BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Rèn luyện thói quen đọc sách - một việc nên làm

    Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, rồi tiến đến hiện tại, Sách và Văn hóa Đọc luôn được đề cao và tôn vinh, đây là nét đẹp mang giá trị văn hóa sâu sắc khó có thể phai nhòa theo năm tháng. Đọc sách giống như việc cái cây được tưới nước thường xuyên, con người chúng ta phát triển từng ngày nhờ quá trình đọc sách và tích lũy tri thức. Hẳn rằng để bàn về vai trò và giá trị mà sách mang đến, đã có biết bao cây bút dành sự ưu ái nhất định của mình cho đề tài này và rồi trở thành một tư tưởng nhân văn của thời đại. Ai cũng biết lợi ích của việc đọc, ai cũng biết giá trị từ sách, tôi tin rằng, ở thời điểm hiện tại đã có không ít bạn trẻ lấy việc đọc sách là mục tiêu để phấn đấu, rằng mỗi ngày dành 10 phút hay 30 phút đọc sách, một ngày phải đọc bao nhiêu trang, một tháng đọc bao nhiêu và một năm nhìn lại ta đã kinh qua bao cuốn sách. Nghe thì có vẻ là một kế hoạch hoàn hảo, nhưng thực tế, ta tự hỏi chính mình, rằng bản thân đã thực sự cố gắng và kỷ luật với việc đọc sách hay chưa?

    Ảnh ngẫu nhiên

    TG10.jpg Chau_Au.jpg Picture2.jpg CangBien.jpg Picture3.png

    Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng

    Tieng Chim Hot Trong Bui Man Ga - Colleen McCullough

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 12h:48' 07-03-2024
    Dung lượng: 5.2 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    TIẾNG CHIM HÓT TRONG BỤI
    MẬN GAI
    Nguyên tác: The Thorn Birds
    —★—
    Tác giả: Colleen McCulough
    Người dịch: Phạm Mạnh Hùng
    Dịch từ bản tiếng Nga của NXB Văn Học Moskva, 1980
    Nhà xuất bản Văn Học - 2001
    ebook©vctvegroup
    27-07-2018

    Lời giới thiệu
    Tiểu thuyết “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”
    xuất bản hồi mùa xuân 1977 cùng một lúc ở New
    York, San Francisco, London và Sydney. Ít lâu sau nó
    được dịch ra bảy thứ tiếng, được bạn đọc nhiệt liệt
    hoan nghênh và giới phê bình đánh giá cao. Suốt
    mấy năm trời, nó là tác phẩm ăn khách nhất ở
    phương tây. Điều đó cũng là công bằng, vì đây thực
    sự là một tác phẩm đặc sắc, có giá trị trong văn học
    phương tây hiện nay.
    Một điều đặc sắc nữa là tác giả của nó – Colleen
    McCullough không phải là nhà văn chuyên nghiệp,
    trước đó hầu như không ai biết tiếng. Khi tiểu thuyết
    “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” đem lại vinh dự
    cho tác giả thì McCullough vẫn chỉ là một nhân viên
    y tế bình thường. Bà sinh ở Úc, bang New South
    Wales, trong gia đình một công nhân xây dựng xuất
    thân từ Ireland. Thời thanh xuân McCullough ở
    Sydney, đã từng học trường của nhà thờ công giáo, từ
    bé đã mơ ước trở thành bác sĩ, nhưng không có điều
    kiện để qua đại học y. Bà đã thử làm một số nghề –
    làm báo, công tác thư viện, dạy học, rồi trở lại nghề y,
    qua lớp đào tạo chuyên môn về sinh lý học thần
    kinh. Sau đó, bà đã làm việc tại các bệnh viện ở
    Sydney, London, Birmingham, rồi sang Mỹ, làm việc
    tại một trường y thuộc trường đại học Yale. Năm
    1974 bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên, không có
    tiếng vang gì hết. “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”

    được thai nghén trong ngót bốn năm, rồi đầu mùa
    hè 1975, bà bắt tay vào viết liền một mạch trong
    mười tháng. Suốt thời gian ấy, bà vẫn bận túi bụi
    công việc ở bệnh viện, chỉ viết tác phẩm vào ban
    đêm và ngày chủ nhật.
    Tác phẩm này có thể gọi là “Xaga về gia đình
    Cleary”. Xaga là hình thức văn xuôi cổ có tính chất
    anh hùng ca, kể chuyện một cách điềm đạm về
    những con người hùng dũng. Cuốn tiểu thuyết này
    viết về lịch sử của nửa thế kỷ của ba thế hệ một gia
    đình lao động – gia đình Cleary. Loại tiểu thuyết lịch
    sử gia đình từ trước đã có những thành công lớn như
    thiên sử thi về dòng họ Foocxaitơ của Gônxuôcthy,
    “Gia đình Tibô” của Rôgiê máctanh duy Gar, “Gia
    đình Artamônôp” của M.Gorki. Đặc điểm chung của
    các tác phẩm đó là số phận gia đình tiêu biểu cho số
    phận của giai cấp tư sản, nó phản ánh sự phát triển
    và suy tôn của giai cấp tư sản, các thế hệ sau đoạn
    tuyệt với nền tảng truyền thống của gia đình. So
    sánh với những tác phẩm trên thì tác phẩm của
    McCullough có sự khác biệt, có cái độc đáo riêng của
    nó. Trước hết, đây là lịch sử của một gia đình lao
    động. Sự phát triển tính kế thừa và đổi mới của ba
    thế hệ gia đình này là hình mẫu thu nhỏ của lịch sử
    dân tộc. Các thế hệ sau kế thừa những nét tốt đẹp
    nhất của gia đình – tính cần cù, tự chủ, tính kiên
    cường đón nhận những đòn ác liệt của số phận, lòng
    tự hào gia đình, song đồng thời có những đổi khác
    nhịp bước với thời đại. Nếu Fiona gan góc chịu đựng
    mọi tai họa nhưng cam chịu số phận thì con gái bà là

    Meggie đã tìm cách cướp lấy hạnh phúc của mình từ
    tay Chúa Trời, và Justine, con gái của Meggie là một
    cô gái hiện đại, có những chuẩn mực đạo đức hoàn
    toàn khác. Cuốn tiểu thuyết xây dựng như truyện sử
    biên gia đình, tác giả tập trung vào những xung đột
    tâm lý – đạo đức nhiều hơn là những vấn đề giai cấp
    – xã hội. Các nhân vật tuy vẫn chịu ảnh hưởng của
    hoàn cảnh, nhưng chủ yếu là ứng xử theo tính cách
    riêng của mình nhiều hơn. Trong số nhiều nhân vật,
    nổi bật hơn cả là ba nhân vật – Fiona, Meggie con gái
    bà và cha đạo Ralph de Bricassart. Meggie có thể coi
    là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trong tiểu
    thuyết có nhiều tuyến tình tiết, nhiều môtíp, đề tài,
    song tất cả đều phục vụ câu chuyện chính, mối tình
    lớn lao trong sáng của Meggie và cha de Bricassart.
    Trong tác phẩm quy mô lớn này, những xung đột
    tâm lý – tinh thần của các nhân vật quyện chặt với
    sự miêu tả tỉ mỉ toàn cảnh lịch sử, địa lý, thiên
    nhiên. Thiên nhiên bao la, dữ dội nhưng có cái đẹp
    hoang sơ riêng của nó như hiện ra trước mắt bạn
    đọc. Giá trị nhận thức của tác phẩm do đó càng thêm
    đầy đủ. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người ở
    đây mang tính chất chung sống hài hòa, thiên nhiên
    chưa kịp uy hiếp đến nguy cơ hủy diệt.
    Tính hiện thực và tính lãng mạn trong tác phẩm
    này hòa lẫn vào nhau tới mức thuần nhị. Sự miêu tả
    tỉ mỉ bằng hình thức của bản thân đời sống, cả từ
    cách ăn mặc, lời ăn tiếng nói của nhân vật, cho đến
    cách xén lông cừu, nếp sống hàng ngày.v.v…, lối kể
    chuyện thong thả theo trình tự thời gian khiến cho

    tác phẩm gần với loại tiểu thuyết hiện thực thế kỷ 19.
    Nhưng những tính cách phi thường rực rỡ biểu hiện
    trong những biến cố đột ngột, đầy hấp dẫn tạo nên
    màu sắc lãng mạn rất rõ nét. Một tác phẩm văn học
    Mỹ thời nay, xa lạ với những cảnh hung bạo, với
    “sex”, với “phản nhân vật” đưa bạn đọc trở về với
    những vấn đề “nhà” (theo nghĩa quê hương) “cội
    nguồn”, “cha và con” mà lại được ham chuộng đến
    như thế ở phương tây thì điều đó chứng tỏ những
    vấn đề muôn thuở của nhân loại bao giờ cũng làm
    rung động lòng người ở bất cứ nơi nào trên hành
    tinh chúng ta.
    • PHẠM MẠNH HÙNG

    Tặng Jin Ixtkhôup “người chị của tôi”

    Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót có một
    lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có
    lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho
    bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó
    cất tiếng hót bài ca của mình và lao ngực vào
    chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi
    đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và
    tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và họa
    mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất, có một không
    hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được.
    Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính
    thượng đế trên thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì
    tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được
    khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại… Ít ra
    là truyền thuyết nói như vậy.

    I
    1915 – 1917

    MEGGIE

    1

    Ngày mùng tám tháng chạp năm 1915, Meggie

    tròn bốn tuổi. Sau bữa ăn sáng, thu dọn xong bát đĩa,
    mẹ lẳng lặng giúi vào tay bé một bọc giấy màu nâu
    và bảo bé ra sân chơi. Bây giờ Meggie ngồi xổm dưới
    bụi kim tước cạnh cổng và sốt ruột mân mê cái bọc
    giấy. Không dễ gì mở được lớp giấy bọc bền chắc
    bằng những ngón tay lóng ngóng; tờ giấy phảng phất
    hơi hướng của cửa hàng lớn ở Wahine, và Meggie
    đoán ra: cái vật ở bên trong không phải đồ vật tự làm
    lấy, không phải của ai cho, mà kỳ diệu thay, là vật
    mua ở cửa hàng.

    Ở một góc bọc đồ bắt đầu lộ rõ một cái gì mỏng
    mảnh, óng ánh vàng. Meggie càng nôn nóng phá bỏ
    lớp giấy bọc, bóc đi những dải dài nham nhở.
    – Agnes! Ôi, Agnes! – Nó nói bằng giọng trìu mến
    và chớp chớp hai hàng mi, không tin ở mắt mình
    nữa: nằm giữa đám giấy tơi tả là một con búp bê.
    Dĩ nhiên đấy là phép mầu nhiệm. Cả đời Meggie
    mới được đến Wahine có một lần – lâu lắm rồi, từ hồi
    tháng năm, nó được người lớn cho đi theo vì nó là
    con bé ngoan. Nó leo lên chiếc xe hai bánh bên cạnh

    mẹ và tỏ ra ngoan ngoãn không chê vào đâu được,
    nhưng vì xúc động, nó gần như không nhìn thấy gì
    và không nhớ gì, trừ có Agnes. Con búp bê xinh đẹp
    ngồi trên quầy, diện ghê lắm, váy phồng bằng lụa
    màu hồng trang điểm những đường viền đăng ten
    màu cream lộng lẫy. Ngay lúc đó Meggie đã đặt tên
    cho con búp bê là Agnes – nó không tìm ra cái tên
    nào kiều diễm hơn, xứng đáng với con bé đẹp phi
    thường như vậy. Nhưng mấy tháng dài đằng đẵng
    sau đó, nó chỉ mong nhớ Agnes một cách tuyệt vọng.
    Meggie chưa bao giờ có một con búp bê nào, thậm
    chí không hề nghĩ rằng búp bê là thứ dành riêng cho
    các em gái nhỏ tuổi. Nó rất vui vẻ chơi còi tu huýt,
    súng cao su và những chú lính thiếc méo mó mà các
    anh nó vất đi, tay nó bao giờ cũng lem luốc, giày dính
    bùn.
    Meggie thậm chí không hề có ý nghĩ Agnes là đồ
    chơi. Nó đưa tay vuốt những nếp gấp của bộ áo váy
    màu hồng thắm, – bộ áo váy lộng lẫy như thế chưa
    bao giờ nó nhìn thấy ở một người phụ nữ nào trong
    đời thực – và nó âu yếm bế con búp bê lên. Tay và
    chân Agnes có khớp nối, có thể xoay vặn và uốn gập
    tùy ý; ngay cả cổ và cái eo lưng thon thả cũng uốn
    gập được. Mái tóc vàng óng chải cao bồng và điểm
    những hạt ngọc, cái cổ màu hồng dịu để hở và đôi vai
    ló ra dưới lớp đăng ten lồng bồng như bọt sóng cài
    kim găm nạm ngọc. Gương mặt xinh xắn bằng sứ có
    tô màu, không tráng men bóng, nom mờ dịu hệt như
    mặt người thật. Đôi mắt đen linh lợi lạ thường sáng
    long lanh, hai hàng mi bằng sợi lông thật, mống mắt

    lấp lánh bắn ra tia sáng và có đường viền xanh sẫm;
    Meggie hoan hỉ nhận ra rằng nếu đặt Agnes nằm
    ngửa thì mắt nó nhắm lại. Một bên má hồng có cái
    nốt ruồi đen đen, cái miệng đỏ thẫm hơi hé mở, phô
    ra hàng răng nhỏ xíu trắng muốt. Meggie thu chân
    lại cho thoải mái, thận trọng đặt con búp bê lên đùi
    và ngồi nhìn nó không dứt.
    Con bé vẫn ngồi như thế dưới bụi cây khi Jack và
    Hughie ló ra từ trong đám cỏ cao (ở sát hàng rào khó
    cắt cỏ). Tóc Meggie cũng y như tóc của Cleary, chói
    rực như ngọn hải đăng: tất cả các con trong gia đình,
    trừ Frank, đều phải chịu đựng trừng phạt đó – đứa
    nào cũng tóc xoăn màu hung, chỉ có sắc thái khác
    nhau. Jack vui vẻ hích khuỷu tay vào em: nom kìa.
    Chúng nhìn nhau, cười khẩy và lén đến từ hai phía,
    như thể chúng là lính và vây bắt tên phản bội người
    Maori[1]. Nhưng dù sao Meggie cũng không thể nghe
    thấy tiếng động của chúng, nó chỉ mải mê với Agnes
    và lẩm nhẩm hát điệu gì với con búp bê.
    – Mày có cái gì đấy, Meggie? – Jack nhảy tới chỗ
    em gái. – Đưa xem nào!
    – Phải đấy, phải đấy, đưa xem đi! – Hughie vừa
    cười vừa hùa theo, nó từ phía bên kia chạy đến.
    Meggie ôm ghì con búp bê vào ngực, lắc đầu quầy
    quậy:
    – Không! Nó là của em! Quà mừng ngày sinh đấy!
    – Nào, đưa đây xem! Chúng tao chỉ xem lúc thôi
    mà!

    Niềm kiêu hãnh và vui sướng át mất sự thận
    trọng. Meggie giơ con búp bê lên cho các anh ngắm.
    – Xem đây này, đẹp đấy chứ? Tên nó là Agnes.
    – Agnes? Agnes à? – Jack làm ra vẻ hệt như
    nghẹn ngào. – Cái tên mĩ miều quá, chậc – chậc! Chỉ
    nên gọi nó một cách giản dị là Betty hay Margaret.
    – Không, nó là Agnes.
    Hughie nhận thấy cổ tay búp bê có khớp nối, nó
    huýt một tiếng sáo.
    – Ê. Jack, nhìn xem này! Nó có thể cử động tay
    được!
    – Thế à? Ta thử cái xem.
    – Không, không! – Meggie lại ôm ghì con búp bê
    vào ngực, mắt ứa lệ. – Các anh làm gãy mất. Ôi, Jack,
    đừng động đến nó, anh làm gãy mất thôi.
    – Hừ-ừ! – Bằng hai tay thô kệch ngăm đen và lem
    luốc, Jack nắm chặt lấy hai cổ tay em gái. – Mày
    muốn tao vặn tay mày à? Đừng có choe chóe lên, con
    bé hay nhè, không thì tao bảo Bob cho đấy. – Nó bắt
    đầu giơ tay em ra mạnh đến nỗi hai tay con bé trắng
    bệch ra, còn Hughie nắm lấy váy con búp bê mà giật.
    – Bỏ ra, không thì khốn đấy.
    – Đừng, Jack! Thôi xin anh! Anh làm gãy nó mất,
    em biết, gãy mất! Ôi, buông nó ra! Đừng động đến,
    em xin mà!
    Meggie rất đau, nó nức nở, giậm chân và vẫn ôm
    ghì con búp bê vào ngực.

    Nhưng cuối cùng Agnes tuột khỏi tay nó.
    – A ha, được rồi! – Hughie gào lên.
    Jack và Hughie loay hoay với món đồ chơi mới
    cũng mê mải như em gái chúng trước đó, chúng lột
    bỏ khỏi búp bê bộ áo liền váy, váy trong, quần lót có
    đường viền. Agnes trần truồng nằm đó, hai thằng bé
    lôi kéo giằng giật nó, vắt một chân nó ra sau đầu, còn
    đầu thì vặn phía sau ra phía trước, uốn gập và vặn
    vẹo đủ kiểu. Nước mắt của con em không hề làm
    chúng mủi lòng, còn Meggie cũng không nghĩ đến
    chuyện tìm sự cứu giúp ở đâu cả: tục lệ trong gia
    đình Cleary là như vậy – không tự bảo vệ được mình
    thì đừng hy vọng được ủng hộ và đồng tình, dù là
    một bé gái đi nữa.
    Mái tóc vàng óng của búp bê rối tung, những hạt
    ngọc thoáng hiện trong không trung và biến mất
    trong đám cỏ rậm. Chiếc giày bụi bậm ban nãy vừa
    giẫm trong xưởng rèn xéo bừa lên bộ áo váy bị vứt
    bỏ, trên má búp bê hằn một vệt đen đậm. Meggie vội
    quỳ xuống, lượm bộ y phục nhỏ xíu để nó khỏi hư
    hại hơn nữa và bắt đầu lục tìm trong cỏ: may ra có
    thể tìm được những hạt ngọc vương vãi. Nước mắt
    làm nó quáng lòa, tim tan nát vì một nỗi đau xót
    chưa từng biết – con bé chưa từng có cái gì riêng của
    mình đáng cho nó đau buồn.
    ***
    Frank vất cái móng ngựa vào nước lạnh làm dậy
    lên tiếng xèo xèo, và cậu vươn thẳng người. Mấy ngày
    gần đây, lưng không đau, có lẽ rút cuộc cậu đã quen

    quai búa. Đáng phải tập quen từ lâu rồi, hẳn bố sẽ
    nói thế, đã nửa năm nay cậu làm việc trong xưởng
    rèn. Bản thân Frank còn nhớ cậu đã được tiếp xúc
    với búa và đe từ lâu rồi; cậu đo những ngày tháng ấy
    bằng mức oán hận và thù ghét của mình. Bây giờ cậu
    quăng búa vào hòm đựng dụng cụ, tay run run gạt
    mảng tóc đen duỗi thẳng xõa xuống trán và cởi qua
    đầu chiếc tạp dề da cũ kỹ. Áo sơ mi nằm trên đống
    rơm trong góc xưởng; cậu chậm rãi đi đến đấy và
    đứng một hai phút mở to đôi mắt màu đen, nhìn bức
    tường, nhìn những tấm ván không bào bằng ánh mắt
    thù ghét.
    Frank vóc người nhỏ bé, cao không quá năm feet
    ba inches[2], và vẫn còn gầy như một chú thiếu niên,
    nhưng đôi tay để trần đã nổi cuộn cơ bắp vì quai búa
    và làn da mờ, nhẵn nhụi không chê vào đâu được
    bóng nhẫy mồ hôi. Trong cả gia đình, cậu khác hẳn
    mọi người ở mái tóc và mắt thẫm màu, cặp môi
    mọng và sống mũi rộng cũng không giống những
    người khác, sở sĩ như vậy vì trong mạch máu của mẹ
    cậu có chút máu Maori, cái đó có ảnh hưởng đến
    hình dáng của Frank. Cậu đã sắp mười sáu tuổi, còn
    Bob mới hơn mười một tuổi tí chút, Jack lên mười,
    Hughie chín tuổi, Stuart lên năm tuổi và bé Meggie
    ba tuổi. Chợt cậu nhớ ra: hôm nay mùng tám tháng
    chạp. Meggie tròn bốn tuổi. Cậu mặc áo và ra khỏi
    nhà kho.
    Nhà họ ở trên đỉnh một quả đồi không cao lắm, từ
    nhà kho – đây cũng là chuồng ngựa và xưởng rèn, –
    đến nhà chừng dăm chục bước. Cũng như mọi ngôi

    nhà ở New Zealand, ngôi nhà này bằng gỗ, thô kệch,
    chỉ có một tầng, nhưng dàn rộng theo bề ngang: nếu
    xảy ra động đất thì vẫn có phần nguyên vẹn. Xung
    quanh nhà um tùm những bụi kim tước dày rậm rực
    rỡ hoa vàng; và cỏ thì xanh tươi mơn mởn, đích thực
    là cỏ New Zealand. Thậm chí giữa mùa đông, có khi
    trong bóng rợp, sương giá suốt ngày không tan, cỏ
    không bao giờ ngả sang màu hung, còn trong mùa
    hè dài âu yếm, màu cỏ càng xanh rờn hơn. Mưa thì
    nhẹ nhàng, êm ả, không làm gãy những chồi mầm và
    thân non ẻo lả, tuyết thì không bao giờ có, còn mặt
    trời sưởi ấm vừa đủ để ấp ủ, nhưng không gắt đến
    mức làm khô héo. Thiên tai dữ dội ở New Zealand
    không phải từ trên trời giáng xuống, mà từ lòng đất
    phụt ra. Cổ họng lúc nào cũng nghẽn lại vì thấp
    thỏm chờ đợi, lúc nào ở dưới chân cũng cảm thấy cái
    rung động khó nhận thấy, tiếng ì ầm kéo rền trong
    lòng đất. Bởi vì trong lòng sâu của đất vẫn ẩn khuất,
    một sức mạnh kinh khủng không thể tưởng tượng
    nổi, cái sức mạnh mãnh liệt đến nỗi ba mươi năm
    trước nó đã quét sạch khỏi mặt đất một trái núi
    khổng lồ; ở những quả đồi bề ngoài nom hiền lành
    bỗng toác ra những vết nứt, những cột hơi nước rú
    rít phụt ra, các núi lửa phun lên trời những cột khói
    cuồn cuộn, nước các sông suối trong núi bỏng rẫy.
    Các hồ rộng lớn đầy bùn lỏng sôi sục lên, nom sánh
    đặc như dầu, sóng ngập ngừng vỗ vào những mỏm
    đá mà có lẽ sẽ không còn có thể tìm thấy ở chỗ cũ khi
    đợt triều mới lại dâng lên, và bề dày của vỏ trái đất
    có chỗ không quá chín trăm feet.

    Tuy thế, đây vẫn là mảnh đất tốt lành, phì nhiêu.
    Trải rộng sau nhà là một đồng bằng loáng thoáng
    những ngọn đồi, cả đồng bằng màu xanh lục như
    hòn ngọc bích trên chiếc nhẫn của Cleary – món quà
    tặng ngày xưa của chồng chưa cưới. Khắp đồng bằng
    rải rác những cụm nhỏ màu trắng mượt mà, nhìn
    gần mới thấy rõ đấy là những con cừu. Sau dãy đồi
    vệt thành một đường lượn sóng là bầu trời xanh và
    núi Egmont vươn cao tới chục ngàn feet, đỉnh núi
    chìm trong mây, các sườn núi vẫn còn phủ tuyết
    trắng xóa và hình thế núi đều đặn, hoàn mĩ đến nỗi
    ngay cả những người cả đời vẫn nhìn thấy nó mà
    ngày này sang ngày khác vẫn ngắm nó không biết
    chán.
    Đường lên nhà khá dốc, nhưng Frank vội vã, cậu
    biết rằng vào lúc này cậu không được phép vắng mặt
    ở xưởng rèn: bố có những quy định nghiêm khắc.
    Nhưng cậu đã vòng qua góc nhà và thấy bọn trẻ dưới
    bụi cây.
    Chính Frank đã đánh xe đưa mẹ đi Wahine mua
    búp bê cho Meggie và cho đến giờ cậu vẫn ngạc
    nhiên không hiểu vì sao mẹ chợt nảy ra ý định ấy. Mẹ
    hoàn toàn không thích tặng những món quà không
    thực tế vào ngày sinh nhật, không có tiền đâu mà
    mua những thứ như thế, trước đây mẹ không hề tặng
    ai đồ chơi bao giờ. Tất cả các con đều được một thứ
    quần áo gì đó, vào ngày sinh nhật hoặc lễ giáng sinh,
    cái tủ áo nghèo nàn lại được bổ sung thêm. Nhưng
    chắc là Meggie đã nhìn thấy con búp bê này trong
    lần duy nhất được ra thành phố và Fiona không

    quên điều đó. Frank có lần toan hỏi mẹ chuyện đó,
    nhưng mẹ chỉ lầu bầu rằng đứa bé gái không thể
    không có búp bê, rồi nói ngay sang chuyện khác.
    Ngồi trên con đường nhỏ dẫn về nhà, Jack và
    Hughie, hai thằng – bốn cái tay – vặn bẻ tất cả các
    khớp của búp bê, không chút xót thương. Meggie
    đứng quay lưng về phía Frank, nhìn các anh nhạo
    báng Agnes. Đôi bít tất trắng sạch sẽ của Meggie tụt
    xuống trùm lên đôi giày màu đen, dưới bộ áo liền
    váy bằng nhung màu nâu để mặc trong dịp hội hè lộ
    ra đôi chân trần. Những búp tóc uốn cẩn thận xõa
    xuống lưng lấp lánh dưới ánh mặt trời – không phải
    màu đỏ đồng, cũng không phải màu vàng óng, mà là
    một màu gì đặc biệt giữa hai màu đó. Dải băng bằng
    lụa mềm giữ cho tóc phía trước khỏi xoã xuống mặt
    đã trở nên nhẽo nhợt và xô lệch hẳn đi, chiếc áo liền
    váy bám đầy bụi. Một tay Meggie nắm chặt mớ áo
    xống của búp bê, tay kia cố đẩy Hughie ra mà không
    được.
    – A, đồ đểu cáng!
    Jack và Hughie lập tức bật dậy và cắm đầu chạy,
    quên cả con búp bê: Frank đã quát mắng thì chuồn
    cho mau là hay hơn cả.
    – Chúng mày mà còn đụng đến con búp bê này
    lần nữa là tao vặn gãy chân đấy! – Frank quát với
    theo.
    Rồi cậu cúi xuống, nắm lấy hai vai Meggie và khẽ
    lắc:

    – Này, thôi đừng khóc. Chúng nó đi rồi, chúng nó
    sẽ không động đến búp bê của em nữa đâu, cứ yên
    tâm. Cười đi nào, hôm nay là ngày sinh của em kia
    mà!
    Trên khuôn mặt húp lên của con bé, nước mắt
    chảy như suối; nó ngước đôi mắt màu xám rất to, đầy
    đau khổ lên nhìn Frank, đến nỗi cậu cảm thấy nghẹn
    thở. Cậu rút trong túi quần ra một mảnh vải lem
    luốc, vụng về lau mặt cho em, bóp lấy cái mũi xinh
    xinh giữa những nếp khăn:
    – Xì đi!
    Meggie nghe lời, nước mắt khô ráo, nhưng vẫn
    khó cất lên lời, tiếng nấc cứ bật ra.
    – Ôi, anh F-f-frank ơi, các anh ấy gi-ật Agnes của
    em! – Nó khóc nấc lên. – T-t-tóc nó rối tung hết và
    những hạt ngo-ọc “coong coong” văng đi hết! Nó lăn
    vào co-ỏ, em chẳng làm thế nào tìm được!
    Và nước mắt lại túa xuống tay Frank; Frank nhìn
    bàn tay ướt của mình, rồi liếm những giọt nước mắt
    trên tay.
    – Ờ, không sao, bây giờ anh em ta sẽ tìm. Nhưng
    khi em khóc thì tất nhiên em sẽ chẳng nhìn thấy gì
    trong cỏ, mà sao tự dưng em nói bập bẹ như đứa trẻ
    mới học nói vậy? Đã từ lâu em biết nói “con con” chứ
    không phải “coong coong” kia mà. Xì mũi lần nữa đi
    và nhặt con búp bê khốn khổ của em lên… tên nó là
    Agnes phải không? Mặc áo váy vào cho nó, không thì
    nó bị bỏng nắng đấy.

    Cậu đặt em gái xuống rìa đường, thận trọng đưa
    cho em con búp bê và bắt đầu lục lọi trong cỏ, và lát
    sau cậu reo lên đắc thắng, giơ cao trên đầu hạt ngọc
    nhỏ.
    – Một hạt đây rồi! Em thấy không, chúng ta sẽ tìm
    đủ hết!
    Meggie nhìn anh với niềm kính yêu khôn tả, còn
    Frank vẫn sục sạo trong đám cỏ cao và lần lượt đưa
    ra cho em xem những hạt ngọc đã tìm thấy, nhưng
    rồi con bé chợt nhớ ra: da Agnes hẳn là rất mềm mại,
    không chừng nó bị rộp nắng thực đấy, và nó bắt đầu
    mặc áo cho búp bê. Hình như búp bê không bị hư hại
    nặng lắm. Kiểu tóc xổ hết, tóc rối bù, tay và chân đầy
    vết bẩn vì hai thằng anh xoay vặn chúng bằng những
    bàn tay lem luốc, nhưng tay chân búp bê còn nguyên
    lành. Phía trên tai Meggie có gài những chiếc lược
    con bằng mai rùa, nó rút bật ra một chiếc và bắt đầu
    chải tóc cho Agnes, đấy là tóc hoàn toàn thật, dán
    một cách khéo léo vào lớp vải màn và được tẩy màu
    cho thành màu vàng rơm óng ả.
    Meggie vụng về mân mê một cái nút gì đó trong
    tóc búp bê, và đột nhiên xảy ra một việc khủng
    khiếp. Tóc lập tức tuột hết và lủng liểng một cục rối
    tinh trên chiếc lược. Phía trên cái trán trơn nhẵn của
    búp bê chẳng có gì cả – không có thóp, cũng chẳng
    có cái sọ trần. Chỉ có một cái lỗ há hoác khủng khiếp.
    Sợ hãi, Meggie cúi xuống và toàn thân run rẩy, nhìn
    vào trong. Nhìn từ trong có thể lờ mờ đoán nhận ra
    hình dáng của má và cằm, ánh sáng lọt vào qua đôi
    môi hé mở, và răng hiện thành những hình bóng đen

    đen, như răng một con thú nhỏ nào đó và phía trên
    tất cả những cái đó, Meggie nhìn thấy mắt Agnes –
    hai quả cầu nhỏ rắn chắc xâu vào sợi dây thép tàn
    nhẫn cắm vào đầu búp bê.
    Meggie hét lên một cách tuyệt vọng, không trẻ thơ
    tí nào, quẳng Agnes đi và vẫn la lên, hai tay bưng
    mặt, con bé kinh hoàng, run lên bần bật. Rồi nó cảm
    thấy Frank gỡ hai tay nó ra, bế nó lên và ôm ghì vào
    ngực mình. Nó áp trán vào cổ anh, ôm chặt lấy anh –
    sự gần gũi của anh an ủi nó, làm nó yên tâm, và
    Meggie thậm chí cảm thấy ở anh nó toát ra thứ mùi
    thú vị: mùi ngựa, mùi mồ hôi, mùi sắt.
    Cuối cùng, nó bình tĩnh lại chút ít và Frank đã hỏi
    được nó thật tỉ mỉ về sự việc đã xảy ra: cậu nhặt con
    búp bê lên, băn khoăn nhìn kỹ cái sọ rỗng và cố nhớ
    lại: hồi nhỏ tuổi, cậu có từng bị những nỗi sợ khó
    hiểu giày vò hay không. Ồ không, ám ảnh cậu là
    những cái khác: những con người, những lời thì
    thầm, những cái nhìn xéo. Cậu nhớ tới khuôn mặt
    phờ phạc, rụt rè của mẹ, cơn run của bàn tay mẹ
    nắm chặt lấy tay cậu, đôi vai rũ xuống của mẹ.
    Meggie nhìn thấy gì mà đến nỗi khiếp sợ như vậy?
    Có lẽ nó sẽ ít sợ hơn nhiều nếu như do mất tóc,
    Agnes chỉ chảy máu. Đó là chuyện bình thường,
    trong gia đình Cleary ít nhất một tuần một lần, nhất
    định có người bị đứt tay hay bị vập chảy máu.
    – Mắt… mắt… – Meggie thì thầm, quay đi, khăng
    khăng không muốn nhìn con búp bê nữa.

    – Quái vật chứ không phải là búp bê nữa! – Frank
    lẩm bẩm, áp mặt vào mái tóc em. – Tóc gì tuyệt diệu,
    dày rậm, mềm mại và chói rực lạ thường.
    Suốt nửa giờ cậu dỗ dành Meggie cho đến khi ép
    được nó phải nhìn Agnes, rồi nửa giờ nữa để dỗ được
    nó nhìn vào cái đầu thủng lỗ của búp bê. Cậu chỉ dẫn
    cho con bé thấy mắt cấu tạo như thế nào, mọi cái
    được dự tính và khuôn lắp chính xác như thế nào để
    mắt không bị lé, nhắm mở dễ dàng.
    – Thôi, bây giờ đến lúc em nên về nhà rồi đấy, –
    cậu nói, xốc em lên chút nữa, ghì sát vào mình, ép
    chặt con búp bê ở giữa – Ta sẽ nhờ mẹ sửa sang lại
    con búp bê, được chứ? Ta sẽ giặt là áo váy nó và dán
    lại tóc. Còn với những hạt ngọc này thì anh sẽ làm
    những cái trâm thực sự để nó khỏi rơi và em sẽ có
    thể chải tóc cho búp bê đủ các kiểu em muốn.
    ***
    Fiona Cleary đang gọt khoai ở bếp. Chị hơi thấp
    hơn mức trung bình, rất xinh gái, một người đẹp
    thực sự, nhưng gương mặt nghiêm nghị, khắc
    nghiệt; thân hình cân đối tuyệt trần, tấm lưng ong
    không hề xồ ra, không trở nên nặng nề, tuy người
    phụ nữ này đã mang nặng đẻ đau sáu đứa con. Chị
    mặc bộ áo váy bằng vải trúc bâu màu xám, chiếc váy
    dài buông chấm mặt sàn sạch bóng như gương; che
    phủ phía trước áo là tấm tạp dề cực rộng, hồ bột
    trắng muốt, tấm tạp dề mặc chui qua đầu và buộc lại
    sau lưng bằng một dải băng hết sức gọn gàng hồ bột
    thật cứng. Từ sáng sớm cho đến đêm khuya, cuộc

    sống của chị là ở bếp và vườn rau, đôi chân đi giày
    thô màu đen đưa chị đi vẫn theo cái vòng tròn ấy – từ
    bếp đến chậu giặt, từ chỗ giặt đến luống rau, và từ đó
    đến dây phơi rồi trở lại bếp.
    Chị đặt con dao xuống bàn, nhìn Frank với
    Meggie, hai bên mép vành môi xinh đẹp trễ xuống.
    – Meggie, sáng nay mẹ cho con mặc bộ áo váy đẹp
    nhất với điều kiện là con không được làm bẩn nó.
    Thế mà con nhìn lại nó xem! Lem luốc quá thể!
    – Không phải lỗi tại em nó đâu, mẹ ạ – Frank xen
    vào, – Jack và Hughie giằng búp bê của nó, chúng nó
    muốn xem tay chân búp bê cử động thế nào. Con đã
    hứa với Meggie rằng mẹ và con sẽ giúp em, và búp bê
    sẽ lại như mới. Ta làm được chứ, mẹ nhỉ!
    – Đưa xem – Fee giơ tay ra.
    Chị vốn không nhiều lời, thường im lặng nhiều
    hơn. Chị nghĩ gì, chẳng ai biết, ngay cả chồng chị.
    Việc đưa các con vào khuôn phép, chị dành cho
    chồng, chồng bảo gì, chị làm đúng như thế, vâng
    chịu và nín nhịn, trừ phi xảy ra điều gì hoàn toàn
    khác thường. Meggie nghe thấy các anh thì thầm với
    nhau rằng mẹ sợ bố không kém gì chúng, nhưng nếu
    đúng như thế thì nghĩa là chị che giấu sự sợ hãi dưới
    cái mặt nạ điềm tĩnh không sao hiểu thấu nổi và hơi
    cau có. Chị không bao giờ cười và dù có chuyện gì đi
    nữa, cũng chưa lần nào chị nổi nóng.
    Sau khi chăm chú xem xét Agnes, Fee đặt nó lên
    chiếc tủ con cạnh bếp lò và nhìn Meggie.

    – Sáng mai mẹ sẽ giặt áo váy cho nó và sẽ chải
    kiểu tóc mới. Còn tối nay, sau bữa ăn, Frank có thể
    dán tóc và tắm rửa cho nó.
    Những lời đó không phải là để an ủi, mà có tính
    chất thiết thực nhiều hơn. Meggie gật đầu, mỉm cười
    ngập ngừng; có những lúc nó thiết tha mong muốn
    mẹ cất tiếng cười, nhưng điều đó chưa từng xảy ra.
    Meggie cảm thấy giữa nó và mẹ có cái gì chung, làm
    cho hai mẹ con khác với bố và các anh trai, nhưng
    mẹ lúc nào cũng bận, bao giờ cũng thẳng thừng, sắt
    đá, không thể gần được. Mẹ sẽ lơ đãng gật đầu, khéo
    léo xoay người từ bếp lò về phía bàn, làm lay động
    chiếc váy dài xếp nếp, và lại làm việc, làm việc và
    làm việc.
    Trong số các con, ngoài Frank ra, không ai hiểu
    được rằng mẹ luôn luôn mệt mỏi, một sự mệt mỏi
    bất tận, không gì chữa khỏi được. Có biết bao nhiêu
    việc cần làm, luôn luôn thiếu tiền, luôn luôn thiếu
    thời gian, và bất cứ việc gì cũng vẫn chỉ có một đôi
    tay. Giá như Meggie lớn hơn chút nữa và đỡ đần được
    mẹ, ngay bây giờ con bé cũng vẫn làm những việc
    đơn giản và nhẹ nhàng một chút, nhưng nó mới có
    bốn tuổi, không thể trút cho nó nhiều việc. Sáu đứa
    con mà chỉ có một con gái, mà lại là út. Tất cả những
    người quen đều ái ngại cho bà mẹ của một gia đình
    như thế và đều ghen với chị, nhưng công việc không
    vì thế mà bớt đi. Trong chiếc giỏ nội trợ đã tích lại cả
    một núi bít tất chưa mạng, và còn cả một chiếc bít
    tất mới trên que đan, đang đan dở, và những chiếc

    áo len dài tay của Hughie đã trở nên quá chật, nhưng
    Jack chưa đủ lớn để nhường lại áo của mình cho em.
    ***
    Hoàn toàn tình cờ, vào tuần lễ có ngày sinh của
    Meggie, Padraic Cleary lại ở nhà. Mùa xén lông cừu
    chưa tới, anh đi làm cho những người hàng xóm –
    cày và gieo hạt. Bản thân anh là người xén lông cừu –
    đấy là công việc theo mùa, kéo dài từ giữa mùa hè
    cho đến cuối mùa đông, rồi bắt đầu mùa cừu đẻ.
    Thường thì Cleary khéo xoay xở tìm được đủ việc
    làm để cùng gia đình trụ được qua mùa xuân và
    tháng đầu hè: anh giúp việc đỡ cừu đẻ, cày đất hay
    thay thế chủ nhân một trại sữa nào đó không kịp vắt
    sữa tất cả bò cái hai lần một ngày. Ở đâu tìm được
    việc làm là anh đi, để mặc cho gia đình tự lo liệu lấy
    đời sống trong ngôi nhà lớn cũ kỹ; như thế cũng
    không phải là tàn nhẫn gì cho lắm. Anh không thuộc
    loại những kẻ may mắn có đất riêng của mình, vậy
    thì không còn cách nào khác.
    Hôm ấy, sau lúc mặt trời lặn ít lâu, khi anh trở về,
    trong nhà đã thắp đèn và những bóng đen nhảy nhót
    trên cái trần cao. Bọn trẻ con trai đủ mặt cả, trừ
    Frank, tụ tập trên bậc tam cấp phía sau, đang nghịch
    một con nhái. Padraic hiểu ngay Frank ở đâu: từ chỗ
    chất củi vọng đến tiếng rìu bổ đều đều. Padraic đi
    qua bậc tam cấp rộng, hầu như không dừng lại, chỉ
    đá Jack một cái và kéo tai Bob.
    – Đến giúp Frank bổ củi đi, những thằng lười
    nhác! Mà mau mau lên, cho đến khi nào mẹ gọi về

    ăn, không thì chết đòn cả nút đấy!
    Anh gật đầu với Fiona đang loay hoay bên bếp lò;
    anh không ôm hôn chị vì cho rằng mọi sự biểu lộ
    tình cảm âu yếm giữa vợ chồng chỉ thích hợp trong
    buồng ngủ. Trong lúc anh cởi đôi giày bết bùn khô,
    Meggie nhảy chân sáo chạy đến, mang cho bố đôi
    dép đi ở nhà, và Padraic nở một nụ cười rộng với con.
    Bao giờ cũng thế, mỗi lần nhìn thấy con bé, trong
    lòng anh lại xốn xang một niềm ngạc nhiên khó
    hiểu. Nó kháu khỉnh lạ, tóc đẹp tuyệt vời; anh ngoắc
    một búp tóc, kéo duỗi ra, rồi lại thả ra: thật thích thú
    khi thấy mớ tóc dài lại cuộn vào như cái lò xo và
    nhảy về chỗ cũ. Rồi anh bế con lên, đến gần bếp lò,
    cạnh đấy có chiếc ghế bành thuận tiện duy nhất
    trong bếp: chiếc ghế bằng gỗ, lưng chạm trổ, mặt ghế
    có đệm. Anh khẽ thở dài, ngồi xuống, lấy ống tẩu,
    dộng bừa tàn xuống sàn. Meggie ngồi thu mình thoải
    mái trên đùi bố, hai tay ôm quàng lấy cổ bố và ngước
    khuôn mặt xinh xắn tươi tắn về phía bố: đấy là trò
    chơi buổi tối quen thuộc của nó – nhìn ánh lửa qua
    bộ râu ngắn màu hung của bố.
    – Này, ở nhà thế nào, Fee? – Padraic Cleary hỏi
    vợ.
    – Tốt cả thôi, Paddy ạ. Hôm nay mình làm xong
    khu vực dưới rồi chứ?
    – Ừ, xong cả rồi. Sáng mai sẽ bắt tay vào khu vực
    trên sơm sớm một chút. Ôi, tôi mệt mỏi quá!
    – Đã đành rồi, MacPherson lại giao cho mình con
    ngựa cái bất trị ấy chứ?

    – Đương nhiên. Thế mình tưởng ông ta sẽ chịu
    vất vả với con vật ấy và sẽ cho tôi con xám tro chắc?
    Hai vai nhức nhối, hết cả hơi. Tôi đánh cuộc rằng
    khắp New Zealand không tìm đâu ra con vật nào
    khác bướng như thế.
    – Thôi cũng được. Ngựa của ông già Robertson
    toàn là ngựa tốt, mà chẳng bao lâu nữa mình sẽ
    chuyển sang làm cho ông ta.
    – Chong chóng lên thì hay. – Padraic nhồi thuốc
    lá rẻ tiền vào tẩu, kéo cái bấc ở cây đèn sắt tây cạnh
    bếp lò. Anh gí cái bấc vào cửa bếp lò bỏ ngỏ, lập tức
    nó cháy. Padraic ngả người lên lưng ghế, rít sâu đến
    nỗi trong tẩu có tiếng ọc ọc. – Thế nào, Meggie, con
    có vui sướng vì con đã lên bốn không? – Anh hỏi con
    gái.
    – Rất vui sướng, ba ạ.
    – Mẹ đã tặng quà cho con rồi chứ?
    – Ôi, làm sao ba mẹ đoán ra là con muốn có
    Agnes?
    – Agnes à? – Anh mỉm cười liếc nhanh nhìn vợ,
    sửng sốt nhướn cao lông mày. – Vậy ra tên nó là
    Agnes à?
    – Vâng. Nó đẹp lắm, ba ạ. Con cứ muốn suốt ngày
    nhìn nó.
    – May mà vẫn còn có cái để mà nhìn, – Fee cau có
    nói. – Jack và Hughie giằng ngay lấy con búp bê ấy,
    bé Meggie tội nghiệp chưa kịp xem xét tường tận đồ
    chơi của mình.

    – Thì chúng nó là con trai mà. Búp bê có bị hỏng
    nặng lắm không?
    – Vẫn còn chơi được. Frank đã kịp thời ngăn cản
    chúng.
    – Frank à? Nó làm gì ở đấy? Nó phải suốt ngày ở
    xưởng rèn chứ. Hunter giục làm cho xong cái cổng đi
    đấy.
    – Frank vẫn làm việc suốt ngày đấy chứ. Nó chỉ về
    lấy một dụng cụ gì đó thôi. – Fee vội nói. Padraic bao
    giờ cũng quá nghiêm khắc với Frank.
    – Ôi, ba ơi, Frank là người anh tốt nhất của con!
    Anh ấy đã cứu Agnes của con thoát chết, và sau bữa
    ăn tối anh ấy sẽ lại dán tóc cho nó cơ.
    – Thế thì tốt, – ông bố nói bằng giọng buồn ngủ,
    ngả mình lên lưng ghế và nhắm mắt lại.
    Hơi nóng tỏa ra từ bếp lò, nhưng anh dường như
    không để ý đến, trán anh lấp...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không chỉ là kho tàng kiến thức mà còn là phép màu kỳ diệu với tâm hồn mỗi người

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTNT THCS AYUN PA - GIA LAI !