Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Tieng Chim Hot Trong Bui Man Ga - Colleen McCullough

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:48' 07-03-2024
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:48' 07-03-2024
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
TIẾNG CHIM HÓT TRONG BỤI
MẬN GAI
Nguyên tác: The Thorn Birds
—★—
Tác giả: Colleen McCulough
Người dịch: Phạm Mạnh Hùng
Dịch từ bản tiếng Nga của NXB Văn Học Moskva, 1980
Nhà xuất bản Văn Học - 2001
ebook©vctvegroup
27-07-2018
Lời giới thiệu
Tiểu thuyết “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”
xuất bản hồi mùa xuân 1977 cùng một lúc ở New
York, San Francisco, London và Sydney. Ít lâu sau nó
được dịch ra bảy thứ tiếng, được bạn đọc nhiệt liệt
hoan nghênh và giới phê bình đánh giá cao. Suốt
mấy năm trời, nó là tác phẩm ăn khách nhất ở
phương tây. Điều đó cũng là công bằng, vì đây thực
sự là một tác phẩm đặc sắc, có giá trị trong văn học
phương tây hiện nay.
Một điều đặc sắc nữa là tác giả của nó – Colleen
McCullough không phải là nhà văn chuyên nghiệp,
trước đó hầu như không ai biết tiếng. Khi tiểu thuyết
“Tiếng chim hót trong bụi mận gai” đem lại vinh dự
cho tác giả thì McCullough vẫn chỉ là một nhân viên
y tế bình thường. Bà sinh ở Úc, bang New South
Wales, trong gia đình một công nhân xây dựng xuất
thân từ Ireland. Thời thanh xuân McCullough ở
Sydney, đã từng học trường của nhà thờ công giáo, từ
bé đã mơ ước trở thành bác sĩ, nhưng không có điều
kiện để qua đại học y. Bà đã thử làm một số nghề –
làm báo, công tác thư viện, dạy học, rồi trở lại nghề y,
qua lớp đào tạo chuyên môn về sinh lý học thần
kinh. Sau đó, bà đã làm việc tại các bệnh viện ở
Sydney, London, Birmingham, rồi sang Mỹ, làm việc
tại một trường y thuộc trường đại học Yale. Năm
1974 bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên, không có
tiếng vang gì hết. “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”
được thai nghén trong ngót bốn năm, rồi đầu mùa
hè 1975, bà bắt tay vào viết liền một mạch trong
mười tháng. Suốt thời gian ấy, bà vẫn bận túi bụi
công việc ở bệnh viện, chỉ viết tác phẩm vào ban
đêm và ngày chủ nhật.
Tác phẩm này có thể gọi là “Xaga về gia đình
Cleary”. Xaga là hình thức văn xuôi cổ có tính chất
anh hùng ca, kể chuyện một cách điềm đạm về
những con người hùng dũng. Cuốn tiểu thuyết này
viết về lịch sử của nửa thế kỷ của ba thế hệ một gia
đình lao động – gia đình Cleary. Loại tiểu thuyết lịch
sử gia đình từ trước đã có những thành công lớn như
thiên sử thi về dòng họ Foocxaitơ của Gônxuôcthy,
“Gia đình Tibô” của Rôgiê máctanh duy Gar, “Gia
đình Artamônôp” của M.Gorki. Đặc điểm chung của
các tác phẩm đó là số phận gia đình tiêu biểu cho số
phận của giai cấp tư sản, nó phản ánh sự phát triển
và suy tôn của giai cấp tư sản, các thế hệ sau đoạn
tuyệt với nền tảng truyền thống của gia đình. So
sánh với những tác phẩm trên thì tác phẩm của
McCullough có sự khác biệt, có cái độc đáo riêng của
nó. Trước hết, đây là lịch sử của một gia đình lao
động. Sự phát triển tính kế thừa và đổi mới của ba
thế hệ gia đình này là hình mẫu thu nhỏ của lịch sử
dân tộc. Các thế hệ sau kế thừa những nét tốt đẹp
nhất của gia đình – tính cần cù, tự chủ, tính kiên
cường đón nhận những đòn ác liệt của số phận, lòng
tự hào gia đình, song đồng thời có những đổi khác
nhịp bước với thời đại. Nếu Fiona gan góc chịu đựng
mọi tai họa nhưng cam chịu số phận thì con gái bà là
Meggie đã tìm cách cướp lấy hạnh phúc của mình từ
tay Chúa Trời, và Justine, con gái của Meggie là một
cô gái hiện đại, có những chuẩn mực đạo đức hoàn
toàn khác. Cuốn tiểu thuyết xây dựng như truyện sử
biên gia đình, tác giả tập trung vào những xung đột
tâm lý – đạo đức nhiều hơn là những vấn đề giai cấp
– xã hội. Các nhân vật tuy vẫn chịu ảnh hưởng của
hoàn cảnh, nhưng chủ yếu là ứng xử theo tính cách
riêng của mình nhiều hơn. Trong số nhiều nhân vật,
nổi bật hơn cả là ba nhân vật – Fiona, Meggie con gái
bà và cha đạo Ralph de Bricassart. Meggie có thể coi
là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trong tiểu
thuyết có nhiều tuyến tình tiết, nhiều môtíp, đề tài,
song tất cả đều phục vụ câu chuyện chính, mối tình
lớn lao trong sáng của Meggie và cha de Bricassart.
Trong tác phẩm quy mô lớn này, những xung đột
tâm lý – tinh thần của các nhân vật quyện chặt với
sự miêu tả tỉ mỉ toàn cảnh lịch sử, địa lý, thiên
nhiên. Thiên nhiên bao la, dữ dội nhưng có cái đẹp
hoang sơ riêng của nó như hiện ra trước mắt bạn
đọc. Giá trị nhận thức của tác phẩm do đó càng thêm
đầy đủ. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người ở
đây mang tính chất chung sống hài hòa, thiên nhiên
chưa kịp uy hiếp đến nguy cơ hủy diệt.
Tính hiện thực và tính lãng mạn trong tác phẩm
này hòa lẫn vào nhau tới mức thuần nhị. Sự miêu tả
tỉ mỉ bằng hình thức của bản thân đời sống, cả từ
cách ăn mặc, lời ăn tiếng nói của nhân vật, cho đến
cách xén lông cừu, nếp sống hàng ngày.v.v…, lối kể
chuyện thong thả theo trình tự thời gian khiến cho
tác phẩm gần với loại tiểu thuyết hiện thực thế kỷ 19.
Nhưng những tính cách phi thường rực rỡ biểu hiện
trong những biến cố đột ngột, đầy hấp dẫn tạo nên
màu sắc lãng mạn rất rõ nét. Một tác phẩm văn học
Mỹ thời nay, xa lạ với những cảnh hung bạo, với
“sex”, với “phản nhân vật” đưa bạn đọc trở về với
những vấn đề “nhà” (theo nghĩa quê hương) “cội
nguồn”, “cha và con” mà lại được ham chuộng đến
như thế ở phương tây thì điều đó chứng tỏ những
vấn đề muôn thuở của nhân loại bao giờ cũng làm
rung động lòng người ở bất cứ nơi nào trên hành
tinh chúng ta.
• PHẠM MẠNH HÙNG
Tặng Jin Ixtkhôup “người chị của tôi”
Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót có một
lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có
lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho
bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó
cất tiếng hót bài ca của mình và lao ngực vào
chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi
đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và
tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và họa
mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất, có một không
hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được.
Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính
thượng đế trên thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì
tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được
khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại… Ít ra
là truyền thuyết nói như vậy.
I
1915 – 1917
MEGGIE
1
Ngày mùng tám tháng chạp năm 1915, Meggie
tròn bốn tuổi. Sau bữa ăn sáng, thu dọn xong bát đĩa,
mẹ lẳng lặng giúi vào tay bé một bọc giấy màu nâu
và bảo bé ra sân chơi. Bây giờ Meggie ngồi xổm dưới
bụi kim tước cạnh cổng và sốt ruột mân mê cái bọc
giấy. Không dễ gì mở được lớp giấy bọc bền chắc
bằng những ngón tay lóng ngóng; tờ giấy phảng phất
hơi hướng của cửa hàng lớn ở Wahine, và Meggie
đoán ra: cái vật ở bên trong không phải đồ vật tự làm
lấy, không phải của ai cho, mà kỳ diệu thay, là vật
mua ở cửa hàng.
Ở một góc bọc đồ bắt đầu lộ rõ một cái gì mỏng
mảnh, óng ánh vàng. Meggie càng nôn nóng phá bỏ
lớp giấy bọc, bóc đi những dải dài nham nhở.
– Agnes! Ôi, Agnes! – Nó nói bằng giọng trìu mến
và chớp chớp hai hàng mi, không tin ở mắt mình
nữa: nằm giữa đám giấy tơi tả là một con búp bê.
Dĩ nhiên đấy là phép mầu nhiệm. Cả đời Meggie
mới được đến Wahine có một lần – lâu lắm rồi, từ hồi
tháng năm, nó được người lớn cho đi theo vì nó là
con bé ngoan. Nó leo lên chiếc xe hai bánh bên cạnh
mẹ và tỏ ra ngoan ngoãn không chê vào đâu được,
nhưng vì xúc động, nó gần như không nhìn thấy gì
và không nhớ gì, trừ có Agnes. Con búp bê xinh đẹp
ngồi trên quầy, diện ghê lắm, váy phồng bằng lụa
màu hồng trang điểm những đường viền đăng ten
màu cream lộng lẫy. Ngay lúc đó Meggie đã đặt tên
cho con búp bê là Agnes – nó không tìm ra cái tên
nào kiều diễm hơn, xứng đáng với con bé đẹp phi
thường như vậy. Nhưng mấy tháng dài đằng đẵng
sau đó, nó chỉ mong nhớ Agnes một cách tuyệt vọng.
Meggie chưa bao giờ có một con búp bê nào, thậm
chí không hề nghĩ rằng búp bê là thứ dành riêng cho
các em gái nhỏ tuổi. Nó rất vui vẻ chơi còi tu huýt,
súng cao su và những chú lính thiếc méo mó mà các
anh nó vất đi, tay nó bao giờ cũng lem luốc, giày dính
bùn.
Meggie thậm chí không hề có ý nghĩ Agnes là đồ
chơi. Nó đưa tay vuốt những nếp gấp của bộ áo váy
màu hồng thắm, – bộ áo váy lộng lẫy như thế chưa
bao giờ nó nhìn thấy ở một người phụ nữ nào trong
đời thực – và nó âu yếm bế con búp bê lên. Tay và
chân Agnes có khớp nối, có thể xoay vặn và uốn gập
tùy ý; ngay cả cổ và cái eo lưng thon thả cũng uốn
gập được. Mái tóc vàng óng chải cao bồng và điểm
những hạt ngọc, cái cổ màu hồng dịu để hở và đôi vai
ló ra dưới lớp đăng ten lồng bồng như bọt sóng cài
kim găm nạm ngọc. Gương mặt xinh xắn bằng sứ có
tô màu, không tráng men bóng, nom mờ dịu hệt như
mặt người thật. Đôi mắt đen linh lợi lạ thường sáng
long lanh, hai hàng mi bằng sợi lông thật, mống mắt
lấp lánh bắn ra tia sáng và có đường viền xanh sẫm;
Meggie hoan hỉ nhận ra rằng nếu đặt Agnes nằm
ngửa thì mắt nó nhắm lại. Một bên má hồng có cái
nốt ruồi đen đen, cái miệng đỏ thẫm hơi hé mở, phô
ra hàng răng nhỏ xíu trắng muốt. Meggie thu chân
lại cho thoải mái, thận trọng đặt con búp bê lên đùi
và ngồi nhìn nó không dứt.
Con bé vẫn ngồi như thế dưới bụi cây khi Jack và
Hughie ló ra từ trong đám cỏ cao (ở sát hàng rào khó
cắt cỏ). Tóc Meggie cũng y như tóc của Cleary, chói
rực như ngọn hải đăng: tất cả các con trong gia đình,
trừ Frank, đều phải chịu đựng trừng phạt đó – đứa
nào cũng tóc xoăn màu hung, chỉ có sắc thái khác
nhau. Jack vui vẻ hích khuỷu tay vào em: nom kìa.
Chúng nhìn nhau, cười khẩy và lén đến từ hai phía,
như thể chúng là lính và vây bắt tên phản bội người
Maori[1]. Nhưng dù sao Meggie cũng không thể nghe
thấy tiếng động của chúng, nó chỉ mải mê với Agnes
và lẩm nhẩm hát điệu gì với con búp bê.
– Mày có cái gì đấy, Meggie? – Jack nhảy tới chỗ
em gái. – Đưa xem nào!
– Phải đấy, phải đấy, đưa xem đi! – Hughie vừa
cười vừa hùa theo, nó từ phía bên kia chạy đến.
Meggie ôm ghì con búp bê vào ngực, lắc đầu quầy
quậy:
– Không! Nó là của em! Quà mừng ngày sinh đấy!
– Nào, đưa đây xem! Chúng tao chỉ xem lúc thôi
mà!
Niềm kiêu hãnh và vui sướng át mất sự thận
trọng. Meggie giơ con búp bê lên cho các anh ngắm.
– Xem đây này, đẹp đấy chứ? Tên nó là Agnes.
– Agnes? Agnes à? – Jack làm ra vẻ hệt như
nghẹn ngào. – Cái tên mĩ miều quá, chậc – chậc! Chỉ
nên gọi nó một cách giản dị là Betty hay Margaret.
– Không, nó là Agnes.
Hughie nhận thấy cổ tay búp bê có khớp nối, nó
huýt một tiếng sáo.
– Ê. Jack, nhìn xem này! Nó có thể cử động tay
được!
– Thế à? Ta thử cái xem.
– Không, không! – Meggie lại ôm ghì con búp bê
vào ngực, mắt ứa lệ. – Các anh làm gãy mất. Ôi, Jack,
đừng động đến nó, anh làm gãy mất thôi.
– Hừ-ừ! – Bằng hai tay thô kệch ngăm đen và lem
luốc, Jack nắm chặt lấy hai cổ tay em gái. – Mày
muốn tao vặn tay mày à? Đừng có choe chóe lên, con
bé hay nhè, không thì tao bảo Bob cho đấy. – Nó bắt
đầu giơ tay em ra mạnh đến nỗi hai tay con bé trắng
bệch ra, còn Hughie nắm lấy váy con búp bê mà giật.
– Bỏ ra, không thì khốn đấy.
– Đừng, Jack! Thôi xin anh! Anh làm gãy nó mất,
em biết, gãy mất! Ôi, buông nó ra! Đừng động đến,
em xin mà!
Meggie rất đau, nó nức nở, giậm chân và vẫn ôm
ghì con búp bê vào ngực.
Nhưng cuối cùng Agnes tuột khỏi tay nó.
– A ha, được rồi! – Hughie gào lên.
Jack và Hughie loay hoay với món đồ chơi mới
cũng mê mải như em gái chúng trước đó, chúng lột
bỏ khỏi búp bê bộ áo liền váy, váy trong, quần lót có
đường viền. Agnes trần truồng nằm đó, hai thằng bé
lôi kéo giằng giật nó, vắt một chân nó ra sau đầu, còn
đầu thì vặn phía sau ra phía trước, uốn gập và vặn
vẹo đủ kiểu. Nước mắt của con em không hề làm
chúng mủi lòng, còn Meggie cũng không nghĩ đến
chuyện tìm sự cứu giúp ở đâu cả: tục lệ trong gia
đình Cleary là như vậy – không tự bảo vệ được mình
thì đừng hy vọng được ủng hộ và đồng tình, dù là
một bé gái đi nữa.
Mái tóc vàng óng của búp bê rối tung, những hạt
ngọc thoáng hiện trong không trung và biến mất
trong đám cỏ rậm. Chiếc giày bụi bậm ban nãy vừa
giẫm trong xưởng rèn xéo bừa lên bộ áo váy bị vứt
bỏ, trên má búp bê hằn một vệt đen đậm. Meggie vội
quỳ xuống, lượm bộ y phục nhỏ xíu để nó khỏi hư
hại hơn nữa và bắt đầu lục tìm trong cỏ: may ra có
thể tìm được những hạt ngọc vương vãi. Nước mắt
làm nó quáng lòa, tim tan nát vì một nỗi đau xót
chưa từng biết – con bé chưa từng có cái gì riêng của
mình đáng cho nó đau buồn.
***
Frank vất cái móng ngựa vào nước lạnh làm dậy
lên tiếng xèo xèo, và cậu vươn thẳng người. Mấy ngày
gần đây, lưng không đau, có lẽ rút cuộc cậu đã quen
quai búa. Đáng phải tập quen từ lâu rồi, hẳn bố sẽ
nói thế, đã nửa năm nay cậu làm việc trong xưởng
rèn. Bản thân Frank còn nhớ cậu đã được tiếp xúc
với búa và đe từ lâu rồi; cậu đo những ngày tháng ấy
bằng mức oán hận và thù ghét của mình. Bây giờ cậu
quăng búa vào hòm đựng dụng cụ, tay run run gạt
mảng tóc đen duỗi thẳng xõa xuống trán và cởi qua
đầu chiếc tạp dề da cũ kỹ. Áo sơ mi nằm trên đống
rơm trong góc xưởng; cậu chậm rãi đi đến đấy và
đứng một hai phút mở to đôi mắt màu đen, nhìn bức
tường, nhìn những tấm ván không bào bằng ánh mắt
thù ghét.
Frank vóc người nhỏ bé, cao không quá năm feet
ba inches[2], và vẫn còn gầy như một chú thiếu niên,
nhưng đôi tay để trần đã nổi cuộn cơ bắp vì quai búa
và làn da mờ, nhẵn nhụi không chê vào đâu được
bóng nhẫy mồ hôi. Trong cả gia đình, cậu khác hẳn
mọi người ở mái tóc và mắt thẫm màu, cặp môi
mọng và sống mũi rộng cũng không giống những
người khác, sở sĩ như vậy vì trong mạch máu của mẹ
cậu có chút máu Maori, cái đó có ảnh hưởng đến
hình dáng của Frank. Cậu đã sắp mười sáu tuổi, còn
Bob mới hơn mười một tuổi tí chút, Jack lên mười,
Hughie chín tuổi, Stuart lên năm tuổi và bé Meggie
ba tuổi. Chợt cậu nhớ ra: hôm nay mùng tám tháng
chạp. Meggie tròn bốn tuổi. Cậu mặc áo và ra khỏi
nhà kho.
Nhà họ ở trên đỉnh một quả đồi không cao lắm, từ
nhà kho – đây cũng là chuồng ngựa và xưởng rèn, –
đến nhà chừng dăm chục bước. Cũng như mọi ngôi
nhà ở New Zealand, ngôi nhà này bằng gỗ, thô kệch,
chỉ có một tầng, nhưng dàn rộng theo bề ngang: nếu
xảy ra động đất thì vẫn có phần nguyên vẹn. Xung
quanh nhà um tùm những bụi kim tước dày rậm rực
rỡ hoa vàng; và cỏ thì xanh tươi mơn mởn, đích thực
là cỏ New Zealand. Thậm chí giữa mùa đông, có khi
trong bóng rợp, sương giá suốt ngày không tan, cỏ
không bao giờ ngả sang màu hung, còn trong mùa
hè dài âu yếm, màu cỏ càng xanh rờn hơn. Mưa thì
nhẹ nhàng, êm ả, không làm gãy những chồi mầm và
thân non ẻo lả, tuyết thì không bao giờ có, còn mặt
trời sưởi ấm vừa đủ để ấp ủ, nhưng không gắt đến
mức làm khô héo. Thiên tai dữ dội ở New Zealand
không phải từ trên trời giáng xuống, mà từ lòng đất
phụt ra. Cổ họng lúc nào cũng nghẽn lại vì thấp
thỏm chờ đợi, lúc nào ở dưới chân cũng cảm thấy cái
rung động khó nhận thấy, tiếng ì ầm kéo rền trong
lòng đất. Bởi vì trong lòng sâu của đất vẫn ẩn khuất,
một sức mạnh kinh khủng không thể tưởng tượng
nổi, cái sức mạnh mãnh liệt đến nỗi ba mươi năm
trước nó đã quét sạch khỏi mặt đất một trái núi
khổng lồ; ở những quả đồi bề ngoài nom hiền lành
bỗng toác ra những vết nứt, những cột hơi nước rú
rít phụt ra, các núi lửa phun lên trời những cột khói
cuồn cuộn, nước các sông suối trong núi bỏng rẫy.
Các hồ rộng lớn đầy bùn lỏng sôi sục lên, nom sánh
đặc như dầu, sóng ngập ngừng vỗ vào những mỏm
đá mà có lẽ sẽ không còn có thể tìm thấy ở chỗ cũ khi
đợt triều mới lại dâng lên, và bề dày của vỏ trái đất
có chỗ không quá chín trăm feet.
Tuy thế, đây vẫn là mảnh đất tốt lành, phì nhiêu.
Trải rộng sau nhà là một đồng bằng loáng thoáng
những ngọn đồi, cả đồng bằng màu xanh lục như
hòn ngọc bích trên chiếc nhẫn của Cleary – món quà
tặng ngày xưa của chồng chưa cưới. Khắp đồng bằng
rải rác những cụm nhỏ màu trắng mượt mà, nhìn
gần mới thấy rõ đấy là những con cừu. Sau dãy đồi
vệt thành một đường lượn sóng là bầu trời xanh và
núi Egmont vươn cao tới chục ngàn feet, đỉnh núi
chìm trong mây, các sườn núi vẫn còn phủ tuyết
trắng xóa và hình thế núi đều đặn, hoàn mĩ đến nỗi
ngay cả những người cả đời vẫn nhìn thấy nó mà
ngày này sang ngày khác vẫn ngắm nó không biết
chán.
Đường lên nhà khá dốc, nhưng Frank vội vã, cậu
biết rằng vào lúc này cậu không được phép vắng mặt
ở xưởng rèn: bố có những quy định nghiêm khắc.
Nhưng cậu đã vòng qua góc nhà và thấy bọn trẻ dưới
bụi cây.
Chính Frank đã đánh xe đưa mẹ đi Wahine mua
búp bê cho Meggie và cho đến giờ cậu vẫn ngạc
nhiên không hiểu vì sao mẹ chợt nảy ra ý định ấy. Mẹ
hoàn toàn không thích tặng những món quà không
thực tế vào ngày sinh nhật, không có tiền đâu mà
mua những thứ như thế, trước đây mẹ không hề tặng
ai đồ chơi bao giờ. Tất cả các con đều được một thứ
quần áo gì đó, vào ngày sinh nhật hoặc lễ giáng sinh,
cái tủ áo nghèo nàn lại được bổ sung thêm. Nhưng
chắc là Meggie đã nhìn thấy con búp bê này trong
lần duy nhất được ra thành phố và Fiona không
quên điều đó. Frank có lần toan hỏi mẹ chuyện đó,
nhưng mẹ chỉ lầu bầu rằng đứa bé gái không thể
không có búp bê, rồi nói ngay sang chuyện khác.
Ngồi trên con đường nhỏ dẫn về nhà, Jack và
Hughie, hai thằng – bốn cái tay – vặn bẻ tất cả các
khớp của búp bê, không chút xót thương. Meggie
đứng quay lưng về phía Frank, nhìn các anh nhạo
báng Agnes. Đôi bít tất trắng sạch sẽ của Meggie tụt
xuống trùm lên đôi giày màu đen, dưới bộ áo liền
váy bằng nhung màu nâu để mặc trong dịp hội hè lộ
ra đôi chân trần. Những búp tóc uốn cẩn thận xõa
xuống lưng lấp lánh dưới ánh mặt trời – không phải
màu đỏ đồng, cũng không phải màu vàng óng, mà là
một màu gì đặc biệt giữa hai màu đó. Dải băng bằng
lụa mềm giữ cho tóc phía trước khỏi xoã xuống mặt
đã trở nên nhẽo nhợt và xô lệch hẳn đi, chiếc áo liền
váy bám đầy bụi. Một tay Meggie nắm chặt mớ áo
xống của búp bê, tay kia cố đẩy Hughie ra mà không
được.
– A, đồ đểu cáng!
Jack và Hughie lập tức bật dậy và cắm đầu chạy,
quên cả con búp bê: Frank đã quát mắng thì chuồn
cho mau là hay hơn cả.
– Chúng mày mà còn đụng đến con búp bê này
lần nữa là tao vặn gãy chân đấy! – Frank quát với
theo.
Rồi cậu cúi xuống, nắm lấy hai vai Meggie và khẽ
lắc:
– Này, thôi đừng khóc. Chúng nó đi rồi, chúng nó
sẽ không động đến búp bê của em nữa đâu, cứ yên
tâm. Cười đi nào, hôm nay là ngày sinh của em kia
mà!
Trên khuôn mặt húp lên của con bé, nước mắt
chảy như suối; nó ngước đôi mắt màu xám rất to, đầy
đau khổ lên nhìn Frank, đến nỗi cậu cảm thấy nghẹn
thở. Cậu rút trong túi quần ra một mảnh vải lem
luốc, vụng về lau mặt cho em, bóp lấy cái mũi xinh
xinh giữa những nếp khăn:
– Xì đi!
Meggie nghe lời, nước mắt khô ráo, nhưng vẫn
khó cất lên lời, tiếng nấc cứ bật ra.
– Ôi, anh F-f-frank ơi, các anh ấy gi-ật Agnes của
em! – Nó khóc nấc lên. – T-t-tóc nó rối tung hết và
những hạt ngo-ọc “coong coong” văng đi hết! Nó lăn
vào co-ỏ, em chẳng làm thế nào tìm được!
Và nước mắt lại túa xuống tay Frank; Frank nhìn
bàn tay ướt của mình, rồi liếm những giọt nước mắt
trên tay.
– Ờ, không sao, bây giờ anh em ta sẽ tìm. Nhưng
khi em khóc thì tất nhiên em sẽ chẳng nhìn thấy gì
trong cỏ, mà sao tự dưng em nói bập bẹ như đứa trẻ
mới học nói vậy? Đã từ lâu em biết nói “con con” chứ
không phải “coong coong” kia mà. Xì mũi lần nữa đi
và nhặt con búp bê khốn khổ của em lên… tên nó là
Agnes phải không? Mặc áo váy vào cho nó, không thì
nó bị bỏng nắng đấy.
Cậu đặt em gái xuống rìa đường, thận trọng đưa
cho em con búp bê và bắt đầu lục lọi trong cỏ, và lát
sau cậu reo lên đắc thắng, giơ cao trên đầu hạt ngọc
nhỏ.
– Một hạt đây rồi! Em thấy không, chúng ta sẽ tìm
đủ hết!
Meggie nhìn anh với niềm kính yêu khôn tả, còn
Frank vẫn sục sạo trong đám cỏ cao và lần lượt đưa
ra cho em xem những hạt ngọc đã tìm thấy, nhưng
rồi con bé chợt nhớ ra: da Agnes hẳn là rất mềm mại,
không chừng nó bị rộp nắng thực đấy, và nó bắt đầu
mặc áo cho búp bê. Hình như búp bê không bị hư hại
nặng lắm. Kiểu tóc xổ hết, tóc rối bù, tay và chân đầy
vết bẩn vì hai thằng anh xoay vặn chúng bằng những
bàn tay lem luốc, nhưng tay chân búp bê còn nguyên
lành. Phía trên tai Meggie có gài những chiếc lược
con bằng mai rùa, nó rút bật ra một chiếc và bắt đầu
chải tóc cho Agnes, đấy là tóc hoàn toàn thật, dán
một cách khéo léo vào lớp vải màn và được tẩy màu
cho thành màu vàng rơm óng ả.
Meggie vụng về mân mê một cái nút gì đó trong
tóc búp bê, và đột nhiên xảy ra một việc khủng
khiếp. Tóc lập tức tuột hết và lủng liểng một cục rối
tinh trên chiếc lược. Phía trên cái trán trơn nhẵn của
búp bê chẳng có gì cả – không có thóp, cũng chẳng
có cái sọ trần. Chỉ có một cái lỗ há hoác khủng khiếp.
Sợ hãi, Meggie cúi xuống và toàn thân run rẩy, nhìn
vào trong. Nhìn từ trong có thể lờ mờ đoán nhận ra
hình dáng của má và cằm, ánh sáng lọt vào qua đôi
môi hé mở, và răng hiện thành những hình bóng đen
đen, như răng một con thú nhỏ nào đó và phía trên
tất cả những cái đó, Meggie nhìn thấy mắt Agnes –
hai quả cầu nhỏ rắn chắc xâu vào sợi dây thép tàn
nhẫn cắm vào đầu búp bê.
Meggie hét lên một cách tuyệt vọng, không trẻ thơ
tí nào, quẳng Agnes đi và vẫn la lên, hai tay bưng
mặt, con bé kinh hoàng, run lên bần bật. Rồi nó cảm
thấy Frank gỡ hai tay nó ra, bế nó lên và ôm ghì vào
ngực mình. Nó áp trán vào cổ anh, ôm chặt lấy anh –
sự gần gũi của anh an ủi nó, làm nó yên tâm, và
Meggie thậm chí cảm thấy ở anh nó toát ra thứ mùi
thú vị: mùi ngựa, mùi mồ hôi, mùi sắt.
Cuối cùng, nó bình tĩnh lại chút ít và Frank đã hỏi
được nó thật tỉ mỉ về sự việc đã xảy ra: cậu nhặt con
búp bê lên, băn khoăn nhìn kỹ cái sọ rỗng và cố nhớ
lại: hồi nhỏ tuổi, cậu có từng bị những nỗi sợ khó
hiểu giày vò hay không. Ồ không, ám ảnh cậu là
những cái khác: những con người, những lời thì
thầm, những cái nhìn xéo. Cậu nhớ tới khuôn mặt
phờ phạc, rụt rè của mẹ, cơn run của bàn tay mẹ
nắm chặt lấy tay cậu, đôi vai rũ xuống của mẹ.
Meggie nhìn thấy gì mà đến nỗi khiếp sợ như vậy?
Có lẽ nó sẽ ít sợ hơn nhiều nếu như do mất tóc,
Agnes chỉ chảy máu. Đó là chuyện bình thường,
trong gia đình Cleary ít nhất một tuần một lần, nhất
định có người bị đứt tay hay bị vập chảy máu.
– Mắt… mắt… – Meggie thì thầm, quay đi, khăng
khăng không muốn nhìn con búp bê nữa.
– Quái vật chứ không phải là búp bê nữa! – Frank
lẩm bẩm, áp mặt vào mái tóc em. – Tóc gì tuyệt diệu,
dày rậm, mềm mại và chói rực lạ thường.
Suốt nửa giờ cậu dỗ dành Meggie cho đến khi ép
được nó phải nhìn Agnes, rồi nửa giờ nữa để dỗ được
nó nhìn vào cái đầu thủng lỗ của búp bê. Cậu chỉ dẫn
cho con bé thấy mắt cấu tạo như thế nào, mọi cái
được dự tính và khuôn lắp chính xác như thế nào để
mắt không bị lé, nhắm mở dễ dàng.
– Thôi, bây giờ đến lúc em nên về nhà rồi đấy, –
cậu nói, xốc em lên chút nữa, ghì sát vào mình, ép
chặt con búp bê ở giữa – Ta sẽ nhờ mẹ sửa sang lại
con búp bê, được chứ? Ta sẽ giặt là áo váy nó và dán
lại tóc. Còn với những hạt ngọc này thì anh sẽ làm
những cái trâm thực sự để nó khỏi rơi và em sẽ có
thể chải tóc cho búp bê đủ các kiểu em muốn.
***
Fiona Cleary đang gọt khoai ở bếp. Chị hơi thấp
hơn mức trung bình, rất xinh gái, một người đẹp
thực sự, nhưng gương mặt nghiêm nghị, khắc
nghiệt; thân hình cân đối tuyệt trần, tấm lưng ong
không hề xồ ra, không trở nên nặng nề, tuy người
phụ nữ này đã mang nặng đẻ đau sáu đứa con. Chị
mặc bộ áo váy bằng vải trúc bâu màu xám, chiếc váy
dài buông chấm mặt sàn sạch bóng như gương; che
phủ phía trước áo là tấm tạp dề cực rộng, hồ bột
trắng muốt, tấm tạp dề mặc chui qua đầu và buộc lại
sau lưng bằng một dải băng hết sức gọn gàng hồ bột
thật cứng. Từ sáng sớm cho đến đêm khuya, cuộc
sống của chị là ở bếp và vườn rau, đôi chân đi giày
thô màu đen đưa chị đi vẫn theo cái vòng tròn ấy – từ
bếp đến chậu giặt, từ chỗ giặt đến luống rau, và từ đó
đến dây phơi rồi trở lại bếp.
Chị đặt con dao xuống bàn, nhìn Frank với
Meggie, hai bên mép vành môi xinh đẹp trễ xuống.
– Meggie, sáng nay mẹ cho con mặc bộ áo váy đẹp
nhất với điều kiện là con không được làm bẩn nó.
Thế mà con nhìn lại nó xem! Lem luốc quá thể!
– Không phải lỗi tại em nó đâu, mẹ ạ – Frank xen
vào, – Jack và Hughie giằng búp bê của nó, chúng nó
muốn xem tay chân búp bê cử động thế nào. Con đã
hứa với Meggie rằng mẹ và con sẽ giúp em, và búp bê
sẽ lại như mới. Ta làm được chứ, mẹ nhỉ!
– Đưa xem – Fee giơ tay ra.
Chị vốn không nhiều lời, thường im lặng nhiều
hơn. Chị nghĩ gì, chẳng ai biết, ngay cả chồng chị.
Việc đưa các con vào khuôn phép, chị dành cho
chồng, chồng bảo gì, chị làm đúng như thế, vâng
chịu và nín nhịn, trừ phi xảy ra điều gì hoàn toàn
khác thường. Meggie nghe thấy các anh thì thầm với
nhau rằng mẹ sợ bố không kém gì chúng, nhưng nếu
đúng như thế thì nghĩa là chị che giấu sự sợ hãi dưới
cái mặt nạ điềm tĩnh không sao hiểu thấu nổi và hơi
cau có. Chị không bao giờ cười và dù có chuyện gì đi
nữa, cũng chưa lần nào chị nổi nóng.
Sau khi chăm chú xem xét Agnes, Fee đặt nó lên
chiếc tủ con cạnh bếp lò và nhìn Meggie.
– Sáng mai mẹ sẽ giặt áo váy cho nó và sẽ chải
kiểu tóc mới. Còn tối nay, sau bữa ăn, Frank có thể
dán tóc và tắm rửa cho nó.
Những lời đó không phải là để an ủi, mà có tính
chất thiết thực nhiều hơn. Meggie gật đầu, mỉm cười
ngập ngừng; có những lúc nó thiết tha mong muốn
mẹ cất tiếng cười, nhưng điều đó chưa từng xảy ra.
Meggie cảm thấy giữa nó và mẹ có cái gì chung, làm
cho hai mẹ con khác với bố và các anh trai, nhưng
mẹ lúc nào cũng bận, bao giờ cũng thẳng thừng, sắt
đá, không thể gần được. Mẹ sẽ lơ đãng gật đầu, khéo
léo xoay người từ bếp lò về phía bàn, làm lay động
chiếc váy dài xếp nếp, và lại làm việc, làm việc và
làm việc.
Trong số các con, ngoài Frank ra, không ai hiểu
được rằng mẹ luôn luôn mệt mỏi, một sự mệt mỏi
bất tận, không gì chữa khỏi được. Có biết bao nhiêu
việc cần làm, luôn luôn thiếu tiền, luôn luôn thiếu
thời gian, và bất cứ việc gì cũng vẫn chỉ có một đôi
tay. Giá như Meggie lớn hơn chút nữa và đỡ đần được
mẹ, ngay bây giờ con bé cũng vẫn làm những việc
đơn giản và nhẹ nhàng một chút, nhưng nó mới có
bốn tuổi, không thể trút cho nó nhiều việc. Sáu đứa
con mà chỉ có một con gái, mà lại là út. Tất cả những
người quen đều ái ngại cho bà mẹ của một gia đình
như thế và đều ghen với chị, nhưng công việc không
vì thế mà bớt đi. Trong chiếc giỏ nội trợ đã tích lại cả
một núi bít tất chưa mạng, và còn cả một chiếc bít
tất mới trên que đan, đang đan dở, và những chiếc
áo len dài tay của Hughie đã trở nên quá chật, nhưng
Jack chưa đủ lớn để nhường lại áo của mình cho em.
***
Hoàn toàn tình cờ, vào tuần lễ có ngày sinh của
Meggie, Padraic Cleary lại ở nhà. Mùa xén lông cừu
chưa tới, anh đi làm cho những người hàng xóm –
cày và gieo hạt. Bản thân anh là người xén lông cừu –
đấy là công việc theo mùa, kéo dài từ giữa mùa hè
cho đến cuối mùa đông, rồi bắt đầu mùa cừu đẻ.
Thường thì Cleary khéo xoay xở tìm được đủ việc
làm để cùng gia đình trụ được qua mùa xuân và
tháng đầu hè: anh giúp việc đỡ cừu đẻ, cày đất hay
thay thế chủ nhân một trại sữa nào đó không kịp vắt
sữa tất cả bò cái hai lần một ngày. Ở đâu tìm được
việc làm là anh đi, để mặc cho gia đình tự lo liệu lấy
đời sống trong ngôi nhà lớn cũ kỹ; như thế cũng
không phải là tàn nhẫn gì cho lắm. Anh không thuộc
loại những kẻ may mắn có đất riêng của mình, vậy
thì không còn cách nào khác.
Hôm ấy, sau lúc mặt trời lặn ít lâu, khi anh trở về,
trong nhà đã thắp đèn và những bóng đen nhảy nhót
trên cái trần cao. Bọn trẻ con trai đủ mặt cả, trừ
Frank, tụ tập trên bậc tam cấp phía sau, đang nghịch
một con nhái. Padraic hiểu ngay Frank ở đâu: từ chỗ
chất củi vọng đến tiếng rìu bổ đều đều. Padraic đi
qua bậc tam cấp rộng, hầu như không dừng lại, chỉ
đá Jack một cái và kéo tai Bob.
– Đến giúp Frank bổ củi đi, những thằng lười
nhác! Mà mau mau lên, cho đến khi nào mẹ gọi về
ăn, không thì chết đòn cả nút đấy!
Anh gật đầu với Fiona đang loay hoay bên bếp lò;
anh không ôm hôn chị vì cho rằng mọi sự biểu lộ
tình cảm âu yếm giữa vợ chồng chỉ thích hợp trong
buồng ngủ. Trong lúc anh cởi đôi giày bết bùn khô,
Meggie nhảy chân sáo chạy đến, mang cho bố đôi
dép đi ở nhà, và Padraic nở một nụ cười rộng với con.
Bao giờ cũng thế, mỗi lần nhìn thấy con bé, trong
lòng anh lại xốn xang một niềm ngạc nhiên khó
hiểu. Nó kháu khỉnh lạ, tóc đẹp tuyệt vời; anh ngoắc
một búp tóc, kéo duỗi ra, rồi lại thả ra: thật thích thú
khi thấy mớ tóc dài lại cuộn vào như cái lò xo và
nhảy về chỗ cũ. Rồi anh bế con lên, đến gần bếp lò,
cạnh đấy có chiếc ghế bành thuận tiện duy nhất
trong bếp: chiếc ghế bằng gỗ, lưng chạm trổ, mặt ghế
có đệm. Anh khẽ thở dài, ngồi xuống, lấy ống tẩu,
dộng bừa tàn xuống sàn. Meggie ngồi thu mình thoải
mái trên đùi bố, hai tay ôm quàng lấy cổ bố và ngước
khuôn mặt xinh xắn tươi tắn về phía bố: đấy là trò
chơi buổi tối quen thuộc của nó – nhìn ánh lửa qua
bộ râu ngắn màu hung của bố.
– Này, ở nhà thế nào, Fee? – Padraic Cleary hỏi
vợ.
– Tốt cả thôi, Paddy ạ. Hôm nay mình làm xong
khu vực dưới rồi chứ?
– Ừ, xong cả rồi. Sáng mai sẽ bắt tay vào khu vực
trên sơm sớm một chút. Ôi, tôi mệt mỏi quá!
– Đã đành rồi, MacPherson lại giao cho mình con
ngựa cái bất trị ấy chứ?
– Đương nhiên. Thế mình tưởng ông ta sẽ chịu
vất vả với con vật ấy và sẽ cho tôi con xám tro chắc?
Hai vai nhức nhối, hết cả hơi. Tôi đánh cuộc rằng
khắp New Zealand không tìm đâu ra con vật nào
khác bướng như thế.
– Thôi cũng được. Ngựa của ông già Robertson
toàn là ngựa tốt, mà chẳng bao lâu nữa mình sẽ
chuyển sang làm cho ông ta.
– Chong chóng lên thì hay. – Padraic nhồi thuốc
lá rẻ tiền vào tẩu, kéo cái bấc ở cây đèn sắt tây cạnh
bếp lò. Anh gí cái bấc vào cửa bếp lò bỏ ngỏ, lập tức
nó cháy. Padraic ngả người lên lưng ghế, rít sâu đến
nỗi trong tẩu có tiếng ọc ọc. – Thế nào, Meggie, con
có vui sướng vì con đã lên bốn không? – Anh hỏi con
gái.
– Rất vui sướng, ba ạ.
– Mẹ đã tặng quà cho con rồi chứ?
– Ôi, làm sao ba mẹ đoán ra là con muốn có
Agnes?
– Agnes à? – Anh mỉm cười liếc nhanh nhìn vợ,
sửng sốt nhướn cao lông mày. – Vậy ra tên nó là
Agnes à?
– Vâng. Nó đẹp lắm, ba ạ. Con cứ muốn suốt ngày
nhìn nó.
– May mà vẫn còn có cái để mà nhìn, – Fee cau có
nói. – Jack và Hughie giằng ngay lấy con búp bê ấy,
bé Meggie tội nghiệp chưa kịp xem xét tường tận đồ
chơi của mình.
– Thì chúng nó là con trai mà. Búp bê có bị hỏng
nặng lắm không?
– Vẫn còn chơi được. Frank đã kịp thời ngăn cản
chúng.
– Frank à? Nó làm gì ở đấy? Nó phải suốt ngày ở
xưởng rèn chứ. Hunter giục làm cho xong cái cổng đi
đấy.
– Frank vẫn làm việc suốt ngày đấy chứ. Nó chỉ về
lấy một dụng cụ gì đó thôi. – Fee vội nói. Padraic bao
giờ cũng quá nghiêm khắc với Frank.
– Ôi, ba ơi, Frank là người anh tốt nhất của con!
Anh ấy đã cứu Agnes của con thoát chết, và sau bữa
ăn tối anh ấy sẽ lại dán tóc cho nó cơ.
– Thế thì tốt, – ông bố nói bằng giọng buồn ngủ,
ngả mình lên lưng ghế và nhắm mắt lại.
Hơi nóng tỏa ra từ bếp lò, nhưng anh dường như
không để ý đến, trán anh lấp...
MẬN GAI
Nguyên tác: The Thorn Birds
—★—
Tác giả: Colleen McCulough
Người dịch: Phạm Mạnh Hùng
Dịch từ bản tiếng Nga của NXB Văn Học Moskva, 1980
Nhà xuất bản Văn Học - 2001
ebook©vctvegroup
27-07-2018
Lời giới thiệu
Tiểu thuyết “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”
xuất bản hồi mùa xuân 1977 cùng một lúc ở New
York, San Francisco, London và Sydney. Ít lâu sau nó
được dịch ra bảy thứ tiếng, được bạn đọc nhiệt liệt
hoan nghênh và giới phê bình đánh giá cao. Suốt
mấy năm trời, nó là tác phẩm ăn khách nhất ở
phương tây. Điều đó cũng là công bằng, vì đây thực
sự là một tác phẩm đặc sắc, có giá trị trong văn học
phương tây hiện nay.
Một điều đặc sắc nữa là tác giả của nó – Colleen
McCullough không phải là nhà văn chuyên nghiệp,
trước đó hầu như không ai biết tiếng. Khi tiểu thuyết
“Tiếng chim hót trong bụi mận gai” đem lại vinh dự
cho tác giả thì McCullough vẫn chỉ là một nhân viên
y tế bình thường. Bà sinh ở Úc, bang New South
Wales, trong gia đình một công nhân xây dựng xuất
thân từ Ireland. Thời thanh xuân McCullough ở
Sydney, đã từng học trường của nhà thờ công giáo, từ
bé đã mơ ước trở thành bác sĩ, nhưng không có điều
kiện để qua đại học y. Bà đã thử làm một số nghề –
làm báo, công tác thư viện, dạy học, rồi trở lại nghề y,
qua lớp đào tạo chuyên môn về sinh lý học thần
kinh. Sau đó, bà đã làm việc tại các bệnh viện ở
Sydney, London, Birmingham, rồi sang Mỹ, làm việc
tại một trường y thuộc trường đại học Yale. Năm
1974 bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên, không có
tiếng vang gì hết. “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”
được thai nghén trong ngót bốn năm, rồi đầu mùa
hè 1975, bà bắt tay vào viết liền một mạch trong
mười tháng. Suốt thời gian ấy, bà vẫn bận túi bụi
công việc ở bệnh viện, chỉ viết tác phẩm vào ban
đêm và ngày chủ nhật.
Tác phẩm này có thể gọi là “Xaga về gia đình
Cleary”. Xaga là hình thức văn xuôi cổ có tính chất
anh hùng ca, kể chuyện một cách điềm đạm về
những con người hùng dũng. Cuốn tiểu thuyết này
viết về lịch sử của nửa thế kỷ của ba thế hệ một gia
đình lao động – gia đình Cleary. Loại tiểu thuyết lịch
sử gia đình từ trước đã có những thành công lớn như
thiên sử thi về dòng họ Foocxaitơ của Gônxuôcthy,
“Gia đình Tibô” của Rôgiê máctanh duy Gar, “Gia
đình Artamônôp” của M.Gorki. Đặc điểm chung của
các tác phẩm đó là số phận gia đình tiêu biểu cho số
phận của giai cấp tư sản, nó phản ánh sự phát triển
và suy tôn của giai cấp tư sản, các thế hệ sau đoạn
tuyệt với nền tảng truyền thống của gia đình. So
sánh với những tác phẩm trên thì tác phẩm của
McCullough có sự khác biệt, có cái độc đáo riêng của
nó. Trước hết, đây là lịch sử của một gia đình lao
động. Sự phát triển tính kế thừa và đổi mới của ba
thế hệ gia đình này là hình mẫu thu nhỏ của lịch sử
dân tộc. Các thế hệ sau kế thừa những nét tốt đẹp
nhất của gia đình – tính cần cù, tự chủ, tính kiên
cường đón nhận những đòn ác liệt của số phận, lòng
tự hào gia đình, song đồng thời có những đổi khác
nhịp bước với thời đại. Nếu Fiona gan góc chịu đựng
mọi tai họa nhưng cam chịu số phận thì con gái bà là
Meggie đã tìm cách cướp lấy hạnh phúc của mình từ
tay Chúa Trời, và Justine, con gái của Meggie là một
cô gái hiện đại, có những chuẩn mực đạo đức hoàn
toàn khác. Cuốn tiểu thuyết xây dựng như truyện sử
biên gia đình, tác giả tập trung vào những xung đột
tâm lý – đạo đức nhiều hơn là những vấn đề giai cấp
– xã hội. Các nhân vật tuy vẫn chịu ảnh hưởng của
hoàn cảnh, nhưng chủ yếu là ứng xử theo tính cách
riêng của mình nhiều hơn. Trong số nhiều nhân vật,
nổi bật hơn cả là ba nhân vật – Fiona, Meggie con gái
bà và cha đạo Ralph de Bricassart. Meggie có thể coi
là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trong tiểu
thuyết có nhiều tuyến tình tiết, nhiều môtíp, đề tài,
song tất cả đều phục vụ câu chuyện chính, mối tình
lớn lao trong sáng của Meggie và cha de Bricassart.
Trong tác phẩm quy mô lớn này, những xung đột
tâm lý – tinh thần của các nhân vật quyện chặt với
sự miêu tả tỉ mỉ toàn cảnh lịch sử, địa lý, thiên
nhiên. Thiên nhiên bao la, dữ dội nhưng có cái đẹp
hoang sơ riêng của nó như hiện ra trước mắt bạn
đọc. Giá trị nhận thức của tác phẩm do đó càng thêm
đầy đủ. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người ở
đây mang tính chất chung sống hài hòa, thiên nhiên
chưa kịp uy hiếp đến nguy cơ hủy diệt.
Tính hiện thực và tính lãng mạn trong tác phẩm
này hòa lẫn vào nhau tới mức thuần nhị. Sự miêu tả
tỉ mỉ bằng hình thức của bản thân đời sống, cả từ
cách ăn mặc, lời ăn tiếng nói của nhân vật, cho đến
cách xén lông cừu, nếp sống hàng ngày.v.v…, lối kể
chuyện thong thả theo trình tự thời gian khiến cho
tác phẩm gần với loại tiểu thuyết hiện thực thế kỷ 19.
Nhưng những tính cách phi thường rực rỡ biểu hiện
trong những biến cố đột ngột, đầy hấp dẫn tạo nên
màu sắc lãng mạn rất rõ nét. Một tác phẩm văn học
Mỹ thời nay, xa lạ với những cảnh hung bạo, với
“sex”, với “phản nhân vật” đưa bạn đọc trở về với
những vấn đề “nhà” (theo nghĩa quê hương) “cội
nguồn”, “cha và con” mà lại được ham chuộng đến
như thế ở phương tây thì điều đó chứng tỏ những
vấn đề muôn thuở của nhân loại bao giờ cũng làm
rung động lòng người ở bất cứ nơi nào trên hành
tinh chúng ta.
• PHẠM MẠNH HÙNG
Tặng Jin Ixtkhôup “người chị của tôi”
Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót có một
lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có
lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho
bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó
cất tiếng hót bài ca của mình và lao ngực vào
chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi
đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và
tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và họa
mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất, có một không
hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được.
Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính
thượng đế trên thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì
tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được
khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại… Ít ra
là truyền thuyết nói như vậy.
I
1915 – 1917
MEGGIE
1
Ngày mùng tám tháng chạp năm 1915, Meggie
tròn bốn tuổi. Sau bữa ăn sáng, thu dọn xong bát đĩa,
mẹ lẳng lặng giúi vào tay bé một bọc giấy màu nâu
và bảo bé ra sân chơi. Bây giờ Meggie ngồi xổm dưới
bụi kim tước cạnh cổng và sốt ruột mân mê cái bọc
giấy. Không dễ gì mở được lớp giấy bọc bền chắc
bằng những ngón tay lóng ngóng; tờ giấy phảng phất
hơi hướng của cửa hàng lớn ở Wahine, và Meggie
đoán ra: cái vật ở bên trong không phải đồ vật tự làm
lấy, không phải của ai cho, mà kỳ diệu thay, là vật
mua ở cửa hàng.
Ở một góc bọc đồ bắt đầu lộ rõ một cái gì mỏng
mảnh, óng ánh vàng. Meggie càng nôn nóng phá bỏ
lớp giấy bọc, bóc đi những dải dài nham nhở.
– Agnes! Ôi, Agnes! – Nó nói bằng giọng trìu mến
và chớp chớp hai hàng mi, không tin ở mắt mình
nữa: nằm giữa đám giấy tơi tả là một con búp bê.
Dĩ nhiên đấy là phép mầu nhiệm. Cả đời Meggie
mới được đến Wahine có một lần – lâu lắm rồi, từ hồi
tháng năm, nó được người lớn cho đi theo vì nó là
con bé ngoan. Nó leo lên chiếc xe hai bánh bên cạnh
mẹ và tỏ ra ngoan ngoãn không chê vào đâu được,
nhưng vì xúc động, nó gần như không nhìn thấy gì
và không nhớ gì, trừ có Agnes. Con búp bê xinh đẹp
ngồi trên quầy, diện ghê lắm, váy phồng bằng lụa
màu hồng trang điểm những đường viền đăng ten
màu cream lộng lẫy. Ngay lúc đó Meggie đã đặt tên
cho con búp bê là Agnes – nó không tìm ra cái tên
nào kiều diễm hơn, xứng đáng với con bé đẹp phi
thường như vậy. Nhưng mấy tháng dài đằng đẵng
sau đó, nó chỉ mong nhớ Agnes một cách tuyệt vọng.
Meggie chưa bao giờ có một con búp bê nào, thậm
chí không hề nghĩ rằng búp bê là thứ dành riêng cho
các em gái nhỏ tuổi. Nó rất vui vẻ chơi còi tu huýt,
súng cao su và những chú lính thiếc méo mó mà các
anh nó vất đi, tay nó bao giờ cũng lem luốc, giày dính
bùn.
Meggie thậm chí không hề có ý nghĩ Agnes là đồ
chơi. Nó đưa tay vuốt những nếp gấp của bộ áo váy
màu hồng thắm, – bộ áo váy lộng lẫy như thế chưa
bao giờ nó nhìn thấy ở một người phụ nữ nào trong
đời thực – và nó âu yếm bế con búp bê lên. Tay và
chân Agnes có khớp nối, có thể xoay vặn và uốn gập
tùy ý; ngay cả cổ và cái eo lưng thon thả cũng uốn
gập được. Mái tóc vàng óng chải cao bồng và điểm
những hạt ngọc, cái cổ màu hồng dịu để hở và đôi vai
ló ra dưới lớp đăng ten lồng bồng như bọt sóng cài
kim găm nạm ngọc. Gương mặt xinh xắn bằng sứ có
tô màu, không tráng men bóng, nom mờ dịu hệt như
mặt người thật. Đôi mắt đen linh lợi lạ thường sáng
long lanh, hai hàng mi bằng sợi lông thật, mống mắt
lấp lánh bắn ra tia sáng và có đường viền xanh sẫm;
Meggie hoan hỉ nhận ra rằng nếu đặt Agnes nằm
ngửa thì mắt nó nhắm lại. Một bên má hồng có cái
nốt ruồi đen đen, cái miệng đỏ thẫm hơi hé mở, phô
ra hàng răng nhỏ xíu trắng muốt. Meggie thu chân
lại cho thoải mái, thận trọng đặt con búp bê lên đùi
và ngồi nhìn nó không dứt.
Con bé vẫn ngồi như thế dưới bụi cây khi Jack và
Hughie ló ra từ trong đám cỏ cao (ở sát hàng rào khó
cắt cỏ). Tóc Meggie cũng y như tóc của Cleary, chói
rực như ngọn hải đăng: tất cả các con trong gia đình,
trừ Frank, đều phải chịu đựng trừng phạt đó – đứa
nào cũng tóc xoăn màu hung, chỉ có sắc thái khác
nhau. Jack vui vẻ hích khuỷu tay vào em: nom kìa.
Chúng nhìn nhau, cười khẩy và lén đến từ hai phía,
như thể chúng là lính và vây bắt tên phản bội người
Maori[1]. Nhưng dù sao Meggie cũng không thể nghe
thấy tiếng động của chúng, nó chỉ mải mê với Agnes
và lẩm nhẩm hát điệu gì với con búp bê.
– Mày có cái gì đấy, Meggie? – Jack nhảy tới chỗ
em gái. – Đưa xem nào!
– Phải đấy, phải đấy, đưa xem đi! – Hughie vừa
cười vừa hùa theo, nó từ phía bên kia chạy đến.
Meggie ôm ghì con búp bê vào ngực, lắc đầu quầy
quậy:
– Không! Nó là của em! Quà mừng ngày sinh đấy!
– Nào, đưa đây xem! Chúng tao chỉ xem lúc thôi
mà!
Niềm kiêu hãnh và vui sướng át mất sự thận
trọng. Meggie giơ con búp bê lên cho các anh ngắm.
– Xem đây này, đẹp đấy chứ? Tên nó là Agnes.
– Agnes? Agnes à? – Jack làm ra vẻ hệt như
nghẹn ngào. – Cái tên mĩ miều quá, chậc – chậc! Chỉ
nên gọi nó một cách giản dị là Betty hay Margaret.
– Không, nó là Agnes.
Hughie nhận thấy cổ tay búp bê có khớp nối, nó
huýt một tiếng sáo.
– Ê. Jack, nhìn xem này! Nó có thể cử động tay
được!
– Thế à? Ta thử cái xem.
– Không, không! – Meggie lại ôm ghì con búp bê
vào ngực, mắt ứa lệ. – Các anh làm gãy mất. Ôi, Jack,
đừng động đến nó, anh làm gãy mất thôi.
– Hừ-ừ! – Bằng hai tay thô kệch ngăm đen và lem
luốc, Jack nắm chặt lấy hai cổ tay em gái. – Mày
muốn tao vặn tay mày à? Đừng có choe chóe lên, con
bé hay nhè, không thì tao bảo Bob cho đấy. – Nó bắt
đầu giơ tay em ra mạnh đến nỗi hai tay con bé trắng
bệch ra, còn Hughie nắm lấy váy con búp bê mà giật.
– Bỏ ra, không thì khốn đấy.
– Đừng, Jack! Thôi xin anh! Anh làm gãy nó mất,
em biết, gãy mất! Ôi, buông nó ra! Đừng động đến,
em xin mà!
Meggie rất đau, nó nức nở, giậm chân và vẫn ôm
ghì con búp bê vào ngực.
Nhưng cuối cùng Agnes tuột khỏi tay nó.
– A ha, được rồi! – Hughie gào lên.
Jack và Hughie loay hoay với món đồ chơi mới
cũng mê mải như em gái chúng trước đó, chúng lột
bỏ khỏi búp bê bộ áo liền váy, váy trong, quần lót có
đường viền. Agnes trần truồng nằm đó, hai thằng bé
lôi kéo giằng giật nó, vắt một chân nó ra sau đầu, còn
đầu thì vặn phía sau ra phía trước, uốn gập và vặn
vẹo đủ kiểu. Nước mắt của con em không hề làm
chúng mủi lòng, còn Meggie cũng không nghĩ đến
chuyện tìm sự cứu giúp ở đâu cả: tục lệ trong gia
đình Cleary là như vậy – không tự bảo vệ được mình
thì đừng hy vọng được ủng hộ và đồng tình, dù là
một bé gái đi nữa.
Mái tóc vàng óng của búp bê rối tung, những hạt
ngọc thoáng hiện trong không trung và biến mất
trong đám cỏ rậm. Chiếc giày bụi bậm ban nãy vừa
giẫm trong xưởng rèn xéo bừa lên bộ áo váy bị vứt
bỏ, trên má búp bê hằn một vệt đen đậm. Meggie vội
quỳ xuống, lượm bộ y phục nhỏ xíu để nó khỏi hư
hại hơn nữa và bắt đầu lục tìm trong cỏ: may ra có
thể tìm được những hạt ngọc vương vãi. Nước mắt
làm nó quáng lòa, tim tan nát vì một nỗi đau xót
chưa từng biết – con bé chưa từng có cái gì riêng của
mình đáng cho nó đau buồn.
***
Frank vất cái móng ngựa vào nước lạnh làm dậy
lên tiếng xèo xèo, và cậu vươn thẳng người. Mấy ngày
gần đây, lưng không đau, có lẽ rút cuộc cậu đã quen
quai búa. Đáng phải tập quen từ lâu rồi, hẳn bố sẽ
nói thế, đã nửa năm nay cậu làm việc trong xưởng
rèn. Bản thân Frank còn nhớ cậu đã được tiếp xúc
với búa và đe từ lâu rồi; cậu đo những ngày tháng ấy
bằng mức oán hận và thù ghét của mình. Bây giờ cậu
quăng búa vào hòm đựng dụng cụ, tay run run gạt
mảng tóc đen duỗi thẳng xõa xuống trán và cởi qua
đầu chiếc tạp dề da cũ kỹ. Áo sơ mi nằm trên đống
rơm trong góc xưởng; cậu chậm rãi đi đến đấy và
đứng một hai phút mở to đôi mắt màu đen, nhìn bức
tường, nhìn những tấm ván không bào bằng ánh mắt
thù ghét.
Frank vóc người nhỏ bé, cao không quá năm feet
ba inches[2], và vẫn còn gầy như một chú thiếu niên,
nhưng đôi tay để trần đã nổi cuộn cơ bắp vì quai búa
và làn da mờ, nhẵn nhụi không chê vào đâu được
bóng nhẫy mồ hôi. Trong cả gia đình, cậu khác hẳn
mọi người ở mái tóc và mắt thẫm màu, cặp môi
mọng và sống mũi rộng cũng không giống những
người khác, sở sĩ như vậy vì trong mạch máu của mẹ
cậu có chút máu Maori, cái đó có ảnh hưởng đến
hình dáng của Frank. Cậu đã sắp mười sáu tuổi, còn
Bob mới hơn mười một tuổi tí chút, Jack lên mười,
Hughie chín tuổi, Stuart lên năm tuổi và bé Meggie
ba tuổi. Chợt cậu nhớ ra: hôm nay mùng tám tháng
chạp. Meggie tròn bốn tuổi. Cậu mặc áo và ra khỏi
nhà kho.
Nhà họ ở trên đỉnh một quả đồi không cao lắm, từ
nhà kho – đây cũng là chuồng ngựa và xưởng rèn, –
đến nhà chừng dăm chục bước. Cũng như mọi ngôi
nhà ở New Zealand, ngôi nhà này bằng gỗ, thô kệch,
chỉ có một tầng, nhưng dàn rộng theo bề ngang: nếu
xảy ra động đất thì vẫn có phần nguyên vẹn. Xung
quanh nhà um tùm những bụi kim tước dày rậm rực
rỡ hoa vàng; và cỏ thì xanh tươi mơn mởn, đích thực
là cỏ New Zealand. Thậm chí giữa mùa đông, có khi
trong bóng rợp, sương giá suốt ngày không tan, cỏ
không bao giờ ngả sang màu hung, còn trong mùa
hè dài âu yếm, màu cỏ càng xanh rờn hơn. Mưa thì
nhẹ nhàng, êm ả, không làm gãy những chồi mầm và
thân non ẻo lả, tuyết thì không bao giờ có, còn mặt
trời sưởi ấm vừa đủ để ấp ủ, nhưng không gắt đến
mức làm khô héo. Thiên tai dữ dội ở New Zealand
không phải từ trên trời giáng xuống, mà từ lòng đất
phụt ra. Cổ họng lúc nào cũng nghẽn lại vì thấp
thỏm chờ đợi, lúc nào ở dưới chân cũng cảm thấy cái
rung động khó nhận thấy, tiếng ì ầm kéo rền trong
lòng đất. Bởi vì trong lòng sâu của đất vẫn ẩn khuất,
một sức mạnh kinh khủng không thể tưởng tượng
nổi, cái sức mạnh mãnh liệt đến nỗi ba mươi năm
trước nó đã quét sạch khỏi mặt đất một trái núi
khổng lồ; ở những quả đồi bề ngoài nom hiền lành
bỗng toác ra những vết nứt, những cột hơi nước rú
rít phụt ra, các núi lửa phun lên trời những cột khói
cuồn cuộn, nước các sông suối trong núi bỏng rẫy.
Các hồ rộng lớn đầy bùn lỏng sôi sục lên, nom sánh
đặc như dầu, sóng ngập ngừng vỗ vào những mỏm
đá mà có lẽ sẽ không còn có thể tìm thấy ở chỗ cũ khi
đợt triều mới lại dâng lên, và bề dày của vỏ trái đất
có chỗ không quá chín trăm feet.
Tuy thế, đây vẫn là mảnh đất tốt lành, phì nhiêu.
Trải rộng sau nhà là một đồng bằng loáng thoáng
những ngọn đồi, cả đồng bằng màu xanh lục như
hòn ngọc bích trên chiếc nhẫn của Cleary – món quà
tặng ngày xưa của chồng chưa cưới. Khắp đồng bằng
rải rác những cụm nhỏ màu trắng mượt mà, nhìn
gần mới thấy rõ đấy là những con cừu. Sau dãy đồi
vệt thành một đường lượn sóng là bầu trời xanh và
núi Egmont vươn cao tới chục ngàn feet, đỉnh núi
chìm trong mây, các sườn núi vẫn còn phủ tuyết
trắng xóa và hình thế núi đều đặn, hoàn mĩ đến nỗi
ngay cả những người cả đời vẫn nhìn thấy nó mà
ngày này sang ngày khác vẫn ngắm nó không biết
chán.
Đường lên nhà khá dốc, nhưng Frank vội vã, cậu
biết rằng vào lúc này cậu không được phép vắng mặt
ở xưởng rèn: bố có những quy định nghiêm khắc.
Nhưng cậu đã vòng qua góc nhà và thấy bọn trẻ dưới
bụi cây.
Chính Frank đã đánh xe đưa mẹ đi Wahine mua
búp bê cho Meggie và cho đến giờ cậu vẫn ngạc
nhiên không hiểu vì sao mẹ chợt nảy ra ý định ấy. Mẹ
hoàn toàn không thích tặng những món quà không
thực tế vào ngày sinh nhật, không có tiền đâu mà
mua những thứ như thế, trước đây mẹ không hề tặng
ai đồ chơi bao giờ. Tất cả các con đều được một thứ
quần áo gì đó, vào ngày sinh nhật hoặc lễ giáng sinh,
cái tủ áo nghèo nàn lại được bổ sung thêm. Nhưng
chắc là Meggie đã nhìn thấy con búp bê này trong
lần duy nhất được ra thành phố và Fiona không
quên điều đó. Frank có lần toan hỏi mẹ chuyện đó,
nhưng mẹ chỉ lầu bầu rằng đứa bé gái không thể
không có búp bê, rồi nói ngay sang chuyện khác.
Ngồi trên con đường nhỏ dẫn về nhà, Jack và
Hughie, hai thằng – bốn cái tay – vặn bẻ tất cả các
khớp của búp bê, không chút xót thương. Meggie
đứng quay lưng về phía Frank, nhìn các anh nhạo
báng Agnes. Đôi bít tất trắng sạch sẽ của Meggie tụt
xuống trùm lên đôi giày màu đen, dưới bộ áo liền
váy bằng nhung màu nâu để mặc trong dịp hội hè lộ
ra đôi chân trần. Những búp tóc uốn cẩn thận xõa
xuống lưng lấp lánh dưới ánh mặt trời – không phải
màu đỏ đồng, cũng không phải màu vàng óng, mà là
một màu gì đặc biệt giữa hai màu đó. Dải băng bằng
lụa mềm giữ cho tóc phía trước khỏi xoã xuống mặt
đã trở nên nhẽo nhợt và xô lệch hẳn đi, chiếc áo liền
váy bám đầy bụi. Một tay Meggie nắm chặt mớ áo
xống của búp bê, tay kia cố đẩy Hughie ra mà không
được.
– A, đồ đểu cáng!
Jack và Hughie lập tức bật dậy và cắm đầu chạy,
quên cả con búp bê: Frank đã quát mắng thì chuồn
cho mau là hay hơn cả.
– Chúng mày mà còn đụng đến con búp bê này
lần nữa là tao vặn gãy chân đấy! – Frank quát với
theo.
Rồi cậu cúi xuống, nắm lấy hai vai Meggie và khẽ
lắc:
– Này, thôi đừng khóc. Chúng nó đi rồi, chúng nó
sẽ không động đến búp bê của em nữa đâu, cứ yên
tâm. Cười đi nào, hôm nay là ngày sinh của em kia
mà!
Trên khuôn mặt húp lên của con bé, nước mắt
chảy như suối; nó ngước đôi mắt màu xám rất to, đầy
đau khổ lên nhìn Frank, đến nỗi cậu cảm thấy nghẹn
thở. Cậu rút trong túi quần ra một mảnh vải lem
luốc, vụng về lau mặt cho em, bóp lấy cái mũi xinh
xinh giữa những nếp khăn:
– Xì đi!
Meggie nghe lời, nước mắt khô ráo, nhưng vẫn
khó cất lên lời, tiếng nấc cứ bật ra.
– Ôi, anh F-f-frank ơi, các anh ấy gi-ật Agnes của
em! – Nó khóc nấc lên. – T-t-tóc nó rối tung hết và
những hạt ngo-ọc “coong coong” văng đi hết! Nó lăn
vào co-ỏ, em chẳng làm thế nào tìm được!
Và nước mắt lại túa xuống tay Frank; Frank nhìn
bàn tay ướt của mình, rồi liếm những giọt nước mắt
trên tay.
– Ờ, không sao, bây giờ anh em ta sẽ tìm. Nhưng
khi em khóc thì tất nhiên em sẽ chẳng nhìn thấy gì
trong cỏ, mà sao tự dưng em nói bập bẹ như đứa trẻ
mới học nói vậy? Đã từ lâu em biết nói “con con” chứ
không phải “coong coong” kia mà. Xì mũi lần nữa đi
và nhặt con búp bê khốn khổ của em lên… tên nó là
Agnes phải không? Mặc áo váy vào cho nó, không thì
nó bị bỏng nắng đấy.
Cậu đặt em gái xuống rìa đường, thận trọng đưa
cho em con búp bê và bắt đầu lục lọi trong cỏ, và lát
sau cậu reo lên đắc thắng, giơ cao trên đầu hạt ngọc
nhỏ.
– Một hạt đây rồi! Em thấy không, chúng ta sẽ tìm
đủ hết!
Meggie nhìn anh với niềm kính yêu khôn tả, còn
Frank vẫn sục sạo trong đám cỏ cao và lần lượt đưa
ra cho em xem những hạt ngọc đã tìm thấy, nhưng
rồi con bé chợt nhớ ra: da Agnes hẳn là rất mềm mại,
không chừng nó bị rộp nắng thực đấy, và nó bắt đầu
mặc áo cho búp bê. Hình như búp bê không bị hư hại
nặng lắm. Kiểu tóc xổ hết, tóc rối bù, tay và chân đầy
vết bẩn vì hai thằng anh xoay vặn chúng bằng những
bàn tay lem luốc, nhưng tay chân búp bê còn nguyên
lành. Phía trên tai Meggie có gài những chiếc lược
con bằng mai rùa, nó rút bật ra một chiếc và bắt đầu
chải tóc cho Agnes, đấy là tóc hoàn toàn thật, dán
một cách khéo léo vào lớp vải màn và được tẩy màu
cho thành màu vàng rơm óng ả.
Meggie vụng về mân mê một cái nút gì đó trong
tóc búp bê, và đột nhiên xảy ra một việc khủng
khiếp. Tóc lập tức tuột hết và lủng liểng một cục rối
tinh trên chiếc lược. Phía trên cái trán trơn nhẵn của
búp bê chẳng có gì cả – không có thóp, cũng chẳng
có cái sọ trần. Chỉ có một cái lỗ há hoác khủng khiếp.
Sợ hãi, Meggie cúi xuống và toàn thân run rẩy, nhìn
vào trong. Nhìn từ trong có thể lờ mờ đoán nhận ra
hình dáng của má và cằm, ánh sáng lọt vào qua đôi
môi hé mở, và răng hiện thành những hình bóng đen
đen, như răng một con thú nhỏ nào đó và phía trên
tất cả những cái đó, Meggie nhìn thấy mắt Agnes –
hai quả cầu nhỏ rắn chắc xâu vào sợi dây thép tàn
nhẫn cắm vào đầu búp bê.
Meggie hét lên một cách tuyệt vọng, không trẻ thơ
tí nào, quẳng Agnes đi và vẫn la lên, hai tay bưng
mặt, con bé kinh hoàng, run lên bần bật. Rồi nó cảm
thấy Frank gỡ hai tay nó ra, bế nó lên và ôm ghì vào
ngực mình. Nó áp trán vào cổ anh, ôm chặt lấy anh –
sự gần gũi của anh an ủi nó, làm nó yên tâm, và
Meggie thậm chí cảm thấy ở anh nó toát ra thứ mùi
thú vị: mùi ngựa, mùi mồ hôi, mùi sắt.
Cuối cùng, nó bình tĩnh lại chút ít và Frank đã hỏi
được nó thật tỉ mỉ về sự việc đã xảy ra: cậu nhặt con
búp bê lên, băn khoăn nhìn kỹ cái sọ rỗng và cố nhớ
lại: hồi nhỏ tuổi, cậu có từng bị những nỗi sợ khó
hiểu giày vò hay không. Ồ không, ám ảnh cậu là
những cái khác: những con người, những lời thì
thầm, những cái nhìn xéo. Cậu nhớ tới khuôn mặt
phờ phạc, rụt rè của mẹ, cơn run của bàn tay mẹ
nắm chặt lấy tay cậu, đôi vai rũ xuống của mẹ.
Meggie nhìn thấy gì mà đến nỗi khiếp sợ như vậy?
Có lẽ nó sẽ ít sợ hơn nhiều nếu như do mất tóc,
Agnes chỉ chảy máu. Đó là chuyện bình thường,
trong gia đình Cleary ít nhất một tuần một lần, nhất
định có người bị đứt tay hay bị vập chảy máu.
– Mắt… mắt… – Meggie thì thầm, quay đi, khăng
khăng không muốn nhìn con búp bê nữa.
– Quái vật chứ không phải là búp bê nữa! – Frank
lẩm bẩm, áp mặt vào mái tóc em. – Tóc gì tuyệt diệu,
dày rậm, mềm mại và chói rực lạ thường.
Suốt nửa giờ cậu dỗ dành Meggie cho đến khi ép
được nó phải nhìn Agnes, rồi nửa giờ nữa để dỗ được
nó nhìn vào cái đầu thủng lỗ của búp bê. Cậu chỉ dẫn
cho con bé thấy mắt cấu tạo như thế nào, mọi cái
được dự tính và khuôn lắp chính xác như thế nào để
mắt không bị lé, nhắm mở dễ dàng.
– Thôi, bây giờ đến lúc em nên về nhà rồi đấy, –
cậu nói, xốc em lên chút nữa, ghì sát vào mình, ép
chặt con búp bê ở giữa – Ta sẽ nhờ mẹ sửa sang lại
con búp bê, được chứ? Ta sẽ giặt là áo váy nó và dán
lại tóc. Còn với những hạt ngọc này thì anh sẽ làm
những cái trâm thực sự để nó khỏi rơi và em sẽ có
thể chải tóc cho búp bê đủ các kiểu em muốn.
***
Fiona Cleary đang gọt khoai ở bếp. Chị hơi thấp
hơn mức trung bình, rất xinh gái, một người đẹp
thực sự, nhưng gương mặt nghiêm nghị, khắc
nghiệt; thân hình cân đối tuyệt trần, tấm lưng ong
không hề xồ ra, không trở nên nặng nề, tuy người
phụ nữ này đã mang nặng đẻ đau sáu đứa con. Chị
mặc bộ áo váy bằng vải trúc bâu màu xám, chiếc váy
dài buông chấm mặt sàn sạch bóng như gương; che
phủ phía trước áo là tấm tạp dề cực rộng, hồ bột
trắng muốt, tấm tạp dề mặc chui qua đầu và buộc lại
sau lưng bằng một dải băng hết sức gọn gàng hồ bột
thật cứng. Từ sáng sớm cho đến đêm khuya, cuộc
sống của chị là ở bếp và vườn rau, đôi chân đi giày
thô màu đen đưa chị đi vẫn theo cái vòng tròn ấy – từ
bếp đến chậu giặt, từ chỗ giặt đến luống rau, và từ đó
đến dây phơi rồi trở lại bếp.
Chị đặt con dao xuống bàn, nhìn Frank với
Meggie, hai bên mép vành môi xinh đẹp trễ xuống.
– Meggie, sáng nay mẹ cho con mặc bộ áo váy đẹp
nhất với điều kiện là con không được làm bẩn nó.
Thế mà con nhìn lại nó xem! Lem luốc quá thể!
– Không phải lỗi tại em nó đâu, mẹ ạ – Frank xen
vào, – Jack và Hughie giằng búp bê của nó, chúng nó
muốn xem tay chân búp bê cử động thế nào. Con đã
hứa với Meggie rằng mẹ và con sẽ giúp em, và búp bê
sẽ lại như mới. Ta làm được chứ, mẹ nhỉ!
– Đưa xem – Fee giơ tay ra.
Chị vốn không nhiều lời, thường im lặng nhiều
hơn. Chị nghĩ gì, chẳng ai biết, ngay cả chồng chị.
Việc đưa các con vào khuôn phép, chị dành cho
chồng, chồng bảo gì, chị làm đúng như thế, vâng
chịu và nín nhịn, trừ phi xảy ra điều gì hoàn toàn
khác thường. Meggie nghe thấy các anh thì thầm với
nhau rằng mẹ sợ bố không kém gì chúng, nhưng nếu
đúng như thế thì nghĩa là chị che giấu sự sợ hãi dưới
cái mặt nạ điềm tĩnh không sao hiểu thấu nổi và hơi
cau có. Chị không bao giờ cười và dù có chuyện gì đi
nữa, cũng chưa lần nào chị nổi nóng.
Sau khi chăm chú xem xét Agnes, Fee đặt nó lên
chiếc tủ con cạnh bếp lò và nhìn Meggie.
– Sáng mai mẹ sẽ giặt áo váy cho nó và sẽ chải
kiểu tóc mới. Còn tối nay, sau bữa ăn, Frank có thể
dán tóc và tắm rửa cho nó.
Những lời đó không phải là để an ủi, mà có tính
chất thiết thực nhiều hơn. Meggie gật đầu, mỉm cười
ngập ngừng; có những lúc nó thiết tha mong muốn
mẹ cất tiếng cười, nhưng điều đó chưa từng xảy ra.
Meggie cảm thấy giữa nó và mẹ có cái gì chung, làm
cho hai mẹ con khác với bố và các anh trai, nhưng
mẹ lúc nào cũng bận, bao giờ cũng thẳng thừng, sắt
đá, không thể gần được. Mẹ sẽ lơ đãng gật đầu, khéo
léo xoay người từ bếp lò về phía bàn, làm lay động
chiếc váy dài xếp nếp, và lại làm việc, làm việc và
làm việc.
Trong số các con, ngoài Frank ra, không ai hiểu
được rằng mẹ luôn luôn mệt mỏi, một sự mệt mỏi
bất tận, không gì chữa khỏi được. Có biết bao nhiêu
việc cần làm, luôn luôn thiếu tiền, luôn luôn thiếu
thời gian, và bất cứ việc gì cũng vẫn chỉ có một đôi
tay. Giá như Meggie lớn hơn chút nữa và đỡ đần được
mẹ, ngay bây giờ con bé cũng vẫn làm những việc
đơn giản và nhẹ nhàng một chút, nhưng nó mới có
bốn tuổi, không thể trút cho nó nhiều việc. Sáu đứa
con mà chỉ có một con gái, mà lại là út. Tất cả những
người quen đều ái ngại cho bà mẹ của một gia đình
như thế và đều ghen với chị, nhưng công việc không
vì thế mà bớt đi. Trong chiếc giỏ nội trợ đã tích lại cả
một núi bít tất chưa mạng, và còn cả một chiếc bít
tất mới trên que đan, đang đan dở, và những chiếc
áo len dài tay của Hughie đã trở nên quá chật, nhưng
Jack chưa đủ lớn để nhường lại áo của mình cho em.
***
Hoàn toàn tình cờ, vào tuần lễ có ngày sinh của
Meggie, Padraic Cleary lại ở nhà. Mùa xén lông cừu
chưa tới, anh đi làm cho những người hàng xóm –
cày và gieo hạt. Bản thân anh là người xén lông cừu –
đấy là công việc theo mùa, kéo dài từ giữa mùa hè
cho đến cuối mùa đông, rồi bắt đầu mùa cừu đẻ.
Thường thì Cleary khéo xoay xở tìm được đủ việc
làm để cùng gia đình trụ được qua mùa xuân và
tháng đầu hè: anh giúp việc đỡ cừu đẻ, cày đất hay
thay thế chủ nhân một trại sữa nào đó không kịp vắt
sữa tất cả bò cái hai lần một ngày. Ở đâu tìm được
việc làm là anh đi, để mặc cho gia đình tự lo liệu lấy
đời sống trong ngôi nhà lớn cũ kỹ; như thế cũng
không phải là tàn nhẫn gì cho lắm. Anh không thuộc
loại những kẻ may mắn có đất riêng của mình, vậy
thì không còn cách nào khác.
Hôm ấy, sau lúc mặt trời lặn ít lâu, khi anh trở về,
trong nhà đã thắp đèn và những bóng đen nhảy nhót
trên cái trần cao. Bọn trẻ con trai đủ mặt cả, trừ
Frank, tụ tập trên bậc tam cấp phía sau, đang nghịch
một con nhái. Padraic hiểu ngay Frank ở đâu: từ chỗ
chất củi vọng đến tiếng rìu bổ đều đều. Padraic đi
qua bậc tam cấp rộng, hầu như không dừng lại, chỉ
đá Jack một cái và kéo tai Bob.
– Đến giúp Frank bổ củi đi, những thằng lười
nhác! Mà mau mau lên, cho đến khi nào mẹ gọi về
ăn, không thì chết đòn cả nút đấy!
Anh gật đầu với Fiona đang loay hoay bên bếp lò;
anh không ôm hôn chị vì cho rằng mọi sự biểu lộ
tình cảm âu yếm giữa vợ chồng chỉ thích hợp trong
buồng ngủ. Trong lúc anh cởi đôi giày bết bùn khô,
Meggie nhảy chân sáo chạy đến, mang cho bố đôi
dép đi ở nhà, và Padraic nở một nụ cười rộng với con.
Bao giờ cũng thế, mỗi lần nhìn thấy con bé, trong
lòng anh lại xốn xang một niềm ngạc nhiên khó
hiểu. Nó kháu khỉnh lạ, tóc đẹp tuyệt vời; anh ngoắc
một búp tóc, kéo duỗi ra, rồi lại thả ra: thật thích thú
khi thấy mớ tóc dài lại cuộn vào như cái lò xo và
nhảy về chỗ cũ. Rồi anh bế con lên, đến gần bếp lò,
cạnh đấy có chiếc ghế bành thuận tiện duy nhất
trong bếp: chiếc ghế bằng gỗ, lưng chạm trổ, mặt ghế
có đệm. Anh khẽ thở dài, ngồi xuống, lấy ống tẩu,
dộng bừa tàn xuống sàn. Meggie ngồi thu mình thoải
mái trên đùi bố, hai tay ôm quàng lấy cổ bố và ngước
khuôn mặt xinh xắn tươi tắn về phía bố: đấy là trò
chơi buổi tối quen thuộc của nó – nhìn ánh lửa qua
bộ râu ngắn màu hung của bố.
– Này, ở nhà thế nào, Fee? – Padraic Cleary hỏi
vợ.
– Tốt cả thôi, Paddy ạ. Hôm nay mình làm xong
khu vực dưới rồi chứ?
– Ừ, xong cả rồi. Sáng mai sẽ bắt tay vào khu vực
trên sơm sớm một chút. Ôi, tôi mệt mỏi quá!
– Đã đành rồi, MacPherson lại giao cho mình con
ngựa cái bất trị ấy chứ?
– Đương nhiên. Thế mình tưởng ông ta sẽ chịu
vất vả với con vật ấy và sẽ cho tôi con xám tro chắc?
Hai vai nhức nhối, hết cả hơi. Tôi đánh cuộc rằng
khắp New Zealand không tìm đâu ra con vật nào
khác bướng như thế.
– Thôi cũng được. Ngựa của ông già Robertson
toàn là ngựa tốt, mà chẳng bao lâu nữa mình sẽ
chuyển sang làm cho ông ta.
– Chong chóng lên thì hay. – Padraic nhồi thuốc
lá rẻ tiền vào tẩu, kéo cái bấc ở cây đèn sắt tây cạnh
bếp lò. Anh gí cái bấc vào cửa bếp lò bỏ ngỏ, lập tức
nó cháy. Padraic ngả người lên lưng ghế, rít sâu đến
nỗi trong tẩu có tiếng ọc ọc. – Thế nào, Meggie, con
có vui sướng vì con đã lên bốn không? – Anh hỏi con
gái.
– Rất vui sướng, ba ạ.
– Mẹ đã tặng quà cho con rồi chứ?
– Ôi, làm sao ba mẹ đoán ra là con muốn có
Agnes?
– Agnes à? – Anh mỉm cười liếc nhanh nhìn vợ,
sửng sốt nhướn cao lông mày. – Vậy ra tên nó là
Agnes à?
– Vâng. Nó đẹp lắm, ba ạ. Con cứ muốn suốt ngày
nhìn nó.
– May mà vẫn còn có cái để mà nhìn, – Fee cau có
nói. – Jack và Hughie giằng ngay lấy con búp bê ấy,
bé Meggie tội nghiệp chưa kịp xem xét tường tận đồ
chơi của mình.
– Thì chúng nó là con trai mà. Búp bê có bị hỏng
nặng lắm không?
– Vẫn còn chơi được. Frank đã kịp thời ngăn cản
chúng.
– Frank à? Nó làm gì ở đấy? Nó phải suốt ngày ở
xưởng rèn chứ. Hunter giục làm cho xong cái cổng đi
đấy.
– Frank vẫn làm việc suốt ngày đấy chứ. Nó chỉ về
lấy một dụng cụ gì đó thôi. – Fee vội nói. Padraic bao
giờ cũng quá nghiêm khắc với Frank.
– Ôi, ba ơi, Frank là người anh tốt nhất của con!
Anh ấy đã cứu Agnes của con thoát chết, và sau bữa
ăn tối anh ấy sẽ lại dán tóc cho nó cơ.
– Thế thì tốt, – ông bố nói bằng giọng buồn ngủ,
ngả mình lên lưng ghế và nhắm mắt lại.
Hơi nóng tỏa ra từ bếp lò, nhưng anh dường như
không để ý đến, trán anh lấp...
 





