
nào cũng có. Ulysses được cha mẹ kể lại
câu chuyện này và khi đã trở thành một
chàng traiuôi thuyền băng qua biển đến
thăm ông ngoại trên đỉnh Parnassus. Mọi
người nơi đây đều chào đón chàng và ngày
hôm sau các chú và anh em họ của chàng
vào rừng săn một con lợn rừng hung dữ
nhất đã khiến cho bao nhiêu thợ săn bị
thương. Có thể Ulysses sẽ mang theo chú
chó của mình tên là Argos - một trong
những chú chó săn tốt nhất và chúng ta sẽ
được biết đến chú chó săn này trong những
câu chuyện phía sau bởi đây là một con chó
rất khôn, sống lâu đời, lâu hơn hẳn những
con chó bình thường khác. Ngay sáng sớm
hôm đó, mọi người bắt đầu khởi hành.
Những con chó săn được thả ra để truy tìm
dấu vết và mùi của con lợn rừng hung dữ, đi
sau chúng là những người đàn ông khoẻ
mạnh tay lăm lăm những cây giáo sáng
loáng sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp
cần thiết. Ulysses chạy đầu tiên bởi chàng là
người chạy nhanh nhất trong toàn bộ đất
nước Hi Lạp. Mặc dù chỉ là một chàng trai
trẻ, chưa có kinh nghiệm săn bắn nhưng
Ulysses rất dũng cảm và không ngại đối mặt
với nguy hiểm, thử thách. Đến thăm ông
ngoại, chàng lại được tham gia vào chuyến
đi săn thú nên chàng cảm thấy rất phấn
khích và muốn đạt được một thành tích nào
đó chứng tỏ cho mọi người thấy mình là
người có khả năng. Bên cạnh đó, chàng
muốn thử sức mình, thử lòng dũng cảm của
mình, thử xem mình cảm thấy như thế nào
trước sự nguy hiểm, trước những gian nan,
thử thách.
Ulysses nhìn thấy một con lợn rừng
lớn đang nằm trong bụi cây dương xỉ và
xung quanh là những bụi cây dại rậm rạp
khác. Đó là một nơi cây cối phủ kín đến nỗi
cả ánh nắng mặt trời hay mưa gió cũng
không thể len vào bên trong được. Con lợn
lớn nằm trong góc tối như thể nó chẳng biết
gì đến xung quanh, đến những người đang
tìm cách giết chết nó. Khi mọi người hò hét
và những con chó săn sủa inh ỏi, con lợn
rừng bị đánh thức bèn nhảy lên, lông trên
lưng dựng đứng, đôi mắt ánh lên những
đốm lửa giận dữ. Ulysses là người đầu tiên
giơ giáo lao vào con lợn khổng lồ nhưng nó
quá nhanh nhẹn nên chàng đã đâm trượt. Nó
chạy sang một bên né nhát đâm của Ulysses
và đâm thẳng chiếc sừng sắc nhọn của mình
vào đùi của chàng trai trẻ. Tuy nhiên,
Ulysses chỉ bị thương phần mềm và nhanh
chóng chàng giơ giáo đâm thẳng vào vai
của con thú khiến nó lảo đảo vì đau đớn rồi
lăn ra chết. Mấy chú của Ulysses băng bó
vết thương của chàng hết sức cẩn thận và
hát một bài hát thần tiên với hi vọng chàng
trai trẻ sẽ không cảm thấy quá đau đớn và
vết thương của chàng sẽ nhanh lành. Đó là
bài hát về những người lính nước Pháp
muốn làm một vài việc gì đó cho nàng Joan
của thành Arch khi một mũi tên nhọn đâm
vào vai nàng tại Orleans. Sau đó máu ngừng
chảy và vết thương của Ulysses phục hồi
nhanh chóng. Thật là một phép thần kỳ và
ngay chính bản thân Ulysses cũng không
ngờ mình lại hết đau nhanh đến thế. Mọi
người nghĩ rằng chàng trai trẻ sẽ trở thành
một chiến binh dũng cảm, họ tặng cho
chàng những món quà đặc biệt. Khi về tới
nhà, chàng kể lại toàn bộ sự việc cho cha,
mẹ và vú nuôi Eurycleia của mình. Mặc dù
vết thương đã khỏi nhưng nó để lại một vết
sẹo trắng dài trên đầu gối trái của chàng.
Nhiều năm về sau chúng ta vẫn còn nghe
thấy những câu chuyện thú vị về vết sẹo và
cũng chính vết sẹo này giúp cho những
người thân của chàng nhận ra được thân
phận thực sự của Ulysses. Tất cả những gì
mới được kể ra ở đây chỉ là sự khởi đầu và
sau đây là rất nhiều câu chuyện thú vị khác
đang đợi chúng ta ở phía trước.
CHƯƠNG 2
CUỘC SỐNG THỜI ULYSSES
align=“justify” fileposid=“filepos64675”>
Khi Ulysses còn là một chàng trai
trẻ, chàng mong ước sẽ cưới một nàng công
chúa xinh đẹp, có địa vị ngang bằng với
mình. Trong thời gian đó có rất nhiều đức
vua cai trị một vùng lãnh thổ nhỏ trên đất
nước Hi Lạp và các bạn nên biết thêm một
số thông tin về cuộc sống của họ vào thời
bấy giờ. Mỗi ông vua cai trị một lãnh thổ
riêng của mình, mỗi vương quốc có một thị
trấn trung tâm là nơi đức vua, hoàng hậu và
gia đình của họ sinh sống. Đặc biệt mỗi thị
trấn chính có những bức tường đá lớn bao
xung quanh giống như một bức bình phong
che chắn. Có rất nhiều bức tường đá vẫn
còn tồn tại cho đến tận ngày nay nhưng cỏ
dại và những bụi cây nhỏ mọc đầy trên
những đống đổ nát. Nhiều năm về sau mọi
người cho rằng những bức tường đá cao
đáng kinh ngạc chắc chắn phải do những
người khổng lồ xây dựng bởi những tảng đá
tạo nên chúng rất lớn, lớn hơn rất nhiều so
với kích thước một con người bình thường.
Mỗi ông vua có những quý tộc và những
người thân cận ở dưới quyền ông, những
thần dân đều có toàn bộ lâu đài của họ. Mỗi
lâu đài có sân rộng với hành lang dài, trong
sân cung điện mọi người thường đốt lửa
mỗi khi có sương mù tạo nên một khung
cảnh huyền ảo. Khói lửa hoà quyện với
sương mù tạo thành một bức bình phong
mỏng bao phủ lấy cảnh vật, khiến cho
chúng mang đậm màu sắc cổ tích. huyền
thoại. Vua và hoàng hậu ngồi trên ngai vàng
của mình giữa bốn cột lớn được chạm khắc
cầu kỳ vừa dùng để trang trí, vừa dùng để
chống đỡ mái nhà. Ngai vàng được làm từ
gỗ cây tuyết tùng và ngà voi, cột được dát
vàng, có rất nhiều ghế và bàn nhỏ dành cho
khách. Tường và cửa ra vào cũng được mạ
đồng, vàng, bạc và những mảnh thuỷ tinh
màu xanh. Cũng có trường hợp tường được
bao phủ bởi những bức tranh của đám thợ
săn đang săn bò và cho đến tận ngày nay
chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một vài bức
tranh tại những lâu đài cổ đó. Vào ban đêm,
mọi người đốt đuốc và đặt vào trong tay của
những bức tượng bằng vàng nhưng khói
phát ra từ lửa và từ những bó đuốc bốc lên
trên không trung qua những lỗ thông gió
trên mái nhà khiến cho chúng bị đen xạm.
Điều đó là không thể tránh khỏi đối với việc
sử dụng lửa và đuốc làm phương tiện thắp
sáng trên tường có treo những thanh kiếm,
giáo mũ và lá chắn. Tuy nhiên, các ông vua
cũng cử ra một vài người chuyên trách việc
lau chùi những đồ vật này bởi tàn khói
thường xuyên bám lên chúng, khiến chúng
bị bẩn. Bên cạnh Đức vua và Hoàng hậu
luôn có một người hát rong hoặc một nhà
thơ, sau khi dùng bữa tối xong họ sẽ cất lên
những bài hát hoặc kể những câu chuyện về
chiến tranh. Vào thời đó, đây chính là một
hình thức giải trí của vua, hoàng hậu và
những người thuộc dòng dõi hoàng tộc. Vào
ban đêm, Đức vua và Hoàng hậu ngủ trong
lâu đài riêng của mình, phụ nữ có phòng
riêng, các công chúa ngủ trong phòng trên
tầng và các hoàng tử nhỏ có phòng riêng
được xây dựng tách ra trong sân. Đối với
chúng ta thời nay thì đây là những điều
hoàn toàn lạ lẫm bởi cuộc sống của chúng ta
khác hẳn, hiện đại hơn, tấp nập hơn so với
mọi người thời bấy giờ. Tuy nhiên. qua sách
vở và qua phần giới thiệu này, các bạn có
thể hiểu thêm một vài thông tin về cuộc
sống thời xa xưa nơi ánh sáng văn minh
chưa chiếu tới. Vào thời bấy giờ, những bậc
vương giả, những người giàu có thường
trang trí nhà của mình bằng những hình vẽ
đẹp, những đồ trang trí liên quan nhiều đến
chiến tranh, săn bắt vì đây là những hiện
tượng phổ biến, chiếm phần lớn thời gian
của mỗi quốc gia. Ngoài ra, đó cũng là dấu
hiệu giúp chúng ta phân biệt những người
giàu có với những người bình thường.
Trong những lâu đài của Đức vua và
Hoàng hậu có nhiều phòng tắm với bồn tắm
bóng loáng dành cho khách. Sau mỗi
chuyến đi dài, khách đến thăm có thể tắm
rửa, tẩy sạch bụi trần và tận hưởng sự sảng
khoái, thư giãn cùng với nước. Có một điều
đặc biệt ở đây là nếu khách đến chơi qua
đêm thì họ sẽ ngủ trên những chiếc giường
kê ở bên dưới mái cổng hay nói cụ thể hơn
là mái tạo thành cửa vào của lâu đài bởi khí
hậu rất ấm và khô ráo. Có rất nhiều người
phục vụ trong mỗi lâu đài vần lớn trong số
họ là tù binh bắt được trong chiến tranh.
Tuy nhiên, họ được đối xử tử tế không
giống như những nô lệ vào thời chiếm hữu
nô lệ và ngược lại họ cũng rất thân thiện và
trung thành với ông chủ. Các ông chủ
không ngược đãi nô lệ của mình nên vào
thời bấy giờ không có hiện tượng nô lệ vùng
lên đấu tranh đòi quyền tự do. Thêm vào đó,
thời này người ta không dùng tiền làm
phương tiện trung gian để trao đổi hàng hoá,
mọi người dùng đồ vật để trả cho đồ vật
hoặc dùng vàng để trả cho chủ sở hữu của
một món đồ nào đó nếu bạn muốn có
chúng. Người giàu có sở hữu rất nhiều cốc
vàng, kiếm mạ vàng hay vòng cổ, vòng tay
bằng vàng. Đức vua chính là vị chỉ huy tối
cao trong chiến tranh và là người đàm phán
khi hoà bình được lập. Họ là những người
sùng bái thần thánh, chính vì vậy phong tục
cúng tế thần linh xuất hiện từ rất lâu đời.
Thường thì họ dùng gia súc, gia cầm cúng
thần linh sau đó làm thịt ăn, coi đây là
những món ăn đã được thần linh phù hộ.
Trước mỗi một sự kiện dù nhỏ, họ cùng cầu
khấn thần linh, xin sự ủng hộ của các thần
và đây là một đặc điểm tôn giáo mang dậm
màu sắc đặc trưng.
Mọi người ăn mặc rất đơn giản chứ
không cầu kì như ngày nay. Thường thì
trang phục của họ chỉ là những chiếc áo,
váy dài làm bằng len hoặc lụa trải dài xuống
kín chân, có thắt lưng ở quanh eo. Mặc quần
áo ngắn hơn hay dài hơn là tuỳ theo sở thích
và lựa chọn của mỗi người. Trong trường
hợp, mọi người muốn mặc trang phục kín
cổ, họ dùng trâm để cài, đó là những chiếc
châm rất đẹp và có ghim đính. Trang phục
này giống như những chiếc áo choàng len
mà những người sống ở vùng cao nguyên và
vùng núi thường mặc: những chiếc áo
choàng dài có thắt lưng và trâm cài. Khi
thời tiết trở lạnh, người Hi Lạp mặc những
chiếc áo choàng làm từ vải len nhưng họ lại
không sử dụng chúng trong chiến tranh. Khi
tham gia vào chiến trận, mọi người thường
thắt chặt giáp ngực của mình và có áo giáp
che chắn những phần dưới của cơ thể, phần
áo giáp phía chân được gọi là phần giáp che
ống chân, trong khi đó những chiếc lá c lớn
giúp chiến binh che chắn toàn bộ cơ thể từ
cổ đến mắt cá có dây treo chắc chắn đeo
quanh cổ. Kiếm được treo ở một dây thắt
lưng khác, buộc chéo với dây treo ná chắn.
Khi hoà bình, mọi người đi những đôi giày
sáng nhưng trong chiến tranh họ đi ủng cao
và nặng hơn.
Phụ nữ cũng mặc áo dài nhưng với
nhiều trâm cài và đồ trang sức hơn trang
phục của nam giới. Ngoài ra, họ cũng đội
mũ, khăn và áo choàng không tay. Họ đeo
vòng cổ bằng vàng, đá quý, khuyên tai và
vòng tay bằng vàng hay bằng đồng. Màu
sắc của trang phục rất đa dạng và tuỳ theo
thẩm mỹ và lựa chọn của từng người, tuy
nhiên màu chủ đạo là màu trắng và màu tía
Trong đám tang, họ mặc quần áo màu xanh
đậm chứ không phải màu đen như chúng ta
ngày nay. Áo giáp, lưỡi kiếm và mũi giáo
không được làm từ thép hay sắt mà làm từ
hỗn hợp đồng : hợp chất của đồng và kẽm.
Ná chắn được làm với kích thước dày với
vài chiếc lông vũ có mạ đồng ở phía trên ;
những công cụ khác như rùi, cày cũng được
làm từ sắt hoặc đồng. Dao và quốc xẻng
cũng vậy. Qua đây chúng ta có thể thấy rằng
đồng là kim loại được sử dụng rộng rãi, phổ
biến trong các vương quốc bởi kim loại này
rất phong phú và dễ sử dụng.
Hai từ thời trang không phổ biến
trong các vương quốc bởi quan niệm thẩm
mỹ của họ rất đơn giản. Thứ trang trí duy
nhất của phụ nữ là trâm, vòng cổ, vòng tay,
khuyên tai và những người giàu có thì có
những đồ trang trí bằng vàng, những người
nghèo hơn chỉ có đồ làm bằng đồng. Phụ nữ
cũng không có nhiều cơ hội và thời gian
làm đẹp như phụ nữ thời hiện đại. Mọi thứ
đều diễn ra rất đơn giản và cuộc sống của
họ vào thời bình cũng chẳng hề có nhiều
biến động.
Với chúng ta, nhà cửa và cách sống
có ý nghĩa hết sức quan trọng nhưng ở một
vài khía cạnh nào đó thì cũng rất khó khăn.
Trong thời buổi bây giờ, để có thể sống sót
và phát triển theo đúngnó, chúng ta phải đấu
tranh và cuộc đấu tranh này không kém
phần khốc liệt so với những cuộc chiến
tranh tranh giành quyền lực, đất đai thời
xưa. Còn vào thời Ulysses, nếu là những
bậc vương giả thì họ rất chú ý đến lâu đài và
nhà ở của mình, chính vì vậy cho đến tận
ngày nay chúng ta vẫn còn thấy dấu ấn của
nhiều lâu đài tráng lệ, có kiểu cách xây
dựng và trang trí đặc sắc. Trên sàn lâu đài
hay ít nhất là trong nhà của Ulysses còn
vương vãi đâu đó xương và chân của những
chú bò bị giết lấy thịt nhưng điều này xảy ra
khi Ulysses đang ở xa nhà. Sàn đại sảnh
trong nhà của Ulysses không được kết từ
những tấm ván hay lát bằng đá mà làm từ
đất sét bởi cha chàng là một vị vua nghèo so
với những ông vua trên những hòn đảo
khác. Hòn đảo của chàng chỉ là một hòn
nhỏ, ít giao lưu buôn bán với những đất
nước khác. Mọi người sống dựa trên nguyên
tắc tự cung, tự cấp là chính. Các món ăn
được nấu đơn giản : thịt hay cừu bị giết lấy
thịt, nướng lên và ăn ngay. Chúng ta không
bao giờ nghe nói đến món thịt luộc trong
thời kỳ này mặc dù cũng có thể họ ăn cá
nhưng không có một câu chuyện hay tài liệu
nào nói rằng họ luộc cá lên. Tuy nhiên, chắc
hẳn vào thời đó mọi người rất thích ăn cá
bởi trong nhiều bức tranh được vẽ hoặc
được khắc trên đá quý chúng ta có thể bắt
gặp hình ảnh của một ngư dân đang cởi trần
đi về nhà, trên tay mang một con cá lớn.
Cũng có thể do đây là một hòn đảo bốn phía
là biển nên cá, thuỷ sản là nguồn lương thực
dồi dào, đáp ứng được nhu cầu của tất cả
mọi người trong nước.
Không thể phủ nhận rằng thời đó
mọi người dân đều có thể coi là những thợ
thủ công lành nghề trong lĩnh vực làm đồ
vàng và đồng. Hàng trăm loại trang sức
bằng vàng do họ làm ra đã được tìm thấy
trong những ngôi mộ của họ sau khi họ chết
đi nhưng có lẽ chúng được làm và chôn
cách thời Ulysses từ hai đến ba thế kỉ. Trên
lưỡi cuốc xẻng có khắc những bức tranh của
những cuộc vật lộn với sư tử, tranh về hoa
và những vật dụng này được dát vàng với
nhiều màu sắc khác nhau và được dát bạc.
Có thể nói ngày nay hầu không có bất cứ đồ
vật nào có hình vẽ nào đẹp như vậy. Quả
thật nền văn hoá thời xa xưa tuy thô sơ
nhưng vô cùng đặc sắc, ấn tượng và khó có
thể bắt chước được. Trên một vài những
chiếc cốc bằng vàng có hình ảnh của những
người đàn ông đang săn bò tót và đây là một
bức tranh phản ánh cuộc sống hàng ngày
của con người thời đó. Ai chẳng biết ngày
xưa mọi người sinh sống chủ yếu nhờ vào
săn bắt và hái lượm. Mặt khác mọi người
thường đưa những hình ảnh từ cuộc sống
vào trong tranh và các tác phẩm nghệ thuật
khác. Bình hoa và chai lọ làm bằng gốm sứ
được vẽ với nhiều hoa văn khác nhau. Ta có
thể dành cả ngày để nói về cuộc sóng, về
các phong tục, tập quán vào thời xa xưa
nhưng nhìn chung đó là một thế giới tuyệt
vời mà rất nhiều người chúng ta mơ ước.
Mọi người tin vào nhiều Thần cả các
nữ thần và các vị thần là nam giới, nhưng
tất cả bọn họ dù thuộc lĩnh vực nào thì đều
nằm dưới sự cai quản của Vị thần đứng đâu
là thần Dớt. Theo quan niệm của mọi người,
thần linh thường cao hơn con người bình
thường chúng ta và họ bất tử. Có một điểm
các vị thần giống con người là họ cũng phải
ăn, uống và ngủ nhưng họ ở trong những
toà lâu đài tráng lệ mà không một người
bình thường nào có thể có được. Mặc dù
nhiệm vụ của các vị thần là ban thưởng cho
những người tốt và trừng phạt những kẻ
xuất dám phá vỡ lời thề của mình và những
người đối xử tệ bạc với người lạ nhưng
cũng có rất nhiều câu chuyện được truyền
miệng nói rằng có một số vị thần hay thay
đổi, độc ác, ích kỉ và bị con người căm ghét.
Tôi không chắc xem có bao nhiêu người tin
vào những câu chuyện này hay độ chính xác
của chúng là bao nhiêu nhưng một điều
không thể phủ nhận được rằng tất cả mọi
người đều cảm thấy mình cần các vị thần và
nghĩ rằng nếu họ làm những việc tốt, sống
hiền lành, tốt bụng thì chắc chắn các vị thần
sẽ hài lòng và dành tặng cho họ những món
quà có ý nghĩa; ngược lại các vị thần cũng
căm ghét và khó chịu trước những gì đượcoi
là độc ác, xấu xa. Tuy nhiên, khi một người
nhận thức được rằng hành vi của họ là xấu
thì anh ta thường đổ mọi trách nhiệm lên
đầu các vị thần như thể chính họ đã sắp xếp
mọi thứ và anh ta không thể cưỡng lại được.
Tín ngưỡng là một cái gì đó hết sức thiêng
liêng và rất ít người dám làm điều mà họ
nghĩ rằng các vị thần không muốn. Tuy
nhiên, cũng có một vài trường hợp ngoại lệ,
một vài kẻ coi thần thánh chẳng là gì hay
thậm chí họ không tin rằng trên đời này tồn
tại những con người bất tử được gọi là thần.
Xét ở góc độ của chúng ta, những độc giả
trong thế kỉ hiện đại, chúng ta không thể
đưa ra một nhận xét chính xác tuyệt đối
nhất về những quan điểm nêu trên.
Có một phong tục hết sức thú vị là
các hoàng tử mua những người phụ nữ về
làm vợ và thường vợ của họ là các công
chúa. Để có được các nàng công chúa theo
mong muốn của mình, các hoàng tử phải
đổi gia súc, vàng, đồng và sắt, đôi khi
hoàng tử có được vợ do chàng đã hành động
dũng cảm. Tiêu chí đánh giá các đấng mày
râu vào thời này không phải là tiền bạc, của
cải mà là sức mạnh và sự dũng cảm của họ.
Một người đàn ông sẽ không bao giờ để con
gái họ lấy một người cố tình theo đuổi nàng
nếu nàng không thích anh ta, cho dù anh ta
đưa ra giá cao nhất. Một người đàn ông có
thể có nhiều vợ, các bà vợ cũng rất yêu quý
nhau và con cái của họ. Hầu như các bà vợ
có chung chồng không ghen ghét nhau bởi
phụ nữ thường tránh không tham dự vào
những cuộc tranh chấp, ẩu đả. Hiếm khi
thấy các bà vợ cãi nhau để tranh giành
chồng hay của cải bởi thực tế tiếng nói của
họ có rất ít trọng lượng và ngay từ nhỏ họ
đã được dạy dỗ là khi lớn lên phải trở thành
những người phụ nữ đảm đang, biết phục
tùng chồng. Các ông chồng để cho vợ mình
cai quản ngôi nhà và đưa ra những lời
khuyên bổ ích về mọi vấn đề mỗi khi cần
thiết. Một điều khó có thể chấp nhận được
là phụ nữ yêu một người đàn ông khác hơn
chồng của cô ta và có rất ít bà vợ giống như
vậy. Tuy nhiên, trong số một vài người ít ỏi
đó có một phụ n đẹp tuyệt trần và có thể nói
rằng đó là một trong những người phụ nữ
xinh đẹp nhất từ trước đến nay. Và để biết
được người phụ nữ đó l...
TROY VÀ HY LẠP
Tác giả : Andrew Lang
VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
ULYSSES - KẺ CƯỚP BÓC TRONG CÁC THÀNH PHỐ
CHƯƠNG 1
THỜI THƠ ẤU VÀ CHA MẸ CỦA ULYSESS
CHƯƠNG 2
CUỘC SỐNG THỜI ULYSSES
CHƯƠNG 3
CUỘC TRANH GIÀNH ĐỂ CÓ ĐƯỢC NÀNG HELEN
XINH ĐẸP Ở THÀNH TROY
CHƯƠNG 4
ĐÁNH CẮP NÀNG HELEN XINH ĐẸP
CHƯƠNG 5
CHIẾN THẮNG CỦA QUÂN THÀNH TROY
CHƯƠNG 6
TRẬN CHIẾN TRÊN THUYỀN
CHƯƠNG 7
CƠN LÔI ĐÌNH VÀ SỰ TRẢ THÙ CỦA PATROCLUS
CHƯƠNG 8
SỰ TÀN NHẪN CỦA ACHILLES VÀ VIỆC CHUỘC LẠI THI THỂ CỦA
HECTOR
CHƯƠNG 9
Á
Ắ
Ê
Ủ
À
ULYSSES ĐÁNH CẮP ĐƯỢC VẬT THIÊNG CỦA THÀNH TROY NHƯ
THẾ NÀO
CHƯƠNG 10
TRẬN CHIẾN VỚI CÁC NỮ CHIẾN BINH AMAZON VÀ MEMNON - CÁI
CHẾT CỦA ACHILLES
CHƯƠNG 11
ULYSSES ĐIỀU KHIỂN THUYỀN ĐI TÌM KIẾM CON TRAI CỦA
ACHILLES - SỰ DŨNG CẢM CỦA EURYPYLYS
CHƯƠNG 12
CÁI CHẾT CỦA PARIS
CHƯƠNG 13
ULYSSES PHÁT MINH RA CON NGỰA GỖ NHƯ THẾ NÀO
CHƯƠNG 14
THÀNH TROY THẤT THỦ VÀ NÀNG HELEN ĐƯỢC CỨU THOÁT
CUỘC PHIÊU LƯU CỦA ULYSSES
CHƯƠNG 1
CÁI CHẾT CỦA AGAMEMNON VÀ NỖI ĐAU ĐỚN CỦA ULYSSES
CHƯƠNG 2
NỮ PHÁP SƯ CIRCE, VÙNG ĐẤT CỦA NGƯỜI CHẾT VÀ CÁC NHÂN
ĐIỂU SIRENS
CHƯƠNG 3
HỒ NƯỚC XOÁY, QUÁI VẬT BIỂN VÀ CON CỪU CỦA THẦN MẶT TRỜI
TELEMACHUS ĐI TÌM CHA
CHƯƠNG 5
ULYSSES THOÁT KHỎI HÒN ĐẢO CỦA NỮ THẦN CALYPSO
CHƯƠNG 6
ULYSSES BỊ ĐẮM THUYỀN VÀ TỚI PHAEACIA
CHƯƠNG 7
ULYSSES TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG, CHÀNG ĐÓNG GIẢ LÀ MỘT KẺ ĂN
MÀY
CHƯƠNG 8
ULYSSES CẢI TRANG THÀNH NGƯỜI ĂN MÀY QUAY TRỞ VỀ LÂU
ĐÀI CỦA MÌNH
CHƯƠNG 9
ULYSSES GIẾT CHẾT BỌN NGƯỜI CẦU HÔN
CHƯƠNG 10
KẾT THÚC
CHƯƠNG 1
NHỮNG ĐỨA CON CỦA MÂY
CHƯƠNg 2
TÌM KIẾM BỘ LÔNG CỪU VÀNG
CHƯƠNG 3
ĐÁNH CẮP BỘ LÔNG CỪU VÀNG
THESEUS
CHƯƠNG 1
ĐÁM CƯỚI CỦA AETHRA
CHƯƠNG 2
THỜI NIÊN THIẾU CỦA THESEUS
CHƯƠNG 3
NHỮNG CHUYẾN THÁM HIỂM CỦA THESEUS
CHƯƠNG 4
THESEUS TÌM THẤY CHA
CHƯƠNG 5
HUY HIỆU CHIẾN THẮNG
CHƯƠNG 6
CHÀNG THESEUS Ở ĐẢO CRETE
CHƯƠNG 7
GIẾT CHẾT MINOTAUR
PERSEUS
CHƯƠNG 1
NÀNG DANAE BỊ CẦM TÙ
CHƯƠNG 2
LỜI THỀ CỦA PERSEUS
CHƯƠNG 3
PERSEUS VÀ ANDROMEDA
CHƯƠNG 4
PERSEUS TRẢ THÙ CHO MẸ MÌNH LÀ NÀNG DANAE
TÁC GIẢ ANDREW LANG
Thân tặng cuốn sách
Truyền thuyết thành Troy và Hi Lạp
Cho H. RIDER HAGGARD
(Nhà văn Anh, tác giả của cuốn truyện nổi
tiếng Kho báu của vua Solomon - ND).
VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Andrew Lang sinh ngày 31 tháng 5
năm 1844 tại Selkirk, Scotland, mất ngày 20
tháng 7 năm 1912. Mọi người thường gọi
ông là anh bạn Scots của những lá thư bởi
trong suốt cuộc đời mình ông đã viết rất
nhiều thư. Ông là một nhà thơ, một nhà tiểu
thuyết, một nhà phê bình văn học và là
người có nhiều đóng góp cho ngành Nhân
loại học. Hiện tại, ông được mọi người biết
đến nhiều nhất với tư cách là nhà sưu tầm
những câu chuyện dân gian và thần thoại.
Tại trường đại học St Andrews, các bài học
được đặt tên theo tên của ông.
Ông học tại Học viện Edinburge,
Đại học St. Andrews và đại học Balliol,
Oxford. Năm 1868, sau khi học xong năm
cuối, ông trở thành nghiên cứu sinh và sau
này là Hội viên danh dự của Trường cao
đẳng Merton. Sau khi tốt nghiệp, ông vừa
viết báo, vừa làm thơ, vừa là nhà phê bình
và nhà lịch sử, chính vì vậy ông nhanh
chóng trở nên nổi tiếng với tư cách là một
trong những nhà văn có tài và có năng lực
nhất vào thời bấy giờ. Nhưng chuyên ngành
ông dành nhiều thời gian và tâm huyết là
Chuyện dân gian và Nhân loại học.
Ngày nay, Lang được biết đến nhờ
những cuốn sách về chuyện dân gian, những
câu chuyện thần thoại và tôn giáo. Tác
phẩm xuất bản đầu tay của ông là Phong tục
và thần thoại, Nghi lễ và Tôn giáo (1887),
trong hai tác phẩm này ông giải thích những
nhân tố “phi lý” của thần thoại chính là
những gì còn sót lại của những hình thức
nguyên thuỷ. Cuốn Đi theo Tôn giáo của
ông chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng Người
nguyên thuỷ quý tộc vào thế kỷ XVIII.
Trong tác phẩm này, ông đề cập đến sự tồn
tại của những ý tưởng tinh thần siêu nhiên
giữa những bộ tộc được gọi là “hoang dã”,
nó tồn tại song song với những mối quan
tâm hiện đại vào thời bấy giờ về những sự
kiện huyền bí ở nước Anh. Truyền thuyết
thành Troy và Hi Lạp được xuất bản lần đầu
tiên năm 1902 bao gồm những câu chuyện
mang màu sắc thần thoại, huyền bí, hấp dẫn.
Sau đó cuốn sách được tái bản nhiều lần và
được in bằng nhiều thứ tiếng trên thế giới.
Nó lôi cuốn bao thế hệ trẻ em và cả người
lớ cho đến tận bây giờ. Tiếp theo là một loạt
các tuyển tập chuyện thần thoại khác của
ông được xuất bản, tạo thành Những cuốn
sách thần thoại của Andrew Lang.
ULYSSES - KẺ CƯỚP BÓC
TRONG CÁC THÀNH PHỐ
CHƯƠNG 1
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
THỜI THƠ ẤU VÀ CHA MẸ CỦA
ULYSESS
Ngày xửa ngày xưa, cách đây đã lâu
lắm rồi trên một hòn đảo nhỏ có tên là
Ithaca nằm ở bờ biển phía Tây của nước Hi
Lạp, có một ông vua tên là Laertes. Vương
quốc của ông là một vương quốc nhỏ có
nhiều núi nhấp nhô, hiểm trở. Nếu đến thăm
đất nước này, mọi người sẽ có cảm giác đây
chỉ là một tỉnh hay một khu vực của một
quốc gia chứ không phải là một đất nước
thống nhất với luật pháp và phong tục tập
quán riêng. Mọi người vẫn thường nói rằng
Ithaca giống như một chiếc lá chắn nằm
ngay trên mặt đại dương bao la. Chắc các
bạn sẽ nghĩ rằng đây là một đất nước có địa
hình bằng phẳng với những dải đồng bằng
rộng và những bãi cỏ xanh rờn thuận lợi cho
việc chăn thả gia súc. Tuy nhiên, vào thời
bấy giờ, Ithaca là một quốc gia nằm ở vùng
biển xa xôi, với hai đỉnh núi chính và một
thung lũng sâu ở giữa, chính vì vậy trông
đấtước này giống hệt một chiếc lá chắn
khổng lồ. Địa hình đất nước hiểm trở, gồ
ghề đến nỗi mọi người ở đây không nuôi
ngựa, trong khi vào thời này phương tiện đi
lại chính là xe ngựa với hai chú ngựa nhỏ
kéo phía trước. Trong đất nước Ithaca, mọi
người không bao giờ cưỡi ngựa và đặc biệt
trong chiến tranh họ không có kỵ binh. Khi
Ulysess, con trai của Laerter - đức vua nước
Ithaca lớn lên, chàng không bao giờ chiến
đấu trên xe ngựa bởi chàng không hề có bất
cứ con ngựa hay chiếc xe kéo nào. Chàng đi
bộ, chiến đấu trên đôi chân vững chắc của
mình giống như những người đàn ông khác
trong nước.
Đất nước Ithaca không có ngựa
nhưng bù lại họ có rất nhiều gia súc mà khó
ai có thể đếm chính xác được bao nhiêu
con. Cha của Ulysess có những đàn cừu lớn,
những đàn lợn béo tốt, những đàn cừu, dê,
nai, thỏ trên những ngọn đồi và trên vùng
đồng bằng trù phú. Đó là trên đất liền, còn
dưới biển khơi là hàng trăm nghìn loài cá
khác nhau với số lượng lớn đủ để phục vụ
nhu cầu lương thực của người dân Ithaca.
Mọi người nơi đây dùng lưới đánh cá, ngoài
ra họ còn dùng cần và móc câu để câu. Ai
nấy đều có công việc của mình và mọi
người luôn chăm chỉ làm việc để nuôi sống
bản thân và gia đình.
Xét về mọi khía cạnh, Ithaca là một
hòn đảo lý tưởng để sinh sống, làm việc và
tận hưởng một cuộc sống yên bình. Điều
kiện tự nhiên nơi đây cũng thuận lợi cho
công việc chăn thả gia súc. Mùa hè kéo dài
và hầu như không có mùa đông, có những
năm không khí lạnh ập đến nhưng giai đoạn
này cũng chỉ kéo dài có một vài tuần sau đó
chim én lại kéo về và các vùng đồng bằng
giống như một khu vườn được bao phủ bởi
cỏ cây, hoa lá. Từ những đoá hoa violet, hoa
loa kèn, hoa thuỷ tiên đến những đóa hoa
hồng đều đua nhau khoe sắc tạo nên một
bức tranh tuyệt đẹp. Phía trên là bầu trời
trong xanh, phía dưới là mặt biển xanh, hòn
đảo Ithaca giống như một chốn thiên đường
dành cho những người yêu thích cuộc sống
bình yên. Trên bờ biển lôi đền sơn màu
trắng trông thật tinh khiết và những nữ thần
rừng có những ngôi đền thờ nhỏ được xây
dựng bằng đá với những bụi hoa hồng gai
bao bọc xung quanh. Từng nét kiến trúc,
từng đặc điểm của cảnh vật thiên nhiên nơi
đây đều mang dấu ấn đặc trưng của Ithaca
mà không một đất nước nào trên vùng lãnh
thổ Hi Lạp có được.
Những hòn đảo khác nằm trong tầm
mắt của mọi người có rất nhiều đỉnh núi
cao, hiểm trở, trải dài như vô tận. Ngọn núi
này nối tiếp ngọn núi kia tím biếc dưới ánh
nắng mặt trời của hoàng hôn. Khó ai có thể
tưởng tượng ra khung cảnh này và khó ai có
thể cưỡng lại được vẻ đẹp của chúng nếu có
cơ hội được nhìn ngắm, thưởng thức. Trong
cuộc đời của mình, Ulysses đã đích thân
đến rất nhiều quốc gia giàu có, nhiều thành
phố lớn đông người sinh sống nhưng dù
chàng ở đâu, làm gì thì trái tim chàng luôn
hướng về hòn đảo nhỏ Ithaca, nơi chàng
được sinh ra, lớn lên, học cách chèo thuyền,
học cách lái tàu và cách sử dụng cung tên
cũng như làm thế nào để săn được những
con thú và hoẵng sống trong rừng rậm.
Ithaca là quê hương của chàng và không gì
có thể thay đổi được sự thật thiêng liêng đó.
Chàng yêu quê, luôn muốn làm mọi điều tốt
đẹp nhất cho quê hương của mình, cho
người dân của mình.
Mẹ của Ulysses là Anticleia, con gái
yêu của đức vua Autolycus sinh sống trên
một đỉnh núi cao trên đất liền. Vua
Autolycus là một trong những người đàn
ông xảo quyệt và khôn khéo nhất mà khó ai
có thể sánh kịp. Ông là một tay trộm lão
luyện, là bậc thầy của những tay trộm khác.
Ông có thể lấy cắp chiếc gối của một người
trong khi người đó đang gối dưới đầu nhưng
dường như ông không hề cảm thấy xấu hổ
về điều này. Ông coi đó là một khả năng đặc
biệt của mình và tin rằng có rất nhiều người
trên đất nước của ông cũng như trên những
nước khác đều mong muốn có được. Người
Hi Lạp có Thần Trộm tên là Hermes và vua
Autolycus tôn thờ vị thần này nên ông
thường học theo cách mà v hay làm. Mọi
người nơi đây có nhiều suy nghĩ tốt đẹp về
những trò lừa bịp xảo quyệt hơn là mối
nguy hại do sự không trung thực của ông
gây ra. Trong rất nhiều trường hợp, sự xảo
quyệt và láu cá đó giúp ích rất nhiều cho
người sở hữu nó. Ngoài ra có thể cả thần
Hermes và vua Autolycus chỉ sử dụng đức
tính đó của mình để làm người khác vui vẻ,
tạo nên những tiếng cười hóm hỉnh, những
trò đùa hài hước khiến không ai có thể nhịn
cười chứ không hề phục vụ cho mục đích
xấu hay hại người. Cũng giống như ông
ngoại của mình, Ulysses cũng rất thành thạo
trong lĩnh vực này. Chàng là người dũng
cảm, khôn ngoan và láu cá nhất nhưng
không bao giờ chàng ăn cắp bất cứ thứ gì dù
chỉ là nhỏ nhất trừ một lần trong cuộc chiến
đấu ác liệt với kẻ thù, nhưng trường hợp
này cũng chỉ do người khác kể lại còn
chúng ta cũng không chắc chắn đó có phải
là sự thật hay không. Chàng đưa ra những
mưu kế xảo quyệt nhất trong chiến tranh và
đã nhiều lần thoát khỏi bàn tay độc ác của
những tên khổng lồ và bộ tộc ăn thịt người.
Không ai biết làm cách nào chàng có thể
làm được điều đó nhưng có một điều chắc
chắn là Ulysses luôn biết cách vận dụng tối
đa món quà trí tuệ mình được ban tặng
trong những tình huống khó khăn, nguy
hiểm nhất.
Ngay khi Ulysses sinh ra, ông ngoại
của chàng đã đến thăm con gái và con rể
trên đảo Ithaca. Ông yêu quý cô con gái
xinh đẹp của mình và muốn được nhìn thấy
đứa cháu ngoại kháu khỉnh mà ông đoán khi
lớn lên nó sẽ rất thông minh. Ông đang ngồi
dùng bữa tối thì vú nuôi của Ulysses là
Eurycleia bế cậu bé đến, đặt cậu lên vào
lòng ông nội và nói:
- Ngài hãy tìm một cái tên thích hợp
để đặt cho cháu ngoại của mình vì đây là
một đứa con cầu tự, vua và hoàng hậu phải
cầu nguyện rất nhiều mới có được cậu ấy.
Autolycus đáp lại:
- Ta tức giận và căm ghét rất nhiều
người trên thế giới này bởi chúng chỉ là một
lũ ngốc, hèn nhát, vì vậy hãy đặt tên cho
đứa trẻ với ý nghĩa là Cậu bé bị phỏng
chân. Như vậy nếu theo tiếng Hi Lạp thì tên
của cậu cháu ngoại yêu quý của ta là
Odysses. Thần dân và những người trong
đất nước của nó sẽ gọi nó là Odysses nên
cái tên đó sẽ được chuyển thành Ulysses và
chúng ta sẽ gọi nó là Ulysses.
Đúng vậy, ông ngoại của Ulysses đã
đặt tên cho chàng và chàng chịu nhiều ảnh
hưởng của ông ngoại. Chúng ta không biết
nhiều về tuổi thơ của Ulysses bởi nó diễn ra
rất bình yên, hầu như không có sự kiện biến
động nào. Một điểm duy nhất ta có thể nghe
nói về thời thơ ấu của chàng là Ulysses luôn
chạy theo cha mình xung quanh vườn và hỏi
những câu hỏi mà ngay cả cha chàng cũng
khó có thể đưa ra lời giải đáp hợp lý. Chàng
luôn xin cha cho cậu có những cây ăn quả
của riêng mình. Ulysses là con trai duy nhất
nên bố mẹ chàng rất cưng chiều và cố gắng
dành cho chàng những điều tốt đẹp nhất.
Cha chàng tặng chàng mười ba cây lê, bốn
mươi cây vải và hứa sẽ trồng cho chàng
năm mươi giàn nho sai trĩu quả, như vậy
chàng có thể ăn trái cây bất cứ lúc nào
chàng thích mà không cần hỏi ý kiến của
người trông vườn. Thực ra không phải tự
nhiên cha chàng lại làm như vậy, ông muốn
đáp ứng sở thích của chàng để chàng không
vì thèm ăn và hái trộm trái cây giống ông
ngoại của mình. Vua Laertus kính trọng cha
vợ của mình nhưng ông không muốn con
trai mình học tập một vài thói quen và bản
tính của ông trong đó có thói quen ăn cắp.
Đức vua muốn cậu con trai duy nhất của
mình phải trở thành một người đàn ông
thông minh, dũng cảm và quan trọng là phải
đường hoàng, được mọi người kính trọng.
Vua Aulolycus đặt tên cho Ulysses
và nói rằng khi cậu bé lớn lên, cậu phải đến
nhà ông và ông sẽ dành tặng cho cậu một
món quà tuyệt vời mà không phải đứa trẻ
nào cũng có. Ulysses được cha mẹ kể lại
câu chuyện này và khi đã trở thành một
chàng traiuôi thuyền băng qua biển đến
thăm ông ngoại trên đỉnh Parnassus. Mọi
người nơi đây đều chào đón chàng và ngày
hôm sau các chú và anh em họ của chàng
vào rừng săn một con lợn rừng hung dữ
nhất đã khiến cho bao nhiêu thợ săn bị
thương. Có thể Ulysses sẽ mang theo chú
chó của mình tên là Argos - một trong
những chú chó săn tốt nhất và chúng ta sẽ
được biết đến chú chó săn này trong những
câu chuyện phía sau bởi đây là một con chó
rất khôn, sống lâu đời, lâu hơn hẳn những
con chó bình thường khác. Ngay sáng sớm
hôm đó, mọi người bắt đầu khởi hành.
Những con chó săn được thả ra để truy tìm
dấu vết và mùi của con lợn rừng hung dữ, đi
sau chúng là những người đàn ông khoẻ
mạnh tay lăm lăm những cây giáo sáng
loáng sẵn sàng chiến đấu trong trường hợp
cần thiết. Ulysses chạy đầu tiên bởi chàng là
người chạy nhanh nhất trong toàn bộ đất
nước Hi Lạp. Mặc dù chỉ là một chàng trai
trẻ, chưa có kinh nghiệm săn bắn nhưng
Ulysses rất dũng cảm và không ngại đối mặt
với nguy hiểm, thử thách. Đến thăm ông
ngoại, chàng lại được tham gia vào chuyến
đi săn thú nên chàng cảm thấy rất phấn
khích và muốn đạt được một thành tích nào
đó chứng tỏ cho mọi người thấy mình là
người có khả năng. Bên cạnh đó, chàng
muốn thử sức mình, thử lòng dũng cảm của
mình, thử xem mình cảm thấy như thế nào
trước sự nguy hiểm, trước những gian nan,
thử thách.
Ulysses nhìn thấy một con lợn rừng
lớn đang nằm trong bụi cây dương xỉ và
xung quanh là những bụi cây dại rậm rạp
khác. Đó là một nơi cây cối phủ kín đến nỗi
cả ánh nắng mặt trời hay mưa gió cũng
không thể len vào bên trong được. Con lợn
lớn nằm trong góc tối như thể nó chẳng biết
gì đến xung quanh, đến những người đang
tìm cách giết chết nó. Khi mọi người hò hét
và những con chó săn sủa inh ỏi, con lợn
rừng bị đánh thức bèn nhảy lên, lông trên
lưng dựng đứng, đôi mắt ánh lên những
đốm lửa giận dữ. Ulysses là người đầu tiên
giơ giáo lao vào con lợn khổng lồ nhưng nó
quá nhanh nhẹn nên chàng đã đâm trượt. Nó
chạy sang một bên né nhát đâm của Ulysses
và đâm thẳng chiếc sừng sắc nhọn của mình
vào đùi của chàng trai trẻ. Tuy nhiên,
Ulysses chỉ bị thương phần mềm và nhanh
chóng chàng giơ giáo đâm thẳng vào vai
của con thú khiến nó lảo đảo vì đau đớn rồi
lăn ra chết. Mấy chú của Ulysses băng bó
vết thương của chàng hết sức cẩn thận và
hát một bài hát thần tiên với hi vọng chàng
trai trẻ sẽ không cảm thấy quá đau đớn và
vết thương của chàng sẽ nhanh lành. Đó là
bài hát về những người lính nước Pháp
muốn làm một vài việc gì đó cho nàng Joan
của thành Arch khi một mũi tên nhọn đâm
vào vai nàng tại Orleans. Sau đó máu ngừng
chảy và vết thương của Ulysses phục hồi
nhanh chóng. Thật là một phép thần kỳ và
ngay chính bản thân Ulysses cũng không
ngờ mình lại hết đau nhanh đến thế. Mọi
người nghĩ rằng chàng trai trẻ sẽ trở thành
một chiến binh dũng cảm, họ tặng cho
chàng những món quà đặc biệt. Khi về tới
nhà, chàng kể lại toàn bộ sự việc cho cha,
mẹ và vú nuôi Eurycleia của mình. Mặc dù
vết thương đã khỏi nhưng nó để lại một vết
sẹo trắng dài trên đầu gối trái của chàng.
Nhiều năm về sau chúng ta vẫn còn nghe
thấy những câu chuyện thú vị về vết sẹo và
cũng chính vết sẹo này giúp cho những
người thân của chàng nhận ra được thân
phận thực sự của Ulysses. Tất cả những gì
mới được kể ra ở đây chỉ là sự khởi đầu và
sau đây là rất nhiều câu chuyện thú vị khác
đang đợi chúng ta ở phía trước.
CHƯƠNG 2
CUỘC SỐNG THỜI ULYSSES
align=“justify” fileposid=“filepos64675”>
Khi Ulysses còn là một chàng trai
trẻ, chàng mong ước sẽ cưới một nàng công
chúa xinh đẹp, có địa vị ngang bằng với
mình. Trong thời gian đó có rất nhiều đức
vua cai trị một vùng lãnh thổ nhỏ trên đất
nước Hi Lạp và các bạn nên biết thêm một
số thông tin về cuộc sống của họ vào thời
bấy giờ. Mỗi ông vua cai trị một lãnh thổ
riêng của mình, mỗi vương quốc có một thị
trấn trung tâm là nơi đức vua, hoàng hậu và
gia đình của họ sinh sống. Đặc biệt mỗi thị
trấn chính có những bức tường đá lớn bao
xung quanh giống như một bức bình phong
che chắn. Có rất nhiều bức tường đá vẫn
còn tồn tại cho đến tận ngày nay nhưng cỏ
dại và những bụi cây nhỏ mọc đầy trên
những đống đổ nát. Nhiều năm về sau mọi
người cho rằng những bức tường đá cao
đáng kinh ngạc chắc chắn phải do những
người khổng lồ xây dựng bởi những tảng đá
tạo nên chúng rất lớn, lớn hơn rất nhiều so
với kích thước một con người bình thường.
Mỗi ông vua có những quý tộc và những
người thân cận ở dưới quyền ông, những
thần dân đều có toàn bộ lâu đài của họ. Mỗi
lâu đài có sân rộng với hành lang dài, trong
sân cung điện mọi người thường đốt lửa
mỗi khi có sương mù tạo nên một khung
cảnh huyền ảo. Khói lửa hoà quyện với
sương mù tạo thành một bức bình phong
mỏng bao phủ lấy cảnh vật, khiến cho
chúng mang đậm màu sắc cổ tích. huyền
thoại. Vua và hoàng hậu ngồi trên ngai vàng
của mình giữa bốn cột lớn được chạm khắc
cầu kỳ vừa dùng để trang trí, vừa dùng để
chống đỡ mái nhà. Ngai vàng được làm từ
gỗ cây tuyết tùng và ngà voi, cột được dát
vàng, có rất nhiều ghế và bàn nhỏ dành cho
khách. Tường và cửa ra vào cũng được mạ
đồng, vàng, bạc và những mảnh thuỷ tinh
màu xanh. Cũng có trường hợp tường được
bao phủ bởi những bức tranh của đám thợ
săn đang săn bò và cho đến tận ngày nay
chúng ta vẫn có thể nhìn thấy một vài bức
tranh tại những lâu đài cổ đó. Vào ban đêm,
mọi người đốt đuốc và đặt vào trong tay của
những bức tượng bằng vàng nhưng khói
phát ra từ lửa và từ những bó đuốc bốc lên
trên không trung qua những lỗ thông gió
trên mái nhà khiến cho chúng bị đen xạm.
Điều đó là không thể tránh khỏi đối với việc
sử dụng lửa và đuốc làm phương tiện thắp
sáng trên tường có treo những thanh kiếm,
giáo mũ và lá chắn. Tuy nhiên, các ông vua
cũng cử ra một vài người chuyên trách việc
lau chùi những đồ vật này bởi tàn khói
thường xuyên bám lên chúng, khiến chúng
bị bẩn. Bên cạnh Đức vua và Hoàng hậu
luôn có một người hát rong hoặc một nhà
thơ, sau khi dùng bữa tối xong họ sẽ cất lên
những bài hát hoặc kể những câu chuyện về
chiến tranh. Vào thời đó, đây chính là một
hình thức giải trí của vua, hoàng hậu và
những người thuộc dòng dõi hoàng tộc. Vào
ban đêm, Đức vua và Hoàng hậu ngủ trong
lâu đài riêng của mình, phụ nữ có phòng
riêng, các công chúa ngủ trong phòng trên
tầng và các hoàng tử nhỏ có phòng riêng
được xây dựng tách ra trong sân. Đối với
chúng ta thời nay thì đây là những điều
hoàn toàn lạ lẫm bởi cuộc sống của chúng ta
khác hẳn, hiện đại hơn, tấp nập hơn so với
mọi người thời bấy giờ. Tuy nhiên. qua sách
vở và qua phần giới thiệu này, các bạn có
thể hiểu thêm một vài thông tin về cuộc
sống thời xa xưa nơi ánh sáng văn minh
chưa chiếu tới. Vào thời bấy giờ, những bậc
vương giả, những người giàu có thường
trang trí nhà của mình bằng những hình vẽ
đẹp, những đồ trang trí liên quan nhiều đến
chiến tranh, săn bắt vì đây là những hiện
tượng phổ biến, chiếm phần lớn thời gian
của mỗi quốc gia. Ngoài ra, đó cũng là dấu
hiệu giúp chúng ta phân biệt những người
giàu có với những người bình thường.
Trong những lâu đài của Đức vua và
Hoàng hậu có nhiều phòng tắm với bồn tắm
bóng loáng dành cho khách. Sau mỗi
chuyến đi dài, khách đến thăm có thể tắm
rửa, tẩy sạch bụi trần và tận hưởng sự sảng
khoái, thư giãn cùng với nước. Có một điều
đặc biệt ở đây là nếu khách đến chơi qua
đêm thì họ sẽ ngủ trên những chiếc giường
kê ở bên dưới mái cổng hay nói cụ thể hơn
là mái tạo thành cửa vào của lâu đài bởi khí
hậu rất ấm và khô ráo. Có rất nhiều người
phục vụ trong mỗi lâu đài vần lớn trong số
họ là tù binh bắt được trong chiến tranh.
Tuy nhiên, họ được đối xử tử tế không
giống như những nô lệ vào thời chiếm hữu
nô lệ và ngược lại họ cũng rất thân thiện và
trung thành với ông chủ. Các ông chủ
không ngược đãi nô lệ của mình nên vào
thời bấy giờ không có hiện tượng nô lệ vùng
lên đấu tranh đòi quyền tự do. Thêm vào đó,
thời này người ta không dùng tiền làm
phương tiện trung gian để trao đổi hàng hoá,
mọi người dùng đồ vật để trả cho đồ vật
hoặc dùng vàng để trả cho chủ sở hữu của
một món đồ nào đó nếu bạn muốn có
chúng. Người giàu có sở hữu rất nhiều cốc
vàng, kiếm mạ vàng hay vòng cổ, vòng tay
bằng vàng. Đức vua chính là vị chỉ huy tối
cao trong chiến tranh và là người đàm phán
khi hoà bình được lập. Họ là những người
sùng bái thần thánh, chính vì vậy phong tục
cúng tế thần linh xuất hiện từ rất lâu đời.
Thường thì họ dùng gia súc, gia cầm cúng
thần linh sau đó làm thịt ăn, coi đây là
những món ăn đã được thần linh phù hộ.
Trước mỗi một sự kiện dù nhỏ, họ cùng cầu
khấn thần linh, xin sự ủng hộ của các thần
và đây là một đặc điểm tôn giáo mang dậm
màu sắc đặc trưng.
Mọi người ăn mặc rất đơn giản chứ
không cầu kì như ngày nay. Thường thì
trang phục của họ chỉ là những chiếc áo,
váy dài làm bằng len hoặc lụa trải dài xuống
kín chân, có thắt lưng ở quanh eo. Mặc quần
áo ngắn hơn hay dài hơn là tuỳ theo sở thích
và lựa chọn của mỗi người. Trong trường
hợp, mọi người muốn mặc trang phục kín
cổ, họ dùng trâm để cài, đó là những chiếc
châm rất đẹp và có ghim đính. Trang phục
này giống như những chiếc áo choàng len
mà những người sống ở vùng cao nguyên và
vùng núi thường mặc: những chiếc áo
choàng dài có thắt lưng và trâm cài. Khi
thời tiết trở lạnh, người Hi Lạp mặc những
chiếc áo choàng làm từ vải len nhưng họ lại
không sử dụng chúng trong chiến tranh. Khi
tham gia vào chiến trận, mọi người thường
thắt chặt giáp ngực của mình và có áo giáp
che chắn những phần dưới của cơ thể, phần
áo giáp phía chân được gọi là phần giáp che
ống chân, trong khi đó những chiếc lá c lớn
giúp chiến binh che chắn toàn bộ cơ thể từ
cổ đến mắt cá có dây treo chắc chắn đeo
quanh cổ. Kiếm được treo ở một dây thắt
lưng khác, buộc chéo với dây treo ná chắn.
Khi hoà bình, mọi người đi những đôi giày
sáng nhưng trong chiến tranh họ đi ủng cao
và nặng hơn.
Phụ nữ cũng mặc áo dài nhưng với
nhiều trâm cài và đồ trang sức hơn trang
phục của nam giới. Ngoài ra, họ cũng đội
mũ, khăn và áo choàng không tay. Họ đeo
vòng cổ bằng vàng, đá quý, khuyên tai và
vòng tay bằng vàng hay bằng đồng. Màu
sắc của trang phục rất đa dạng và tuỳ theo
thẩm mỹ và lựa chọn của từng người, tuy
nhiên màu chủ đạo là màu trắng và màu tía
Trong đám tang, họ mặc quần áo màu xanh
đậm chứ không phải màu đen như chúng ta
ngày nay. Áo giáp, lưỡi kiếm và mũi giáo
không được làm từ thép hay sắt mà làm từ
hỗn hợp đồng : hợp chất của đồng và kẽm.
Ná chắn được làm với kích thước dày với
vài chiếc lông vũ có mạ đồng ở phía trên ;
những công cụ khác như rùi, cày cũng được
làm từ sắt hoặc đồng. Dao và quốc xẻng
cũng vậy. Qua đây chúng ta có thể thấy rằng
đồng là kim loại được sử dụng rộng rãi, phổ
biến trong các vương quốc bởi kim loại này
rất phong phú và dễ sử dụng.
Hai từ thời trang không phổ biến
trong các vương quốc bởi quan niệm thẩm
mỹ của họ rất đơn giản. Thứ trang trí duy
nhất của phụ nữ là trâm, vòng cổ, vòng tay,
khuyên tai và những người giàu có thì có
những đồ trang trí bằng vàng, những người
nghèo hơn chỉ có đồ làm bằng đồng. Phụ nữ
cũng không có nhiều cơ hội và thời gian
làm đẹp như phụ nữ thời hiện đại. Mọi thứ
đều diễn ra rất đơn giản và cuộc sống của
họ vào thời bình cũng chẳng hề có nhiều
biến động.
Với chúng ta, nhà cửa và cách sống
có ý nghĩa hết sức quan trọng nhưng ở một
vài khía cạnh nào đó thì cũng rất khó khăn.
Trong thời buổi bây giờ, để có thể sống sót
và phát triển theo đúngnó, chúng ta phải đấu
tranh và cuộc đấu tranh này không kém
phần khốc liệt so với những cuộc chiến
tranh tranh giành quyền lực, đất đai thời
xưa. Còn vào thời Ulysses, nếu là những
bậc vương giả thì họ rất chú ý đến lâu đài và
nhà ở của mình, chính vì vậy cho đến tận
ngày nay chúng ta vẫn còn thấy dấu ấn của
nhiều lâu đài tráng lệ, có kiểu cách xây
dựng và trang trí đặc sắc. Trên sàn lâu đài
hay ít nhất là trong nhà của Ulysses còn
vương vãi đâu đó xương và chân của những
chú bò bị giết lấy thịt nhưng điều này xảy ra
khi Ulysses đang ở xa nhà. Sàn đại sảnh
trong nhà của Ulysses không được kết từ
những tấm ván hay lát bằng đá mà làm từ
đất sét bởi cha chàng là một vị vua nghèo so
với những ông vua trên những hòn đảo
khác. Hòn đảo của chàng chỉ là một hòn
nhỏ, ít giao lưu buôn bán với những đất
nước khác. Mọi người sống dựa trên nguyên
tắc tự cung, tự cấp là chính. Các món ăn
được nấu đơn giản : thịt hay cừu bị giết lấy
thịt, nướng lên và ăn ngay. Chúng ta không
bao giờ nghe nói đến món thịt luộc trong
thời kỳ này mặc dù cũng có thể họ ăn cá
nhưng không có một câu chuyện hay tài liệu
nào nói rằng họ luộc cá lên. Tuy nhiên, chắc
hẳn vào thời đó mọi người rất thích ăn cá
bởi trong nhiều bức tranh được vẽ hoặc
được khắc trên đá quý chúng ta có thể bắt
gặp hình ảnh của một ngư dân đang cởi trần
đi về nhà, trên tay mang một con cá lớn.
Cũng có thể do đây là một hòn đảo bốn phía
là biển nên cá, thuỷ sản là nguồn lương thực
dồi dào, đáp ứng được nhu cầu của tất cả
mọi người trong nước.
Không thể phủ nhận rằng thời đó
mọi người dân đều có thể coi là những thợ
thủ công lành nghề trong lĩnh vực làm đồ
vàng và đồng. Hàng trăm loại trang sức
bằng vàng do họ làm ra đã được tìm thấy
trong những ngôi mộ của họ sau khi họ chết
đi nhưng có lẽ chúng được làm và chôn
cách thời Ulysses từ hai đến ba thế kỉ. Trên
lưỡi cuốc xẻng có khắc những bức tranh của
những cuộc vật lộn với sư tử, tranh về hoa
và những vật dụng này được dát vàng với
nhiều màu sắc khác nhau và được dát bạc.
Có thể nói ngày nay hầu không có bất cứ đồ
vật nào có hình vẽ nào đẹp như vậy. Quả
thật nền văn hoá thời xa xưa tuy thô sơ
nhưng vô cùng đặc sắc, ấn tượng và khó có
thể bắt chước được. Trên một vài những
chiếc cốc bằng vàng có hình ảnh của những
người đàn ông đang săn bò tót và đây là một
bức tranh phản ánh cuộc sống hàng ngày
của con người thời đó. Ai chẳng biết ngày
xưa mọi người sinh sống chủ yếu nhờ vào
săn bắt và hái lượm. Mặt khác mọi người
thường đưa những hình ảnh từ cuộc sống
vào trong tranh và các tác phẩm nghệ thuật
khác. Bình hoa và chai lọ làm bằng gốm sứ
được vẽ với nhiều hoa văn khác nhau. Ta có
thể dành cả ngày để nói về cuộc sóng, về
các phong tục, tập quán vào thời xa xưa
nhưng nhìn chung đó là một thế giới tuyệt
vời mà rất nhiều người chúng ta mơ ước.
Mọi người tin vào nhiều Thần cả các
nữ thần và các vị thần là nam giới, nhưng
tất cả bọn họ dù thuộc lĩnh vực nào thì đều
nằm dưới sự cai quản của Vị thần đứng đâu
là thần Dớt. Theo quan niệm của mọi người,
thần linh thường cao hơn con người bình
thường chúng ta và họ bất tử. Có một điểm
các vị thần giống con người là họ cũng phải
ăn, uống và ngủ nhưng họ ở trong những
toà lâu đài tráng lệ mà không một người
bình thường nào có thể có được. Mặc dù
nhiệm vụ của các vị thần là ban thưởng cho
những người tốt và trừng phạt những kẻ
xuất dám phá vỡ lời thề của mình và những
người đối xử tệ bạc với người lạ nhưng
cũng có rất nhiều câu chuyện được truyền
miệng nói rằng có một số vị thần hay thay
đổi, độc ác, ích kỉ và bị con người căm ghét.
Tôi không chắc xem có bao nhiêu người tin
vào những câu chuyện này hay độ chính xác
của chúng là bao nhiêu nhưng một điều
không thể phủ nhận được rằng tất cả mọi
người đều cảm thấy mình cần các vị thần và
nghĩ rằng nếu họ làm những việc tốt, sống
hiền lành, tốt bụng thì chắc chắn các vị thần
sẽ hài lòng và dành tặng cho họ những món
quà có ý nghĩa; ngược lại các vị thần cũng
căm ghét và khó chịu trước những gì đượcoi
là độc ác, xấu xa. Tuy nhiên, khi một người
nhận thức được rằng hành vi của họ là xấu
thì anh ta thường đổ mọi trách nhiệm lên
đầu các vị thần như thể chính họ đã sắp xếp
mọi thứ và anh ta không thể cưỡng lại được.
Tín ngưỡng là một cái gì đó hết sức thiêng
liêng và rất ít người dám làm điều mà họ
nghĩ rằng các vị thần không muốn. Tuy
nhiên, cũng có một vài trường hợp ngoại lệ,
một vài kẻ coi thần thánh chẳng là gì hay
thậm chí họ không tin rằng trên đời này tồn
tại những con người bất tử được gọi là thần.
Xét ở góc độ của chúng ta, những độc giả
trong thế kỉ hiện đại, chúng ta không thể
đưa ra một nhận xét chính xác tuyệt đối
nhất về những quan điểm nêu trên.
Có một phong tục hết sức thú vị là
các hoàng tử mua những người phụ nữ về
làm vợ và thường vợ của họ là các công
chúa. Để có được các nàng công chúa theo
mong muốn của mình, các hoàng tử phải
đổi gia súc, vàng, đồng và sắt, đôi khi
hoàng tử có được vợ do chàng đã hành động
dũng cảm. Tiêu chí đánh giá các đấng mày
râu vào thời này không phải là tiền bạc, của
cải mà là sức mạnh và sự dũng cảm của họ.
Một người đàn ông sẽ không bao giờ để con
gái họ lấy một người cố tình theo đuổi nàng
nếu nàng không thích anh ta, cho dù anh ta
đưa ra giá cao nhất. Một người đàn ông có
thể có nhiều vợ, các bà vợ cũng rất yêu quý
nhau và con cái của họ. Hầu như các bà vợ
có chung chồng không ghen ghét nhau bởi
phụ nữ thường tránh không tham dự vào
những cuộc tranh chấp, ẩu đả. Hiếm khi
thấy các bà vợ cãi nhau để tranh giành
chồng hay của cải bởi thực tế tiếng nói của
họ có rất ít trọng lượng và ngay từ nhỏ họ
đã được dạy dỗ là khi lớn lên phải trở thành
những người phụ nữ đảm đang, biết phục
tùng chồng. Các ông chồng để cho vợ mình
cai quản ngôi nhà và đưa ra những lời
khuyên bổ ích về mọi vấn đề mỗi khi cần
thiết. Một điều khó có thể chấp nhận được
là phụ nữ yêu một người đàn ông khác hơn
chồng của cô ta và có rất ít bà vợ giống như
vậy. Tuy nhiên, trong số một vài người ít ỏi
đó có một phụ n đẹp tuyệt trần và có thể nói
rằng đó là một trong những người phụ nữ
xinh đẹp nhất từ trước đến nay. Và để biết
được người phụ nữ đó l...
 





