Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Nhật ký cao điểm 384

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:54' 18-04-2024
Dung lượng: 326.2 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:54' 18-04-2024
Dung lượng: 326.2 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Lời ngỏ của ban biên tập! 3
Bối cảnh lịch sử. 5
CHIẾN DỊCH XUÂN HÈ 1972. 6
Ngày 9 tháng 4 năm 1972. 7
Ngày 10 tháng 4 năm 1972. 8
Ngày 11 tháng 4 năm 1972. 9
Ngày 12 tháng 4 năm 1972. 12
Ngày 13 tháng 4 năm 1972. 13
Ngày 14 tháng 4 năm 1972. 14
Ngày 15 tháng 4 năm 1972. 18
Ngày 16 tháng 4 năm 1972. 21
Ngày 17 tháng 4 năm 1972. 24
Ngày 18 tháng 4 năm 1972. 25
Phần kết 30
NHẬT KÝ CAO ĐIỂM 384
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Lời ngỏ của ban biên tập!
Việt Nam ta là một đất nước anh hùng, phải khẳng định điều đó tuy rằng một dân tộc anh
hùng thì cũng là một dân tộc bất hạnh. Trải qua bao cuộc chiến tranh giữ nước, biết bao người
con đất nước này đã ngã xuống để tô thắm màu cờ Tổ quốc? Biết bao chiến công anh hùng
nhưng cũng bi tráng đã được lập nên? Thực chúng ta không thể kể hết, không thể biết hết được.
Nhưng, là những người đi sau, thế hệ được thừa hưởng tự do – hòa bình – thống nhất, chúng ta
có trách nhiệm phải tìm hiểu, phải biết về truyền thống anh hùng của cha ông ta! Để mãi quyết
giữ trọn non sông đất nước này trước mọi kẻ thù xâm lăng.
Được số hóa cuốn nhật ký “ Những ngày khói lửa “ này là một may mắn đối với chúng tôi. May
mắn vì chúng tôi được đọc, được biết đến thêm những người anh hùng thầm lặng của đất
nước. Để thêm yêu, thêm quý trọng từ tấc đất, từng hòn đảo quê hương. Và vì thế, chúng tôi
càng quyết tâm đưa cuốn nhật kí tới với cộng đồng, đặc biệt là thế hệ các bạn trẻ để chúng ta
cùng nhau đọc, cùng nhau biết, cùng nhau quyết tâm để xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam
tươi đẹp.
Xin được gửi lời cảm ơn tới mod “quangcan” diễn đàn quansuvn.net đã giúp đỡ chúng tôi tư
liệu lịch sử xung quanh đơn vị trong nhật ký. Cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới toàn
bộ các bạn bè tình nguyện trên trang “ Đơn vị tác chiến điện tử “ ở Facebook đã cùng chúng tôi
góp công sức trong việc đưa cuốn Nhật ký anh hùng này tới với cộng đồng.
Vì là lần đầu thực hiện số hóa một cuốn nhật kí lịch sử, thật không thể tránh khỏi còn những
sai sót. Ban biên tập rất mong nhận được sự đóng góp và chia sẻ của cộng đồng để chúng tôi có
thể hoàn thiện tốt hơn và tiếp tục phát huy trong công cuộc số hóa những kí ức lịch sử của đất
nước trong thời gian tiếp theo.
Đơn vị tác chiến điện tử @ Facebook
Cuốn nhật kí được chuyển tới tay chúng tôi thông qua cháu ruột của liệt sĩ Nguyễn Tiến Liễu.
Trăn trở lớn nhất của ông Dương Văn Minh ( đã mất ) người ghi lại cuốn nhật kí này cùng gia
đình liệt sĩ Nguyễn Tiến Liễu là chưa tìm được hài cốt của các liệt sĩ Đại đội 62 anh dũng đã nằm
lại trên đồi 384 về với quê hương, cũng như câu chuyện về những người anh hùng ấy chưa được
gia đình các liệt sĩ còn lại biết tới. Vì vậy xin cộng đồng hãy cùng chung tay giúp sức, đưa cuốn
nhật ký này tới gia đình những người anh hùng sau nếu có thể tìm được:
Liệt sỹ : Đồng Văn Soạn. Sinh năm : 1948. Quê: Phú Lương – Thái Nguyên. Nhập ngũ: 1967. Thiếu
Úy. Đại Đội Trưởng. Đảng Viên. Hy sinh: 18-4-1972 tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: HOẠT. Quê: Kiến An - Hải Phòng. Chuẩn úy, Đại đội trưởng. Đảng viên. Hy sinh: 27-1-1973.
Tại cầu Suối Vối. Xã Song An. An Khê. Gia Lai <đường 19>.
Liệt sỹ: Nông Văn Thu. Năm sinh: 1948. Quê: Bản Noọng. Xã ?. Huyện Phú Lương. Thái Nguyên.
Nhập ngũ: 1967. Trung sỹ. Tiểu đội trưởng. Hy sinh: 15-4-1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Đào Duy Hiển. Năm sinh: 1953. Quê: xóm Minh Phượng. Nham Sơn. Yên Dũng. Bắc Giang.
Nhập ngũ 5-1971. Chiến sỹ. Hy sinh: 15-4-1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Hà Văn Bình. Quê: Thị xã Hòa Bình. Dân tộc Mường. Hạ sỹ. Y tá đại đội. Hy sinh 15-4-
1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Nguyễn Văn Du. Quê: Quế Võ - Bắc Ninh. Nhập ngũ: 1970. Trung sỹ. Tiểu đội trưởng. Hy
sinh: 15-4-1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Kiều Minh Toán. Năm sinh: 1951. Quê : Ba Vì. Hà Tây. Nhập ngũ:1970. Hạ sỹ. Tiểu đội phó.
Đảng viên. Hy sinh 18-4-1972. Tại cao điểm 384. Đơn vị : Đại đội 51. Tiểu đoàn 5. Trung đoàn 12.
Sư đoàn 3 Sao Vàng.
Liệt sỹ: Trần Văn Chính. Năm sinh: 1953. Quê: xóm Sến. Hồng Thái. Việt Yên. Bắc Giang. Nhập
ngũ : 15-5-1971. Chiến sỹ liên lạc. Hy sinh : 13-4-1972. Tại cao điểm 384. Đơn vị: Đại đội 1 Công
binh, tiểu đoàn 6, trung đoàn 12, sư đoàn 3 Sao Vàng.
_____________
Bối cảnh lịch sử
Tại cuộc họp ngày 15 tháng 8 năm 1971, các thành viên chủ chốt trong Bộ chính trị đã quyết
định mở một cuộc tấn công lớn vào năm 1972 trên 3 hướng chiến lược: Trị Thiên Huế, Bắc Tây
Nguyên, và Đông Nam Bộ. Trong đó, hướng Trị Thiên - Huế được chọn làm hướng tấn công
chính. Hướng Đông Nam bộ là hướng tấn công quan trọng và Tây Nguyên là hướng tấn công
thứ yếu. Đồng bằng Trung Trung Bộ và Đồng Bằng Nam Bộ là những hướng phối hợp.
Điện ngày 8 tháng 3 năm 1972 của Quân ủy Trung ương Quân đội nhân dân Việt Nam gửi
Trung ương cục miền Nam có đoạn viết: "Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu
tranh... trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Nhiệm vụ cần kíp là đẩy mạnh tấn
công quân sự, chính trị, binh vận.. và ngoại giao... tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi
cục diện trên chiến trường miền Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Buộc Mỹ phải chấm dứt
chiến tranh... bằng một giải pháp chính trị ... mà Mỹ có thể chấp nhận được".
Trên mặt trận phối hợp đồng bằng Nam Trung Bộ, Sư đoàn 3 Sao Vàng ( thiếu trung đoàn 12 )
tổ chức tấn công giải phóng 3 huyện ở Bắc Bình Định. Trung đoàn 12 của các chiến sĩ trong
cuốn nhật ký sau có nhiệm vụ chốt giữ đường 19 huyết mạch nối từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên.
Không cho địch tổ chức ứng cứu lẫn nhau giữa duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tạo
thế chia cắt, giảm thiểu sức mạnh hỏa lực chi viện, tiếp tế của địch.
Trên đường 19, đoạn từ Thượng Giang – Bình Định tới đèo An Khê – Gia Lai là vùng rừng núi
hiểm trở, đường dốc quanh co, tầm nhìn hạn chế tới mức tối đa. Dễ phục kích, đánh chặn các
đoàn cơ giới – tiếp tế chuyển quân nên ta và địch tranh giành kiểm soát khu vực hết sức ác liệt.
Trung đoàn 12 tổ chức chốt giữ ở hai điểm cao 638, 384 và khu vực cống Hang Dơi nằm trên
mặt đường 19. Ba điểm nói trên tạo thành một bức tường thép chắn ngang đường 19. Đại đội
62, tiểu đoàn 6 trong cuốn Nhật ký này được giao chốt giữ cao điểm 384.
Các chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng ngày ấy có câu : "ăn xóm 4, ngủ xóm 5, máu xóm 6". Tiểu
đoàn 6 là tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 12, nổi tiếng vì đánh rất nhiều trận cực kì ác liệt
với kẻ thù. Nổi tiếng nhất có lẽ là trận đánh vào Đập Đá, cửa ngõ khu vực thị xã Quy Nhơn
tháng 1 năm 1968. Hơn năm trăm cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng
trong vòng vây đông đảo của kẻ thù cho tới khi súng hỏng, đạn hết. Cuối cùng chỉ còn hơn
mươi người trở về. Và truyền thống đó còn được tiếp tục phát huy bởi các thế hệ sau của tiểu
đoàn ngay cả trong chiến tranh biên giới chống Trung Quốc bành trướng sau này.
Đối thủ của các chiến sĩ sư 3 ngày ấy chủ yếu là Sư đoàn Mãnh Hổ - lính Nam Triều Tiên, nổi
tiếng với việc huấn luyện kĩ càng, thiện chiến. Tinh thông võ thuật, thủ đoạn chiến trường tinh
vi, lại được Hải Lục Không quân Hoa Kỳ hỗ trợ bằng pháo, máy bay suốt ngày đêm. Và trong
cuốn nhật ký này cũng vậy. Chỉ 12 chiến sĩ Đại đội 62 tiểu đoàn 6 đã anh dũng chống trả một
tiểu đoàn Mãnh Hổ cùng mưa bom, pháo, rốc két của kẻ thù cho tới giọt máu cuối cùng trên
cao điểm 384 anh hùng ấy...
CHIẾN DỊCH XUÂN HÈ 1972
Bộ đội trung đoàn 12 mở chiến dịch triệt cắt giao thông đường 19 (Quy Nhơn - Plây Cu)
nhằm mục đích:
1. Tạo điều kiện cho Tây Nguyên giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh.
2. Kìm chân sư đoàn "Mãnh Hổ" Nam Triều Tiên, không cho chúng ứng cứu chiến trường Bắc
Bình Định. Tạo điều kiện cho các đơn vị khác của sư đoàn giải phóng Bắc Bình Định
Trong nhiệm vụ chung đó, Đại đội 62 trong đội hình Tiểu đoàn 6 nhận nhiệm vụ chốt giữ cao
điểm quan trọng của mặt trận - Cao điểm 384.
Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ gồm 1 trung đội, dưới dự chỉ huy trực tiếp của Đại đội trưởng
Đồng Văn Soạn và Trung đội trưởng Nguyễn Tiến Liễu
Mười một anh em chúng tôi Đại đội 62 và Kiều Minh Toán, chiến binh bổ sung của Tiểu đoàn 5,
tuổi từ 19 đến 24. Riêng anh Nguyễn Tiến Liễu, Trung đội trưởng, tổ trưởng Đảng, cao tuổi
nhất: 38 tuổi, chúng tôi tôn anh là anh cả. Trung đội chốt đã kề vai sát cánh, đồng cam cộng
khổ, thề chiến đấu giữ chốt đến giọt máu cuối cùng. Qua 10 ngày đêm chiến đấu, 8 người anh
dũng hy sinh, 3 người bị thương rời trận địa. Tôi là người còn lại cuối cùng, chứng kiến mọi sự
việc xảy ra qua 10 ngày đêm sống và chiến đấu trên cao điểm. Tôi xin ghi lại toàn bộ sự việc
qua những trang nhật ký này, để ca ngợi hành động chiến đấu dũng cảm hy sinh oanh liệt của
đồng đội tôi và của tập thể chốt, của ngọn đồi 384 đã đi vào huyền thoại.
--------------------------------------------------------------
Ngày 9 tháng 4 năm 1972
Sau hai ngày trời lặn rừng lội suối, hôm nay tới đây - suối Đồng Tre. Lúc này lại quá nhàn
rỗi, quay ra ngủ. Bởi cái thú bậc nhất của thằng lính trong chiến tranh là được ngủ yên tĩnh,
không bị quấy rầy. Ngày hôm nay tôi đã được "tận hưởng" cái thú ấy. Bao nhiêu cái suy nghĩ,
tính toán đã có "đội ngũ" cựu binh họ đảm đương. Mình là lính mới, biết gì mà "tham mưu".
Vậy nên cứ ngủ phứa đi. Ngủ "trả thù" cho mấy đêm, mấy ngày vừa rồi ngủ ít vì phải tranh thủ
hành quân.
Lý do nữa là đội anh Liễu, anh Thu đi xác định vị trí của 384. Đến là rầy rà. Những mỏm núi
phía Bắc suối Đồng Tre. Đâu là 384? Khó tìm ghê! Anh Soạn đại đội trưởng biết nhưng lại đi
sau, nên chúng tôi mới phải nhọc công thế này.
Quá trưa sang chiều các anh trở lại. Thu lầm bầm oán trách "thằng Soạn" đồng hương quan
liêu làm khổ anh em. Anh Liễu bảo: "Cố gắng ngủ nốt buổi chiều còn lại. Kẻo mà lên chốt muốn
ngủ cũng không được nữa".
Chạng vạng tối - Hành quân chiếm lĩnh
Tôi khoác balô nặng nơi vai. Súng treo nơi ngực. Tay phải cầm gậy, tay trái gạt cây rậm, bám
sát người đằng trước. Biết rằng từ đây, đời sẽ diễn ra những điều ghê gớm. Khó khăn khốc liệt
của cảnh lính trận sẽ là vô cùng. Song mình là thằng lính biết tôn trọng danh dự. Phải hạ quyết
tâm mà xốc tới thôi. Không thể sống khác được đâu. Đường lên cao điểm cheo leo hiểm trở vô
cùng. Dốc đó dựng đứng. Lối mòn luồn giữa những dây rợ chằng chịt. Bám sát nhau mà leo
ngược con dốc dựng đứng, trong hoàn cảnh phải tuyệt đối giữ bí mật. Không dám thở to. Đoàn
người gồm 8 anh em cứ lầm lũi bám sát nhau, bám rễ cây mà leo lên. Ai cũng mang trên lưng
một trọng lượng khá nặng. Cánh lính mới chúng tôi cùng mang tới 45 kg. Riêng Nông Văn Thu
mang tới 60 kg trên lưng mà vẫn dẫn đầu đội hình. Bản thân tôi thì... ôi chao mệt quá chừng.
Chưa bao giờ tôi phải cố gắng đến tột mức như thế này. Đành phải cố mà theo anh em thôi. Tới
đỉnh núi. Nghỉ. Chắc là trận địa đây rồi. Ngoái nhìn lại chặng đường: Mừng vì cuộc hành quân
mang nặng leo ngược dốc đã kết thúc. Sợ vì cuộc đời lính trận là muôn ngàn những thử thách,
muốn hay không muốn cũng khó lòng mà chối từ. 384 "đón tiếp" ta thế này đây. Phải chăng là
sự báo trước những khốc liệt của cảnh lính "chốt"? Điểm lại đủ 8 anh em: Liễu - Thu - Khương Bình - Du - Hiển - Thực - Ninh. (Để biết rằng không có ai hèn nhát phải đào ngũ). "Họp"! Anh
Liễu hạ thấp giọng, đầy quan trọng:
- Tuyệt đối giữ bí mật. Anh chỉ tay về phía mỏm núi phía Đông Nam trận địa. Các cậu đã nhìn
thấy thằng Sô-Đô rồi chứ?
Kẻ thù chính sẽ không đội chung trời với chúng ta đấy. Chỉ cần một sơ xuất nhỏ là không còn
kịp để rút kinh nghiệm nữa đâu. Cấm nói to, va động mạnh, phát ánh sáng. Phải đảm bảo tuyệt
đối bí mật đến giờ D ngày N. Đã gần địch thì chẳng cần nói nhiều, ai cũng tự biết phải làm gì vì
không thể đùa với thần chết được.
Lệnh: Đào công sự!
Tranh thủ màn đêm. Tranh thủ thời gian. Khẩn trương bí mật triển khai công sự sớm chừng
nào tốt chừng đó. Biết rõ lợi thế của loại áo giáp này trong chiến tranh, chúng tôi đã dồn mọi
khả năng sức khỏe, thức suốt đêm để đào dũi. Mỗi tổ 3 người. Phân công nhau: 1 cảnh giới, 2
đào. Không có "chế độ" ngủ trong đêm. Tổ của tôi gồm: Thu - Du - tôi. Chúng tôi đã thức trắng
đêm đầu tiên trên chốt. May "áo giáp" như thế đấy.
Một đêm không ngủ đã qua. Buổi đầu tôi đã biết được đời lính chiến trong khói lửa là thế nào.
Liệu rồi mình sẽ ra sao đây? Có đủ sức mà đạp bằng, mà chịu đựng, mà vượt qua xốc tới như đã
thề trước khi ra trận không?
Ngày 10 tháng 4 năm 1972
Buổi sáng, ngụy trang thật khéo để che mắt thằng Sô-Đô trước mặt chỉ cách ngàn mét. Để
che con mắt của thằng OV10 cứ vè vè săn tìm suốt ngày. Rồi mới có thể làm được. Tôi ngồi
cảnh giới cho Thu và Du làm. Vậy mà càng đỡ vướng cho hai người. Bởi một thằng thằng gầy
loẻo ngoẻo như tôi theo sao kịp 2 ông "hộ pháp". Dù tôi có cố gắng bao nhiêu thì "tiến độ" vẫn
bị chậm. Tôi cuốc thì không đủ đất cho anh xúc. Tôi xúc thì không theo kịp anh cuốc. Đất cứ
đùn thành đống tướng. Vậy nên tôi càng phải cố trong mọi "lĩnh vực", sợ nhất là họ chê mình là
hèn kém. Thế mới biết sức khỏe cần cho thằng lính là thế nào. Xin được giới thiệu "tiểu sử" của
2 vị cựu binh.
Nông Văn Thu. Quê: Bản Noọng, xã X huyện Phú Lương - Bắc Thái. Dân tộc Tày. 24 tuổi. Nhập
ngũ: 1967. Cao: cỡ 1m70, nặng: 75 kg. Trắng, đẹp trai, hiền lành, thật thà, bản tính lầm lỳ, ít nói,
làm luôn chân tay. Gặp ai khó khăn sẵn sàng giúp đỡ. Sức khỏe của anh vào loại hiếm có. Tôi
chưa từng thấy ai khỏe như anh. Đúng quả là một con gấu của núi rừng Việt Bắc. Có một
chuyện về anh thế này:
Một lần Thu và Du đi công tác, trên đường rẽ vào làng Mật (một buôn nhỏ của người Ba-na)
gặp một phụ nữ trở dạ đẻ giữa đường. Không chần chừ, Thu ra lệnh cho Du: Hạ balô xuống giúp
người ta. Thế là lập tức, Thu làm "bác sỹ" khoa sản. Còn Du, dù muốn hay không muốn, cũng
phải làm "hộ lý" bất đắc dĩ, ngoan ngoãn phục tùng sự sai bảo của Thu, không dám nhìn việc
Thu làm. Để rồi sau đó, câu chuyện trên được Du "chuyển thể" thành câu truyện tiếu lâm;
nhắm mắt, ôm bụng, vỗ đùi, vừa cười sằng sặc vừa kể. Cánh lính trẻ chúng tôi hưởng ứng câu
truyện rất nhiệt tình, và những trận cười như pháo lại nổ ra, cho dù Du kể đi kể lại tới lần thứ
bao nhiêu, vẫn làm cho chúng tôi phải bò ra mà cười. Trước việc làm phúc đức của Thu rất
đáng được ca ngợi và nêu gương, để cho câu truyện thêm rôm rả, chúng tôi xoáy vào chọc Du.
Du chẳng hề tự ái chút nào, còn thêm thắt những chi tiết hài hước để chọc Thu (vì chúng tôi
không ai dám chọc "con gấu" ấy). Mỗi lần như vậy, Thu chỉ lầm lì chăm chú vào việc đang làm,
dường như không có trận cười, và không chú ý đến trận cười đang "hại mình". Quá lắm, một
lần Thu hỏi Du: "Mày cười thế có sướng cái miệng không Du?". Vậy là chúng tôi lại bò ra cười.
Là tiểu đội trưởng, dày dạn kinh nghiệm qua nhiều trận đánh, anh trực tiếp "huấn luyện" tôi
mọi động tác trong chiến đấu và vận động cá nhân. Thấy gì, nghĩ gì anh bảo tôi vậy, rút kinh
nghiệm từ chính bản thân mình làm "khoa mục" hướng dẫn tôi. Tôi là "học trò" vốn đã có sự
khâm phục anh sẵn nên cứ im như thóc mà nghe. Thu "kết luận" bài giảng bằng ngôn ngữ
người Tày của anh như thế này: "Đánh nhau, phải biết chết, đừng biết sống vớ". Nghĩa là anh
bảo tôi: Đã là lính chiến thì không được sợ chết. Có chấp nhận cái chết thì mới đủ bình tĩnh,
dũng cảm để chiến đấu và chiến thắng. Nông Văn Thu là thế đấy. Một người lính có tài, có đức.
Nên học tập nhiều ở anh lắm chứ.
Nguyễn Văn Du. Quê: Quế Võ, Hà Bắc. Nhập ngũ: 1970. Cao: 1m65. Nặng: cỡ 60 kg. Da ngăm
đen, đẹp trai. Trung sỹ - Tiểu đội trưởng. Đã qua chiến đấu nhiều trận nên dày dạn kinh
nghiệm. Dũng cảm - gan dạ. Có tài ném lựu đạn "chụp", nghĩa là quả lựu đạn của anh tung ra,
cách mặt đất 1 mét đã nổ tung trên không như quả pháo chụp vậy, cách này của anh gây sát
thương rất cao cho địch. Chúng tôi không dễ gì mà học tập được ở anh kinh nghiệm ấy. Tai
nghễnh ngãng vì bị sức ép bom. Anh Liễu đặt cho cái tên: nhà thơ điếc, mặc dù chưa hề thấy
anh đả động gì đến thơ phú bao giờ. Ôi Nguyễn Du: chả là anh ta trùng tên với Đại thi hào nổi
tiếng mà - "Nhà thơ điếc": Thật thà, chất phác nhưng nóng tính như hổ. Xạ thủ trung liên. Vào
chiến trường trước chúng tôi một khóa huấn luyện nên được lính Hà Bắc tôn làm anh. Sức
khỏe của anh ở đại đội này chỉ đứng sau Thu mà thôi. Được ở gần 2 "ông hộ pháp" cũng là dịp
may cho tôi, trước hết là việc đào hầm.
Thu và Du là đôi tri kỷ. Thân nhau tới mức, dù ở đâu, có Thu phải có Du, hoặc ngược lại. Thu
người dân tộc, đặc điểm lầm lì ít nói, làm suốt ngày, hết việc cá nhân đến việc chung, hoặc giúp
đỡ người khác, ít khi thấy anh ngồi không tán gẫu. Còn Du thì ngược lại, theo Thu đẽo đẽo và
kiếm chuyện chọc tức bạn, để rồi cười ngặt nghẽo. Nghĩa là ở đâu có Thu là ở đấy có tiếng cười
của Du. Song, trước sự chọc tức ấy của bạn, "con gấu" lại tỏ ra hiền lành, nhường nhịn không hề
tỏ ra phản ứng nổi giận gì. Nên trông cặp "uyên ương" ấy mới dễ mến làm sao. Anh Liễu bảo:
"Thằng Thu nó chỉ chịu mỗi thằng Du ở đại đội này thôi". Tôi ngồi cảnh giới. Sau một đêm thức
trắng làm việc, giờ đây được ngồi yên; trước công sự được ngụy trang kín, trên đỉnh núi gió
mát, khí hậu trong lành, ngủ thiếp đi lúc nào không hay, cho tới khi Du "báo thức" bằng cái véo
tai rõ đau. Tôi xin lỗi anh và xin tiếp tục được làm, kẻo ngồi đây thì phải "mắc màn" thôi.
Buổi chiều. Địch bắn phá vào khu vực chiến trường, dọc hai bên đường 19. Vài quả pháo rơi
vào đồi 384. Lộ rồi hay sao? Mỗi người đưa ra câu hỏi, rồi tự nhận định:
- Lại mấy thằng tân binh đi lại lộn xộn làm lộ!
Ôi! Lính mới. Họ gán cho lính mới tội gì chẳng phải chịu. Vậy mới phải cố trong mọi "lĩnh vực"
để họ hết xem thường lính mới. Chắc là Chính - Hiển - Thực cũng nghĩ như tôi thôi.
Xẩm tối, anh Soạn đại đội trưởng và Chính - chiến sỹ liên lạc - lên chốt. Quân số tăng lên 10. Tôi
được lệnh sẵn sàng chiến đấu, cảnh giới cho toàn chốt. Bây giờ mới có dịp quan sát mặt trận:
Con đường 19 chạy từ Đông sang Tây. Dọc hai bên trục đường, các chốt điểm của địch nằm
cách nhau đều đặn: Trái Tim, Mâm Xôi, Hòn Ngang, Hòn Kiềng, v.v. như trên sa bàn tác chiến
đã hướng dẫn. Và nơi đây, đối diện 384 về phía Đông Nam, thằng Sô-Đô với 1 tiểu đoàn Nam
Triều Tiên, đối thủ chính của chúng tôi. Liệu chúng đã biết gì về sự có mặt của đội quân này
chưa, mà mấy khẩu đại liên không mấy lúc ngừng bắn, pháo của địch vẫn khoan nhặt nổ?
Những quả đạn vu vơ không địa chỉ vẫn nổ lung tung vào trong rừng, và bọn trực thăng chiến
đấu thả pháo sáng, bắn đạn 20 ly vu vơ. Anh Liễu bảo: "Nó hoạt động bình thường về đêm đấy
mà. Đã có gì dám chắc là nó phát hiện ra quân ta. Cứ làm việc bình thường, giữ bí mật cho tốt,
chưa lộ đâu mà lo".
Đêm họp. Anh Soạn phổ biến tình hình. Xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi
tình huống. Cuối buổi họp, anh Liễu "bật mí": Đêm nay chính thức là đêm N - 10/4; giờ D là
không giờ ngày 11/4/72. Tin tuyệt mật, chỉ có lính chốt mới được biết thôi.
Ngày 11 tháng 4 năm 1972
Lại qua một đêm thức trắng làm cật lực nữa. Sáng nay chúng tôi đã "thiết kế" tạm xong hệ
thống phòng ngự: hầm tránh pháo, công sự chiến đấu của các tổ, các hướng tất cả liên kết với
nhau bởi đường giao thông hào hình vành khăn khép kín trên đỉnh núi. Diện mạo của 384 đây.
Thế trận của Đại đội 62 đây. Chúng tôi đã tạo cho 384 thế đứng của chàng hiệp sỹ đứng thế thủ,
sẵn sàng tiếp nhận cuộc chiến đầy tự tin, quyết đánh và quyết thắng.
Địch phản ứng mạnh (Chắc đêm qua ăn đòn ở Cây Rui). Chẳng hiểu "bọn" Đặc công đêm qua
làm ăn thế nào, "nhai" Cây Rui có "gọn" không? Các trận địa pháo của địch như điên như dại,
bắn đi tứ tung vào trong rừng. Những quả pháo không có địa chỉ, gầm hú bay loạn trên trời rồi
rơi nổ bừa bãi. Nào đã biết "Vi-xi" ( VC – Việt Cộng – Cách quân Mỹ gọi quân giải phóng ) ở đâu
mà bắn.
Tieng sú ng mở mà n chien dịch đã no từ giờ D đê m qua ı́t nhat thı̀ lũ Nam Trieu Tiê n đã được
ă n đò n từ đó . Đường 19 chı́nh thức đã bị cat. Huyet mạ ch giao thô ng quan trọ ng củ a địch, noi
Tâ y Nguyê n với đong bang và ngược lạ i, đã bị quâ n ta bó p chẹ t. Con thú khong lo đã bị chà ng
hiệ p sỹ bó p hau. Ta cà ng bó p mạ nh, xiet mạ nh, nó giã y cà ng khỏ e. Nó cà ng giã y khỏ e ta cà ng
phả i xiet mạ nh hơn nữa. Cả 2 phı́a đã đưa lẽ song "Khô ng độ i trời chung" đen độ cao nhat.
Chú ng tô i đã quá n triệ t quyet tâ m chien đau lâ u dà i gian kho, nê n cà ng san sà ng đó n nhậ n khoc
liệ t,hy sinh sẽ đen với mı̀nh. Trong cuộ c chien đau dà i ngà y đay gian kho á c liệ t nà y.
Má y bay địch xuat hiệ n ngà y cà ng nhieu, ná o độ ng khô ng gian suot ngà y suot đê m. Đủ loạ i,đủ
tê n: Phả n lực né m bom, phả n lực siê u â m,trực thă ng chien đau ..vv.. Tưởng như quâ n chủ ng
Khô ng quâ n và Hả i quâ n Mỹ đang giới thiệ u cá c chủ ng loạ i má y bay trước may anh em lı́nh
chot chú ng tô i. Nghiê ng ngó să n tı̀m, nhà o lộ n đe dọ a suot 24h/ngà y. Bau trời khô ng lú c nà o
vang "tụ i" nà y. Chı̉ can mộ t sơ xuat nhỏ củ a chú ng tô i là chú ng bu lạ i "đó n tiep" bang nhieu cỡ
đạ n và nhieu kieu bom. Phoi hợp với lực lượng Phá o binh Mỹ với nhieu trậ n địa phá o,cá c cỡ
phá o. Cộ ng với sư đoà n Bộ binh Nam Trieu Tiê n. Cả Hả i-Lụ c-Khô ng quâ n Mỹ cà ng phoi hợp
tham chien. Lực lượng tham chien củ a địch thı̀ hù ng mạ nh như vậ y cò n ve phı́a chú ng tô i, ra
quâ n trong khi lực lượng the nà y : 10 anh em đau tran châ n đat, sú ng bộ binh, khô ng he có sự
việ n trợ củ a bat kỳ lực lượng nà o. Cũ ng bà y san the trậ n, chap nhậ n "mộ t" khoc liệ t củ a cuộ c
chien. Thà hy sinh tat cả phả i thực hiệ n được nhiệ m vụ : Chặ n bước quâ n giặ c, giữ cao điem.
Quyet chien đau giữ chot đen giọ t má u cuoi cù ng. Chú ng tô i đã và đang là m đieu cha anh đi
trước van là m trong chien tranh nhâ n dâ n: Dù ng ı́t địch nhieu, lay yeu thang mạ nh đã là m nê n
chien thang đi và o lịch sử. Chú ng tô i đã bà y the trậ n 384, và the trậ n nà y đang thá ch quâ n thù
nhả y và o, đe xem lá gan ai lớn trong cuộ c đọ sức nà y.
Gan trưa. Phá o ban và o 384.
Ngoi trong ham trá nh phá o. Ngó n tay trỏ bịt chặ t nò ng sú ng kẻ o cá t rơi là m sú ng hó c, mat van
phả i mở to theo dõ i ra ngoà i. Neu thay giay bay loạ n xạ tức là chú ng ban phá o giay cho Bộ binh
tan cô ng. Phả i lậ p tức đứng dậ y mà đá nh trả . Hoặ c phá o chuyen là n phả i trở lạ i vị trı́ chien đau.
Hoà n toà n khô ng được chú i đau trá nh phá o. Ta và địch phả i lừa nhau từng đò n đe tiê u diệ t
nhau. Khô ng độ i trời chung, mộ t mat mộ t cò n mà .
Trực tiep giơ đau hứng chịu á c liệ t củ a trậ n oanh tạ c. Trong tieng phá o gam rú xé mà ng nhı̃.
Mả nh đạ n bay kê u vo vo như muoi đê m hè . Những tieng no long ó c. Tia chớp nhang nhịt như
những tia sé t trong đê m dô ng. Lửa. Khó i. Trời đang nang to. Giữa ban trưa mà sậ p toi như hũ
nú t, bởi khó i củ a nhieu quả đạ n phá o no, với mậ t độ dà y đặ c đã tạ o ra mà n đê m, che phủ kı́n
ngọ n đoi, che lap cả á nh mặ t trời. Sự song và cá i chet đã xı́ch lạ i gan nhau như ngà n câ n treo
sợi tó c. Mong cho đieu rủ i ro đừng đen với mı̀nh. Mong cho trậ n oanh tạ c qua nhanh. Trước sức
phá và đe dọ a củ a than chet, cả m tı́nh sợ sệ t lê n tieng mạ nh mẽ , tô i lo sợ thực sự. Dù co gang
tran tı̃nh đen bao nhiê u cũ ng khô ng đè bẹ p được cả m giá c sợ chet lú c nà y.
Là lı́nh bộ binh trực tiep đoi mặ t với quâ n thù . Tô i đã tự biet rang phả i có lò ng gan dạ dũ ng
cả m trong á c liệ t chien trậ n thı̀ mới là m nê n chuyệ n. Van biet gan dạ dũ ng cả m là thứ vũ khı́ lợi
hạ i trước tiê n, là đức tı́nh tot, là đieu can thiet phả i có củ a mộ t chien binh ở chien trường.
Song, trước ranh giới củ a song, chet, đe là m nê n đieu đó thậ t là khó . Tạ o ra được tâ m trạ ng
bı̀nh tı̃nh, khô ng run sợ trước sự hă m dọ a củ a vũ khı́ giet người toi tâ n hiệ n đạ i, củ a quâ n độ i
Mỹ. Lú c nà y khó vô cù ng, ı́t nhat thı̀ cũ ng đã trả i qua đô i lan. Với tô i, lạ i là lan đau tiê n gặ p phả i,
nê n tran tı̃nh được tâ m trạ ng lú c nà y quả là khô ng the là m noi!
Mã i roi trậ n oanh tạ c đi qua, phá o chuyen là n sang nơi khá c, khó i loã ng dan roi tan. Trời sá ng
dan, roi trở lạ i á nh sá ng củ a mộ t buoi trưa hè . Nhưng mù i thuoc đạ n khé t lè n lẹ t thı̀ đọ ng ở tat
cả mọ i nơi, đay sặ c trậ n địa chot, đay cả trê n thâ n the, đau tó c, quan á o củ a từng người. Hai lo
mũ i và co họ ng cũ ng đay thuoc phá o, nê n ngửi và o đâ u, ở cho nà o cũ ng thay mù i khé t và vị
đang thuoc đạ n. Dứt loạ t phá o, Bı̀nh y tá ghé và o ham, kiem tra mộ t lượt xem có ai ả nh hưởng
gì không.
Du cười khà khà:
- Chưa can thuoc củ a ô ng. Có đieu ô ng xin thı̀ tô i cho ô ng thuoc đâ y.
Ba bon cá i đau chụ m và o van thuoc lá hú t. Bı̀nh nhı̀n tô i, nhá y mat rieu cợt:
- The nà o, "Phá t bieu" cho "qua" nghe thử.
Tô i thà nh thậ t:
- Tương đoi đay anh ạ !
Anh cười lớn, phô hà m ră ng và ng khè vı̀ á m khó i thuoc lá . Nó i với giọ ng từng trả i:
- Cá c cậ u là lı́nh mới, nê n cò n "lạ miệ ng" với cá i "mó n" nà y lam. Yê n trı́ đi. Từ xưa tới giờ. Khi
cậ u cò n chưa là lı́nh giả i phó ng nó đã ban roi. Vậ y nê n cứ mặ c mẹ nó là hơn cả . Việ c nó , nó ban.
Việ c mı̀nh, mı̀nh là m. Lo gı̀!
Thu hỏi:
- Tạ i sao nó ban mà y khô ng là m mà rú c và o ham là m gı̀ ?
- Thı̀ "giả i lao" mộ t lú c đã sao. Roi anh ta lạ i phá lê n cười như khô ng he có chien tranh xả y ra ở
đây.
Du hỏi Bình:
- Nà y, Mà y có nhớ lı́nh ta van "Khan" the nà o khô ng ?
- Khan gı̀ ?
- "Than chú " chứ cò n gı̀ nữa. Moi lú c vap á c liệ t, cứ "Khan" lê n, có vẻ an tâ m phan nà o đay. Mà y
nhớ không??
Bı̀nh "à " mộ t tieng, roi vo đù i, e hè m lay giọ ng, sửa lạ i tư the ngoi, roi "Khan":
- The nà y, "Khan" rang: Việ c nó , nó ban. Ban nhieu chưa chac đã trú ng, trú ng nhieu chưa chac
đã bị, bị nhieu chưa chac đã bị nặ ng. Bị nặ ng chưa chac đã chet. Yê n trı́, đâ u khac có đó mà !
Bong anh Lieu xuat hiệ n nơi cửa ham. Nghiê m giọ ng quá t:
- Khan trương sơ tá n ngay. Đâ y là đâ u mà cá c cậ u "họ p chợ" hả . Ai ve ham nay ngay.
Tô i tiec, vı̀ cuộ c vui tới đâ y đã phả i tà n. Song, mệ nh lệ nh củ a anh Lieu phả i chap hà nh thô i.
Chien tranh mà .
Sau trậ n phá o Mỹ oanh tạ c. Tô i tưởng sẽ được nhả y ra ngoà i ham trú an mà hı́t thở khô ng khı́
trong là nh từ là n gió bien thoi và o, nơi đı̉nh nú i cao nà y. Nhưng roi bọ n trực thă ng lạ i dan xá c
tới ban phá . Hai chiec HUEY thay nhau ban roc-ké t, đạ n 20 ly, thả lựu đạ n xuong trậ n địa. Sức
cô ng phá khô ng bang bom, phá o nhưng dai hơn và chı́nh xá c hơn. Ham hà o, cô ng sự hư hạ i
nhieu là do thang khon kiep nà y. Ngoi trong ham trá nh đạ n. Phó mặ c tı́nh mạ ng cho sự may rủ i.
Mới có dịp mà nghien ngam câ u "Than chú " củ a Bı̀nh "Khan" ban nã y : " Ban nhieu chưa chac
đã bị, bị nhieu chưa chac đã chet. Yê n trı́, đâ u khac có đó ". Nghı̃ rang, cá i sự "đâ u" khac có "đó "
là sự bà y đặ t san củ a so Trời. Song khac song, chet sẽ chet, cá i sự sap đặ t ay khuyê n bả o: Hã y
yê n tâ m, lo sợ mà là m gı̀. Khi Trời đã có "đá p so" san roi. Ngoà i đieu đó ra, đương nhiê n mı̀nh
là thang lı́nh đang hiệ n diệ n ở chien hà o. Vậ y thı̀ hã y phá t huy het cá i trá ch nhiệ m và sứ mạ ng
củ a lịch sử giao phó . Vậ y thô i !
Buoi chieu. Thang 0V10 nghiê ng cá nh ban phá o hiệ u. Cụ m khó i nó ban cứ nở to mã i ra. Nghe
tieng phả n lực gam rı́t và mặ t đat rung chuyen. Mộ t tia chớp. Và mộ t quang lửa trù m lê n. Trời
sậ p xuong hoà n toà n. Từ đó tô i khô ng hay biet gı̀ nữa.
Tô i bị bom vù i - May mà anh em kịp thời cứu chữa. Neu khô ng - vı̃nh vien khô ng ai được biet
câ u chuyệ n ve cao điem 384 nữa. Anh em cho biet: 2 chiec F4-H thay nhau trú t bom xuong trậ n
địa khá lâ u. Ham ho, giao thô ng hà o hư hạ i nhieu. Vậ y ra ngà y hô m nay, quâ n địch đã dù ng cá c
ngó n đò n mạ nh đe hù dọ a, nan gâ n chú ng tô i. Bom phá o, hạ ng nặ ng, hạ ng nhẹ thay nhau đá nh
rò ng rã suot ngà y. Chú ng tưởng rang, với vũ khı́ giet người hiệ n đạ i ay, sẽ đay lù i được chú ng
tô i chă ng ? Bı̀nh y tá kiem tra tı̀nh trạ ng bị bom vù i củ a tô i, và cho biet : Khô ng sao cả ,sẽ chó ng
phụ c hoi thô i. Tô i được "ưu tiê n" nam nghı̉.
Đê m - lạ i thức trang, với nú i cô ng việ c. Bởi sự ton đọ ng sau 1 ngà y oanh tạ c bang Khô ng quâ n
và Pháo binh của địch : Sửa lại công sự bị sập, xuống chân núi cõng đạn , nước . Một bộ phân
khác , do anh Liễu – Thu , Bình đảm nhiệm đi tập hậu vào bọn Nam Hàn đang nhe nanh giơ
vuốt , gây bao tội ác với đồng đội, và chính bản thân chúng tôi. Lúc này đang là thời cơ thanh
toán sổ nợ với chúng. Chúng tôi phải dồn mọi sức lực, cố gắng để sữa lại hầm hố bị hư hại. Để
chờ đón quân thù tới, tiêu diệt – sẵn sàng tiếp nhận những khốc liệt mới. Tiếp nhận những
Trận đánh chênh lệch về lực lượng. Sức chiến đấu – vũ khí v.v . Cho dù kẻ địch luôn ở thế hơn
hẳn. Anh Liễu bảo :
- Đây là dịp để xem. Ai là vàng? Ai là thau?
Sẽ thể hiện cụ thể qua những ngày này .
Liệu tôi sẽ là cái gì đây?
Ngày 12 tháng 4 năm 1972
Hồi “ gà gáy ”. Triệu tập họp chốt.
Anh Soạn Phổ biến tình hình nhiệm vụ. Thông báo tin chiến thắng của các “xê”( C – Đại đội )
bạn. Nêu gương chiến đấu dũng cảm của các tập thể cá nhân lậ...
Lời ngỏ của ban biên tập! 3
Bối cảnh lịch sử. 5
CHIẾN DỊCH XUÂN HÈ 1972. 6
Ngày 9 tháng 4 năm 1972. 7
Ngày 10 tháng 4 năm 1972. 8
Ngày 11 tháng 4 năm 1972. 9
Ngày 12 tháng 4 năm 1972. 12
Ngày 13 tháng 4 năm 1972. 13
Ngày 14 tháng 4 năm 1972. 14
Ngày 15 tháng 4 năm 1972. 18
Ngày 16 tháng 4 năm 1972. 21
Ngày 17 tháng 4 năm 1972. 24
Ngày 18 tháng 4 năm 1972. 25
Phần kết 30
NHẬT KÝ CAO ĐIỂM 384
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Lời ngỏ của ban biên tập!
Việt Nam ta là một đất nước anh hùng, phải khẳng định điều đó tuy rằng một dân tộc anh
hùng thì cũng là một dân tộc bất hạnh. Trải qua bao cuộc chiến tranh giữ nước, biết bao người
con đất nước này đã ngã xuống để tô thắm màu cờ Tổ quốc? Biết bao chiến công anh hùng
nhưng cũng bi tráng đã được lập nên? Thực chúng ta không thể kể hết, không thể biết hết được.
Nhưng, là những người đi sau, thế hệ được thừa hưởng tự do – hòa bình – thống nhất, chúng ta
có trách nhiệm phải tìm hiểu, phải biết về truyền thống anh hùng của cha ông ta! Để mãi quyết
giữ trọn non sông đất nước này trước mọi kẻ thù xâm lăng.
Được số hóa cuốn nhật ký “ Những ngày khói lửa “ này là một may mắn đối với chúng tôi. May
mắn vì chúng tôi được đọc, được biết đến thêm những người anh hùng thầm lặng của đất
nước. Để thêm yêu, thêm quý trọng từ tấc đất, từng hòn đảo quê hương. Và vì thế, chúng tôi
càng quyết tâm đưa cuốn nhật kí tới với cộng đồng, đặc biệt là thế hệ các bạn trẻ để chúng ta
cùng nhau đọc, cùng nhau biết, cùng nhau quyết tâm để xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam
tươi đẹp.
Xin được gửi lời cảm ơn tới mod “quangcan” diễn đàn quansuvn.net đã giúp đỡ chúng tôi tư
liệu lịch sử xung quanh đơn vị trong nhật ký. Cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới toàn
bộ các bạn bè tình nguyện trên trang “ Đơn vị tác chiến điện tử “ ở Facebook đã cùng chúng tôi
góp công sức trong việc đưa cuốn Nhật ký anh hùng này tới với cộng đồng.
Vì là lần đầu thực hiện số hóa một cuốn nhật kí lịch sử, thật không thể tránh khỏi còn những
sai sót. Ban biên tập rất mong nhận được sự đóng góp và chia sẻ của cộng đồng để chúng tôi có
thể hoàn thiện tốt hơn và tiếp tục phát huy trong công cuộc số hóa những kí ức lịch sử của đất
nước trong thời gian tiếp theo.
Đơn vị tác chiến điện tử @ Facebook
Cuốn nhật kí được chuyển tới tay chúng tôi thông qua cháu ruột của liệt sĩ Nguyễn Tiến Liễu.
Trăn trở lớn nhất của ông Dương Văn Minh ( đã mất ) người ghi lại cuốn nhật kí này cùng gia
đình liệt sĩ Nguyễn Tiến Liễu là chưa tìm được hài cốt của các liệt sĩ Đại đội 62 anh dũng đã nằm
lại trên đồi 384 về với quê hương, cũng như câu chuyện về những người anh hùng ấy chưa được
gia đình các liệt sĩ còn lại biết tới. Vì vậy xin cộng đồng hãy cùng chung tay giúp sức, đưa cuốn
nhật ký này tới gia đình những người anh hùng sau nếu có thể tìm được:
Liệt sỹ : Đồng Văn Soạn. Sinh năm : 1948. Quê: Phú Lương – Thái Nguyên. Nhập ngũ: 1967. Thiếu
Úy. Đại Đội Trưởng. Đảng Viên. Hy sinh: 18-4-1972 tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: HOẠT. Quê: Kiến An - Hải Phòng. Chuẩn úy, Đại đội trưởng. Đảng viên. Hy sinh: 27-1-1973.
Tại cầu Suối Vối. Xã Song An. An Khê. Gia Lai <đường 19>.
Liệt sỹ: Nông Văn Thu. Năm sinh: 1948. Quê: Bản Noọng. Xã ?. Huyện Phú Lương. Thái Nguyên.
Nhập ngũ: 1967. Trung sỹ. Tiểu đội trưởng. Hy sinh: 15-4-1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Đào Duy Hiển. Năm sinh: 1953. Quê: xóm Minh Phượng. Nham Sơn. Yên Dũng. Bắc Giang.
Nhập ngũ 5-1971. Chiến sỹ. Hy sinh: 15-4-1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Hà Văn Bình. Quê: Thị xã Hòa Bình. Dân tộc Mường. Hạ sỹ. Y tá đại đội. Hy sinh 15-4-
1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Nguyễn Văn Du. Quê: Quế Võ - Bắc Ninh. Nhập ngũ: 1970. Trung sỹ. Tiểu đội trưởng. Hy
sinh: 15-4-1972. Tại cao điểm 384.
Liệt sỹ: Kiều Minh Toán. Năm sinh: 1951. Quê : Ba Vì. Hà Tây. Nhập ngũ:1970. Hạ sỹ. Tiểu đội phó.
Đảng viên. Hy sinh 18-4-1972. Tại cao điểm 384. Đơn vị : Đại đội 51. Tiểu đoàn 5. Trung đoàn 12.
Sư đoàn 3 Sao Vàng.
Liệt sỹ: Trần Văn Chính. Năm sinh: 1953. Quê: xóm Sến. Hồng Thái. Việt Yên. Bắc Giang. Nhập
ngũ : 15-5-1971. Chiến sỹ liên lạc. Hy sinh : 13-4-1972. Tại cao điểm 384. Đơn vị: Đại đội 1 Công
binh, tiểu đoàn 6, trung đoàn 12, sư đoàn 3 Sao Vàng.
_____________
Bối cảnh lịch sử
Tại cuộc họp ngày 15 tháng 8 năm 1971, các thành viên chủ chốt trong Bộ chính trị đã quyết
định mở một cuộc tấn công lớn vào năm 1972 trên 3 hướng chiến lược: Trị Thiên Huế, Bắc Tây
Nguyên, và Đông Nam Bộ. Trong đó, hướng Trị Thiên - Huế được chọn làm hướng tấn công
chính. Hướng Đông Nam bộ là hướng tấn công quan trọng và Tây Nguyên là hướng tấn công
thứ yếu. Đồng bằng Trung Trung Bộ và Đồng Bằng Nam Bộ là những hướng phối hợp.
Điện ngày 8 tháng 3 năm 1972 của Quân ủy Trung ương Quân đội nhân dân Việt Nam gửi
Trung ương cục miền Nam có đoạn viết: "Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu
tranh... trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Nhiệm vụ cần kíp là đẩy mạnh tấn
công quân sự, chính trị, binh vận.. và ngoại giao... tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi
cục diện trên chiến trường miền Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Buộc Mỹ phải chấm dứt
chiến tranh... bằng một giải pháp chính trị ... mà Mỹ có thể chấp nhận được".
Trên mặt trận phối hợp đồng bằng Nam Trung Bộ, Sư đoàn 3 Sao Vàng ( thiếu trung đoàn 12 )
tổ chức tấn công giải phóng 3 huyện ở Bắc Bình Định. Trung đoàn 12 của các chiến sĩ trong
cuốn nhật ký sau có nhiệm vụ chốt giữ đường 19 huyết mạch nối từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên.
Không cho địch tổ chức ứng cứu lẫn nhau giữa duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tạo
thế chia cắt, giảm thiểu sức mạnh hỏa lực chi viện, tiếp tế của địch.
Trên đường 19, đoạn từ Thượng Giang – Bình Định tới đèo An Khê – Gia Lai là vùng rừng núi
hiểm trở, đường dốc quanh co, tầm nhìn hạn chế tới mức tối đa. Dễ phục kích, đánh chặn các
đoàn cơ giới – tiếp tế chuyển quân nên ta và địch tranh giành kiểm soát khu vực hết sức ác liệt.
Trung đoàn 12 tổ chức chốt giữ ở hai điểm cao 638, 384 và khu vực cống Hang Dơi nằm trên
mặt đường 19. Ba điểm nói trên tạo thành một bức tường thép chắn ngang đường 19. Đại đội
62, tiểu đoàn 6 trong cuốn Nhật ký này được giao chốt giữ cao điểm 384.
Các chiến binh Sư đoàn 3 Sao Vàng ngày ấy có câu : "ăn xóm 4, ngủ xóm 5, máu xóm 6". Tiểu
đoàn 6 là tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 12, nổi tiếng vì đánh rất nhiều trận cực kì ác liệt
với kẻ thù. Nổi tiếng nhất có lẽ là trận đánh vào Đập Đá, cửa ngõ khu vực thị xã Quy Nhơn
tháng 1 năm 1968. Hơn năm trăm cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng
trong vòng vây đông đảo của kẻ thù cho tới khi súng hỏng, đạn hết. Cuối cùng chỉ còn hơn
mươi người trở về. Và truyền thống đó còn được tiếp tục phát huy bởi các thế hệ sau của tiểu
đoàn ngay cả trong chiến tranh biên giới chống Trung Quốc bành trướng sau này.
Đối thủ của các chiến sĩ sư 3 ngày ấy chủ yếu là Sư đoàn Mãnh Hổ - lính Nam Triều Tiên, nổi
tiếng với việc huấn luyện kĩ càng, thiện chiến. Tinh thông võ thuật, thủ đoạn chiến trường tinh
vi, lại được Hải Lục Không quân Hoa Kỳ hỗ trợ bằng pháo, máy bay suốt ngày đêm. Và trong
cuốn nhật ký này cũng vậy. Chỉ 12 chiến sĩ Đại đội 62 tiểu đoàn 6 đã anh dũng chống trả một
tiểu đoàn Mãnh Hổ cùng mưa bom, pháo, rốc két của kẻ thù cho tới giọt máu cuối cùng trên
cao điểm 384 anh hùng ấy...
CHIẾN DỊCH XUÂN HÈ 1972
Bộ đội trung đoàn 12 mở chiến dịch triệt cắt giao thông đường 19 (Quy Nhơn - Plây Cu)
nhằm mục đích:
1. Tạo điều kiện cho Tây Nguyên giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh.
2. Kìm chân sư đoàn "Mãnh Hổ" Nam Triều Tiên, không cho chúng ứng cứu chiến trường Bắc
Bình Định. Tạo điều kiện cho các đơn vị khác của sư đoàn giải phóng Bắc Bình Định
Trong nhiệm vụ chung đó, Đại đội 62 trong đội hình Tiểu đoàn 6 nhận nhiệm vụ chốt giữ cao
điểm quan trọng của mặt trận - Cao điểm 384.
Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ gồm 1 trung đội, dưới dự chỉ huy trực tiếp của Đại đội trưởng
Đồng Văn Soạn và Trung đội trưởng Nguyễn Tiến Liễu
Mười một anh em chúng tôi Đại đội 62 và Kiều Minh Toán, chiến binh bổ sung của Tiểu đoàn 5,
tuổi từ 19 đến 24. Riêng anh Nguyễn Tiến Liễu, Trung đội trưởng, tổ trưởng Đảng, cao tuổi
nhất: 38 tuổi, chúng tôi tôn anh là anh cả. Trung đội chốt đã kề vai sát cánh, đồng cam cộng
khổ, thề chiến đấu giữ chốt đến giọt máu cuối cùng. Qua 10 ngày đêm chiến đấu, 8 người anh
dũng hy sinh, 3 người bị thương rời trận địa. Tôi là người còn lại cuối cùng, chứng kiến mọi sự
việc xảy ra qua 10 ngày đêm sống và chiến đấu trên cao điểm. Tôi xin ghi lại toàn bộ sự việc
qua những trang nhật ký này, để ca ngợi hành động chiến đấu dũng cảm hy sinh oanh liệt của
đồng đội tôi và của tập thể chốt, của ngọn đồi 384 đã đi vào huyền thoại.
--------------------------------------------------------------
Ngày 9 tháng 4 năm 1972
Sau hai ngày trời lặn rừng lội suối, hôm nay tới đây - suối Đồng Tre. Lúc này lại quá nhàn
rỗi, quay ra ngủ. Bởi cái thú bậc nhất của thằng lính trong chiến tranh là được ngủ yên tĩnh,
không bị quấy rầy. Ngày hôm nay tôi đã được "tận hưởng" cái thú ấy. Bao nhiêu cái suy nghĩ,
tính toán đã có "đội ngũ" cựu binh họ đảm đương. Mình là lính mới, biết gì mà "tham mưu".
Vậy nên cứ ngủ phứa đi. Ngủ "trả thù" cho mấy đêm, mấy ngày vừa rồi ngủ ít vì phải tranh thủ
hành quân.
Lý do nữa là đội anh Liễu, anh Thu đi xác định vị trí của 384. Đến là rầy rà. Những mỏm núi
phía Bắc suối Đồng Tre. Đâu là 384? Khó tìm ghê! Anh Soạn đại đội trưởng biết nhưng lại đi
sau, nên chúng tôi mới phải nhọc công thế này.
Quá trưa sang chiều các anh trở lại. Thu lầm bầm oán trách "thằng Soạn" đồng hương quan
liêu làm khổ anh em. Anh Liễu bảo: "Cố gắng ngủ nốt buổi chiều còn lại. Kẻo mà lên chốt muốn
ngủ cũng không được nữa".
Chạng vạng tối - Hành quân chiếm lĩnh
Tôi khoác balô nặng nơi vai. Súng treo nơi ngực. Tay phải cầm gậy, tay trái gạt cây rậm, bám
sát người đằng trước. Biết rằng từ đây, đời sẽ diễn ra những điều ghê gớm. Khó khăn khốc liệt
của cảnh lính trận sẽ là vô cùng. Song mình là thằng lính biết tôn trọng danh dự. Phải hạ quyết
tâm mà xốc tới thôi. Không thể sống khác được đâu. Đường lên cao điểm cheo leo hiểm trở vô
cùng. Dốc đó dựng đứng. Lối mòn luồn giữa những dây rợ chằng chịt. Bám sát nhau mà leo
ngược con dốc dựng đứng, trong hoàn cảnh phải tuyệt đối giữ bí mật. Không dám thở to. Đoàn
người gồm 8 anh em cứ lầm lũi bám sát nhau, bám rễ cây mà leo lên. Ai cũng mang trên lưng
một trọng lượng khá nặng. Cánh lính mới chúng tôi cùng mang tới 45 kg. Riêng Nông Văn Thu
mang tới 60 kg trên lưng mà vẫn dẫn đầu đội hình. Bản thân tôi thì... ôi chao mệt quá chừng.
Chưa bao giờ tôi phải cố gắng đến tột mức như thế này. Đành phải cố mà theo anh em thôi. Tới
đỉnh núi. Nghỉ. Chắc là trận địa đây rồi. Ngoái nhìn lại chặng đường: Mừng vì cuộc hành quân
mang nặng leo ngược dốc đã kết thúc. Sợ vì cuộc đời lính trận là muôn ngàn những thử thách,
muốn hay không muốn cũng khó lòng mà chối từ. 384 "đón tiếp" ta thế này đây. Phải chăng là
sự báo trước những khốc liệt của cảnh lính "chốt"? Điểm lại đủ 8 anh em: Liễu - Thu - Khương Bình - Du - Hiển - Thực - Ninh. (Để biết rằng không có ai hèn nhát phải đào ngũ). "Họp"! Anh
Liễu hạ thấp giọng, đầy quan trọng:
- Tuyệt đối giữ bí mật. Anh chỉ tay về phía mỏm núi phía Đông Nam trận địa. Các cậu đã nhìn
thấy thằng Sô-Đô rồi chứ?
Kẻ thù chính sẽ không đội chung trời với chúng ta đấy. Chỉ cần một sơ xuất nhỏ là không còn
kịp để rút kinh nghiệm nữa đâu. Cấm nói to, va động mạnh, phát ánh sáng. Phải đảm bảo tuyệt
đối bí mật đến giờ D ngày N. Đã gần địch thì chẳng cần nói nhiều, ai cũng tự biết phải làm gì vì
không thể đùa với thần chết được.
Lệnh: Đào công sự!
Tranh thủ màn đêm. Tranh thủ thời gian. Khẩn trương bí mật triển khai công sự sớm chừng
nào tốt chừng đó. Biết rõ lợi thế của loại áo giáp này trong chiến tranh, chúng tôi đã dồn mọi
khả năng sức khỏe, thức suốt đêm để đào dũi. Mỗi tổ 3 người. Phân công nhau: 1 cảnh giới, 2
đào. Không có "chế độ" ngủ trong đêm. Tổ của tôi gồm: Thu - Du - tôi. Chúng tôi đã thức trắng
đêm đầu tiên trên chốt. May "áo giáp" như thế đấy.
Một đêm không ngủ đã qua. Buổi đầu tôi đã biết được đời lính chiến trong khói lửa là thế nào.
Liệu rồi mình sẽ ra sao đây? Có đủ sức mà đạp bằng, mà chịu đựng, mà vượt qua xốc tới như đã
thề trước khi ra trận không?
Ngày 10 tháng 4 năm 1972
Buổi sáng, ngụy trang thật khéo để che mắt thằng Sô-Đô trước mặt chỉ cách ngàn mét. Để
che con mắt của thằng OV10 cứ vè vè săn tìm suốt ngày. Rồi mới có thể làm được. Tôi ngồi
cảnh giới cho Thu và Du làm. Vậy mà càng đỡ vướng cho hai người. Bởi một thằng thằng gầy
loẻo ngoẻo như tôi theo sao kịp 2 ông "hộ pháp". Dù tôi có cố gắng bao nhiêu thì "tiến độ" vẫn
bị chậm. Tôi cuốc thì không đủ đất cho anh xúc. Tôi xúc thì không theo kịp anh cuốc. Đất cứ
đùn thành đống tướng. Vậy nên tôi càng phải cố trong mọi "lĩnh vực", sợ nhất là họ chê mình là
hèn kém. Thế mới biết sức khỏe cần cho thằng lính là thế nào. Xin được giới thiệu "tiểu sử" của
2 vị cựu binh.
Nông Văn Thu. Quê: Bản Noọng, xã X huyện Phú Lương - Bắc Thái. Dân tộc Tày. 24 tuổi. Nhập
ngũ: 1967. Cao: cỡ 1m70, nặng: 75 kg. Trắng, đẹp trai, hiền lành, thật thà, bản tính lầm lỳ, ít nói,
làm luôn chân tay. Gặp ai khó khăn sẵn sàng giúp đỡ. Sức khỏe của anh vào loại hiếm có. Tôi
chưa từng thấy ai khỏe như anh. Đúng quả là một con gấu của núi rừng Việt Bắc. Có một
chuyện về anh thế này:
Một lần Thu và Du đi công tác, trên đường rẽ vào làng Mật (một buôn nhỏ của người Ba-na)
gặp một phụ nữ trở dạ đẻ giữa đường. Không chần chừ, Thu ra lệnh cho Du: Hạ balô xuống giúp
người ta. Thế là lập tức, Thu làm "bác sỹ" khoa sản. Còn Du, dù muốn hay không muốn, cũng
phải làm "hộ lý" bất đắc dĩ, ngoan ngoãn phục tùng sự sai bảo của Thu, không dám nhìn việc
Thu làm. Để rồi sau đó, câu chuyện trên được Du "chuyển thể" thành câu truyện tiếu lâm;
nhắm mắt, ôm bụng, vỗ đùi, vừa cười sằng sặc vừa kể. Cánh lính trẻ chúng tôi hưởng ứng câu
truyện rất nhiệt tình, và những trận cười như pháo lại nổ ra, cho dù Du kể đi kể lại tới lần thứ
bao nhiêu, vẫn làm cho chúng tôi phải bò ra mà cười. Trước việc làm phúc đức của Thu rất
đáng được ca ngợi và nêu gương, để cho câu truyện thêm rôm rả, chúng tôi xoáy vào chọc Du.
Du chẳng hề tự ái chút nào, còn thêm thắt những chi tiết hài hước để chọc Thu (vì chúng tôi
không ai dám chọc "con gấu" ấy). Mỗi lần như vậy, Thu chỉ lầm lì chăm chú vào việc đang làm,
dường như không có trận cười, và không chú ý đến trận cười đang "hại mình". Quá lắm, một
lần Thu hỏi Du: "Mày cười thế có sướng cái miệng không Du?". Vậy là chúng tôi lại bò ra cười.
Là tiểu đội trưởng, dày dạn kinh nghiệm qua nhiều trận đánh, anh trực tiếp "huấn luyện" tôi
mọi động tác trong chiến đấu và vận động cá nhân. Thấy gì, nghĩ gì anh bảo tôi vậy, rút kinh
nghiệm từ chính bản thân mình làm "khoa mục" hướng dẫn tôi. Tôi là "học trò" vốn đã có sự
khâm phục anh sẵn nên cứ im như thóc mà nghe. Thu "kết luận" bài giảng bằng ngôn ngữ
người Tày của anh như thế này: "Đánh nhau, phải biết chết, đừng biết sống vớ". Nghĩa là anh
bảo tôi: Đã là lính chiến thì không được sợ chết. Có chấp nhận cái chết thì mới đủ bình tĩnh,
dũng cảm để chiến đấu và chiến thắng. Nông Văn Thu là thế đấy. Một người lính có tài, có đức.
Nên học tập nhiều ở anh lắm chứ.
Nguyễn Văn Du. Quê: Quế Võ, Hà Bắc. Nhập ngũ: 1970. Cao: 1m65. Nặng: cỡ 60 kg. Da ngăm
đen, đẹp trai. Trung sỹ - Tiểu đội trưởng. Đã qua chiến đấu nhiều trận nên dày dạn kinh
nghiệm. Dũng cảm - gan dạ. Có tài ném lựu đạn "chụp", nghĩa là quả lựu đạn của anh tung ra,
cách mặt đất 1 mét đã nổ tung trên không như quả pháo chụp vậy, cách này của anh gây sát
thương rất cao cho địch. Chúng tôi không dễ gì mà học tập được ở anh kinh nghiệm ấy. Tai
nghễnh ngãng vì bị sức ép bom. Anh Liễu đặt cho cái tên: nhà thơ điếc, mặc dù chưa hề thấy
anh đả động gì đến thơ phú bao giờ. Ôi Nguyễn Du: chả là anh ta trùng tên với Đại thi hào nổi
tiếng mà - "Nhà thơ điếc": Thật thà, chất phác nhưng nóng tính như hổ. Xạ thủ trung liên. Vào
chiến trường trước chúng tôi một khóa huấn luyện nên được lính Hà Bắc tôn làm anh. Sức
khỏe của anh ở đại đội này chỉ đứng sau Thu mà thôi. Được ở gần 2 "ông hộ pháp" cũng là dịp
may cho tôi, trước hết là việc đào hầm.
Thu và Du là đôi tri kỷ. Thân nhau tới mức, dù ở đâu, có Thu phải có Du, hoặc ngược lại. Thu
người dân tộc, đặc điểm lầm lì ít nói, làm suốt ngày, hết việc cá nhân đến việc chung, hoặc giúp
đỡ người khác, ít khi thấy anh ngồi không tán gẫu. Còn Du thì ngược lại, theo Thu đẽo đẽo và
kiếm chuyện chọc tức bạn, để rồi cười ngặt nghẽo. Nghĩa là ở đâu có Thu là ở đấy có tiếng cười
của Du. Song, trước sự chọc tức ấy của bạn, "con gấu" lại tỏ ra hiền lành, nhường nhịn không hề
tỏ ra phản ứng nổi giận gì. Nên trông cặp "uyên ương" ấy mới dễ mến làm sao. Anh Liễu bảo:
"Thằng Thu nó chỉ chịu mỗi thằng Du ở đại đội này thôi". Tôi ngồi cảnh giới. Sau một đêm thức
trắng làm việc, giờ đây được ngồi yên; trước công sự được ngụy trang kín, trên đỉnh núi gió
mát, khí hậu trong lành, ngủ thiếp đi lúc nào không hay, cho tới khi Du "báo thức" bằng cái véo
tai rõ đau. Tôi xin lỗi anh và xin tiếp tục được làm, kẻo ngồi đây thì phải "mắc màn" thôi.
Buổi chiều. Địch bắn phá vào khu vực chiến trường, dọc hai bên đường 19. Vài quả pháo rơi
vào đồi 384. Lộ rồi hay sao? Mỗi người đưa ra câu hỏi, rồi tự nhận định:
- Lại mấy thằng tân binh đi lại lộn xộn làm lộ!
Ôi! Lính mới. Họ gán cho lính mới tội gì chẳng phải chịu. Vậy mới phải cố trong mọi "lĩnh vực"
để họ hết xem thường lính mới. Chắc là Chính - Hiển - Thực cũng nghĩ như tôi thôi.
Xẩm tối, anh Soạn đại đội trưởng và Chính - chiến sỹ liên lạc - lên chốt. Quân số tăng lên 10. Tôi
được lệnh sẵn sàng chiến đấu, cảnh giới cho toàn chốt. Bây giờ mới có dịp quan sát mặt trận:
Con đường 19 chạy từ Đông sang Tây. Dọc hai bên trục đường, các chốt điểm của địch nằm
cách nhau đều đặn: Trái Tim, Mâm Xôi, Hòn Ngang, Hòn Kiềng, v.v. như trên sa bàn tác chiến
đã hướng dẫn. Và nơi đây, đối diện 384 về phía Đông Nam, thằng Sô-Đô với 1 tiểu đoàn Nam
Triều Tiên, đối thủ chính của chúng tôi. Liệu chúng đã biết gì về sự có mặt của đội quân này
chưa, mà mấy khẩu đại liên không mấy lúc ngừng bắn, pháo của địch vẫn khoan nhặt nổ?
Những quả đạn vu vơ không địa chỉ vẫn nổ lung tung vào trong rừng, và bọn trực thăng chiến
đấu thả pháo sáng, bắn đạn 20 ly vu vơ. Anh Liễu bảo: "Nó hoạt động bình thường về đêm đấy
mà. Đã có gì dám chắc là nó phát hiện ra quân ta. Cứ làm việc bình thường, giữ bí mật cho tốt,
chưa lộ đâu mà lo".
Đêm họp. Anh Soạn phổ biến tình hình. Xác định quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi
tình huống. Cuối buổi họp, anh Liễu "bật mí": Đêm nay chính thức là đêm N - 10/4; giờ D là
không giờ ngày 11/4/72. Tin tuyệt mật, chỉ có lính chốt mới được biết thôi.
Ngày 11 tháng 4 năm 1972
Lại qua một đêm thức trắng làm cật lực nữa. Sáng nay chúng tôi đã "thiết kế" tạm xong hệ
thống phòng ngự: hầm tránh pháo, công sự chiến đấu của các tổ, các hướng tất cả liên kết với
nhau bởi đường giao thông hào hình vành khăn khép kín trên đỉnh núi. Diện mạo của 384 đây.
Thế trận của Đại đội 62 đây. Chúng tôi đã tạo cho 384 thế đứng của chàng hiệp sỹ đứng thế thủ,
sẵn sàng tiếp nhận cuộc chiến đầy tự tin, quyết đánh và quyết thắng.
Địch phản ứng mạnh (Chắc đêm qua ăn đòn ở Cây Rui). Chẳng hiểu "bọn" Đặc công đêm qua
làm ăn thế nào, "nhai" Cây Rui có "gọn" không? Các trận địa pháo của địch như điên như dại,
bắn đi tứ tung vào trong rừng. Những quả pháo không có địa chỉ, gầm hú bay loạn trên trời rồi
rơi nổ bừa bãi. Nào đã biết "Vi-xi" ( VC – Việt Cộng – Cách quân Mỹ gọi quân giải phóng ) ở đâu
mà bắn.
Tieng sú ng mở mà n chien dịch đã no từ giờ D đê m qua ı́t nhat thı̀ lũ Nam Trieu Tiê n đã được
ă n đò n từ đó . Đường 19 chı́nh thức đã bị cat. Huyet mạ ch giao thô ng quan trọ ng củ a địch, noi
Tâ y Nguyê n với đong bang và ngược lạ i, đã bị quâ n ta bó p chẹ t. Con thú khong lo đã bị chà ng
hiệ p sỹ bó p hau. Ta cà ng bó p mạ nh, xiet mạ nh, nó giã y cà ng khỏ e. Nó cà ng giã y khỏ e ta cà ng
phả i xiet mạ nh hơn nữa. Cả 2 phı́a đã đưa lẽ song "Khô ng độ i trời chung" đen độ cao nhat.
Chú ng tô i đã quá n triệ t quyet tâ m chien đau lâ u dà i gian kho, nê n cà ng san sà ng đó n nhậ n khoc
liệ t,hy sinh sẽ đen với mı̀nh. Trong cuộ c chien đau dà i ngà y đay gian kho á c liệ t nà y.
Má y bay địch xuat hiệ n ngà y cà ng nhieu, ná o độ ng khô ng gian suot ngà y suot đê m. Đủ loạ i,đủ
tê n: Phả n lực né m bom, phả n lực siê u â m,trực thă ng chien đau ..vv.. Tưởng như quâ n chủ ng
Khô ng quâ n và Hả i quâ n Mỹ đang giới thiệ u cá c chủ ng loạ i má y bay trước may anh em lı́nh
chot chú ng tô i. Nghiê ng ngó să n tı̀m, nhà o lộ n đe dọ a suot 24h/ngà y. Bau trời khô ng lú c nà o
vang "tụ i" nà y. Chı̉ can mộ t sơ xuat nhỏ củ a chú ng tô i là chú ng bu lạ i "đó n tiep" bang nhieu cỡ
đạ n và nhieu kieu bom. Phoi hợp với lực lượng Phá o binh Mỹ với nhieu trậ n địa phá o,cá c cỡ
phá o. Cộ ng với sư đoà n Bộ binh Nam Trieu Tiê n. Cả Hả i-Lụ c-Khô ng quâ n Mỹ cà ng phoi hợp
tham chien. Lực lượng tham chien củ a địch thı̀ hù ng mạ nh như vậ y cò n ve phı́a chú ng tô i, ra
quâ n trong khi lực lượng the nà y : 10 anh em đau tran châ n đat, sú ng bộ binh, khô ng he có sự
việ n trợ củ a bat kỳ lực lượng nà o. Cũ ng bà y san the trậ n, chap nhậ n "mộ t" khoc liệ t củ a cuộ c
chien. Thà hy sinh tat cả phả i thực hiệ n được nhiệ m vụ : Chặ n bước quâ n giặ c, giữ cao điem.
Quyet chien đau giữ chot đen giọ t má u cuoi cù ng. Chú ng tô i đã và đang là m đieu cha anh đi
trước van là m trong chien tranh nhâ n dâ n: Dù ng ı́t địch nhieu, lay yeu thang mạ nh đã là m nê n
chien thang đi và o lịch sử. Chú ng tô i đã bà y the trậ n 384, và the trậ n nà y đang thá ch quâ n thù
nhả y và o, đe xem lá gan ai lớn trong cuộ c đọ sức nà y.
Gan trưa. Phá o ban và o 384.
Ngoi trong ham trá nh phá o. Ngó n tay trỏ bịt chặ t nò ng sú ng kẻ o cá t rơi là m sú ng hó c, mat van
phả i mở to theo dõ i ra ngoà i. Neu thay giay bay loạ n xạ tức là chú ng ban phá o giay cho Bộ binh
tan cô ng. Phả i lậ p tức đứng dậ y mà đá nh trả . Hoặ c phá o chuyen là n phả i trở lạ i vị trı́ chien đau.
Hoà n toà n khô ng được chú i đau trá nh phá o. Ta và địch phả i lừa nhau từng đò n đe tiê u diệ t
nhau. Khô ng độ i trời chung, mộ t mat mộ t cò n mà .
Trực tiep giơ đau hứng chịu á c liệ t củ a trậ n oanh tạ c. Trong tieng phá o gam rú xé mà ng nhı̃.
Mả nh đạ n bay kê u vo vo như muoi đê m hè . Những tieng no long ó c. Tia chớp nhang nhịt như
những tia sé t trong đê m dô ng. Lửa. Khó i. Trời đang nang to. Giữa ban trưa mà sậ p toi như hũ
nú t, bởi khó i củ a nhieu quả đạ n phá o no, với mậ t độ dà y đặ c đã tạ o ra mà n đê m, che phủ kı́n
ngọ n đoi, che lap cả á nh mặ t trời. Sự song và cá i chet đã xı́ch lạ i gan nhau như ngà n câ n treo
sợi tó c. Mong cho đieu rủ i ro đừng đen với mı̀nh. Mong cho trậ n oanh tạ c qua nhanh. Trước sức
phá và đe dọ a củ a than chet, cả m tı́nh sợ sệ t lê n tieng mạ nh mẽ , tô i lo sợ thực sự. Dù co gang
tran tı̃nh đen bao nhiê u cũ ng khô ng đè bẹ p được cả m giá c sợ chet lú c nà y.
Là lı́nh bộ binh trực tiep đoi mặ t với quâ n thù . Tô i đã tự biet rang phả i có lò ng gan dạ dũ ng
cả m trong á c liệ t chien trậ n thı̀ mới là m nê n chuyệ n. Van biet gan dạ dũ ng cả m là thứ vũ khı́ lợi
hạ i trước tiê n, là đức tı́nh tot, là đieu can thiet phả i có củ a mộ t chien binh ở chien trường.
Song, trước ranh giới củ a song, chet, đe là m nê n đieu đó thậ t là khó . Tạ o ra được tâ m trạ ng
bı̀nh tı̃nh, khô ng run sợ trước sự hă m dọ a củ a vũ khı́ giet người toi tâ n hiệ n đạ i, củ a quâ n độ i
Mỹ. Lú c nà y khó vô cù ng, ı́t nhat thı̀ cũ ng đã trả i qua đô i lan. Với tô i, lạ i là lan đau tiê n gặ p phả i,
nê n tran tı̃nh được tâ m trạ ng lú c nà y quả là khô ng the là m noi!
Mã i roi trậ n oanh tạ c đi qua, phá o chuyen là n sang nơi khá c, khó i loã ng dan roi tan. Trời sá ng
dan, roi trở lạ i á nh sá ng củ a mộ t buoi trưa hè . Nhưng mù i thuoc đạ n khé t lè n lẹ t thı̀ đọ ng ở tat
cả mọ i nơi, đay sặ c trậ n địa chot, đay cả trê n thâ n the, đau tó c, quan á o củ a từng người. Hai lo
mũ i và co họ ng cũ ng đay thuoc phá o, nê n ngửi và o đâ u, ở cho nà o cũ ng thay mù i khé t và vị
đang thuoc đạ n. Dứt loạ t phá o, Bı̀nh y tá ghé và o ham, kiem tra mộ t lượt xem có ai ả nh hưởng
gì không.
Du cười khà khà:
- Chưa can thuoc củ a ô ng. Có đieu ô ng xin thı̀ tô i cho ô ng thuoc đâ y.
Ba bon cá i đau chụ m và o van thuoc lá hú t. Bı̀nh nhı̀n tô i, nhá y mat rieu cợt:
- The nà o, "Phá t bieu" cho "qua" nghe thử.
Tô i thà nh thậ t:
- Tương đoi đay anh ạ !
Anh cười lớn, phô hà m ră ng và ng khè vı̀ á m khó i thuoc lá . Nó i với giọ ng từng trả i:
- Cá c cậ u là lı́nh mới, nê n cò n "lạ miệ ng" với cá i "mó n" nà y lam. Yê n trı́ đi. Từ xưa tới giờ. Khi
cậ u cò n chưa là lı́nh giả i phó ng nó đã ban roi. Vậ y nê n cứ mặ c mẹ nó là hơn cả . Việ c nó , nó ban.
Việ c mı̀nh, mı̀nh là m. Lo gı̀!
Thu hỏi:
- Tạ i sao nó ban mà y khô ng là m mà rú c và o ham là m gı̀ ?
- Thı̀ "giả i lao" mộ t lú c đã sao. Roi anh ta lạ i phá lê n cười như khô ng he có chien tranh xả y ra ở
đây.
Du hỏi Bình:
- Nà y, Mà y có nhớ lı́nh ta van "Khan" the nà o khô ng ?
- Khan gı̀ ?
- "Than chú " chứ cò n gı̀ nữa. Moi lú c vap á c liệ t, cứ "Khan" lê n, có vẻ an tâ m phan nà o đay. Mà y
nhớ không??
Bı̀nh "à " mộ t tieng, roi vo đù i, e hè m lay giọ ng, sửa lạ i tư the ngoi, roi "Khan":
- The nà y, "Khan" rang: Việ c nó , nó ban. Ban nhieu chưa chac đã trú ng, trú ng nhieu chưa chac
đã bị, bị nhieu chưa chac đã bị nặ ng. Bị nặ ng chưa chac đã chet. Yê n trı́, đâ u khac có đó mà !
Bong anh Lieu xuat hiệ n nơi cửa ham. Nghiê m giọ ng quá t:
- Khan trương sơ tá n ngay. Đâ y là đâ u mà cá c cậ u "họ p chợ" hả . Ai ve ham nay ngay.
Tô i tiec, vı̀ cuộ c vui tới đâ y đã phả i tà n. Song, mệ nh lệ nh củ a anh Lieu phả i chap hà nh thô i.
Chien tranh mà .
Sau trậ n phá o Mỹ oanh tạ c. Tô i tưởng sẽ được nhả y ra ngoà i ham trú an mà hı́t thở khô ng khı́
trong là nh từ là n gió bien thoi và o, nơi đı̉nh nú i cao nà y. Nhưng roi bọ n trực thă ng lạ i dan xá c
tới ban phá . Hai chiec HUEY thay nhau ban roc-ké t, đạ n 20 ly, thả lựu đạ n xuong trậ n địa. Sức
cô ng phá khô ng bang bom, phá o nhưng dai hơn và chı́nh xá c hơn. Ham hà o, cô ng sự hư hạ i
nhieu là do thang khon kiep nà y. Ngoi trong ham trá nh đạ n. Phó mặ c tı́nh mạ ng cho sự may rủ i.
Mới có dịp mà nghien ngam câ u "Than chú " củ a Bı̀nh "Khan" ban nã y : " Ban nhieu chưa chac
đã bị, bị nhieu chưa chac đã chet. Yê n trı́, đâ u khac có đó ". Nghı̃ rang, cá i sự "đâ u" khac có "đó "
là sự bà y đặ t san củ a so Trời. Song khac song, chet sẽ chet, cá i sự sap đặ t ay khuyê n bả o: Hã y
yê n tâ m, lo sợ mà là m gı̀. Khi Trời đã có "đá p so" san roi. Ngoà i đieu đó ra, đương nhiê n mı̀nh
là thang lı́nh đang hiệ n diệ n ở chien hà o. Vậ y thı̀ hã y phá t huy het cá i trá ch nhiệ m và sứ mạ ng
củ a lịch sử giao phó . Vậ y thô i !
Buoi chieu. Thang 0V10 nghiê ng cá nh ban phá o hiệ u. Cụ m khó i nó ban cứ nở to mã i ra. Nghe
tieng phả n lực gam rı́t và mặ t đat rung chuyen. Mộ t tia chớp. Và mộ t quang lửa trù m lê n. Trời
sậ p xuong hoà n toà n. Từ đó tô i khô ng hay biet gı̀ nữa.
Tô i bị bom vù i - May mà anh em kịp thời cứu chữa. Neu khô ng - vı̃nh vien khô ng ai được biet
câ u chuyệ n ve cao điem 384 nữa. Anh em cho biet: 2 chiec F4-H thay nhau trú t bom xuong trậ n
địa khá lâ u. Ham ho, giao thô ng hà o hư hạ i nhieu. Vậ y ra ngà y hô m nay, quâ n địch đã dù ng cá c
ngó n đò n mạ nh đe hù dọ a, nan gâ n chú ng tô i. Bom phá o, hạ ng nặ ng, hạ ng nhẹ thay nhau đá nh
rò ng rã suot ngà y. Chú ng tưởng rang, với vũ khı́ giet người hiệ n đạ i ay, sẽ đay lù i được chú ng
tô i chă ng ? Bı̀nh y tá kiem tra tı̀nh trạ ng bị bom vù i củ a tô i, và cho biet : Khô ng sao cả ,sẽ chó ng
phụ c hoi thô i. Tô i được "ưu tiê n" nam nghı̉.
Đê m - lạ i thức trang, với nú i cô ng việ c. Bởi sự ton đọ ng sau 1 ngà y oanh tạ c bang Khô ng quâ n
và Pháo binh của địch : Sửa lại công sự bị sập, xuống chân núi cõng đạn , nước . Một bộ phân
khác , do anh Liễu – Thu , Bình đảm nhiệm đi tập hậu vào bọn Nam Hàn đang nhe nanh giơ
vuốt , gây bao tội ác với đồng đội, và chính bản thân chúng tôi. Lúc này đang là thời cơ thanh
toán sổ nợ với chúng. Chúng tôi phải dồn mọi sức lực, cố gắng để sữa lại hầm hố bị hư hại. Để
chờ đón quân thù tới, tiêu diệt – sẵn sàng tiếp nhận những khốc liệt mới. Tiếp nhận những
Trận đánh chênh lệch về lực lượng. Sức chiến đấu – vũ khí v.v . Cho dù kẻ địch luôn ở thế hơn
hẳn. Anh Liễu bảo :
- Đây là dịp để xem. Ai là vàng? Ai là thau?
Sẽ thể hiện cụ thể qua những ngày này .
Liệu tôi sẽ là cái gì đây?
Ngày 12 tháng 4 năm 1972
Hồi “ gà gáy ”. Triệu tập họp chốt.
Anh Soạn Phổ biến tình hình nhiệm vụ. Thông báo tin chiến thắng của các “xê”( C – Đại đội )
bạn. Nêu gương chiến đấu dũng cảm của các tập thể cá nhân lậ...
 





