BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Rèn luyện thói quen đọc sách - một việc nên làm

    Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, rồi tiến đến hiện tại, Sách và Văn hóa Đọc luôn được đề cao và tôn vinh, đây là nét đẹp mang giá trị văn hóa sâu sắc khó có thể phai nhòa theo năm tháng. Đọc sách giống như việc cái cây được tưới nước thường xuyên, con người chúng ta phát triển từng ngày nhờ quá trình đọc sách và tích lũy tri thức. Hẳn rằng để bàn về vai trò và giá trị mà sách mang đến, đã có biết bao cây bút dành sự ưu ái nhất định của mình cho đề tài này và rồi trở thành một tư tưởng nhân văn của thời đại. Ai cũng biết lợi ích của việc đọc, ai cũng biết giá trị từ sách, tôi tin rằng, ở thời điểm hiện tại đã có không ít bạn trẻ lấy việc đọc sách là mục tiêu để phấn đấu, rằng mỗi ngày dành 10 phút hay 30 phút đọc sách, một ngày phải đọc bao nhiêu trang, một tháng đọc bao nhiêu và một năm nhìn lại ta đã kinh qua bao cuốn sách. Nghe thì có vẻ là một kế hoạch hoàn hảo, nhưng thực tế, ta tự hỏi chính mình, rằng bản thân đã thực sự cố gắng và kỷ luật với việc đọc sách hay chưa?

    Ảnh ngẫu nhiên

    TG10.jpg Chau_Au.jpg Picture2.jpg CangBien.jpg Picture3.png

    Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng

    Nha tho duc ba Paris

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 13h:23' 11-03-2024
    Dung lượng: 448.1 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Victor Hugo
    Nhà thờ đức bà Paris
    Mục Lục
    Thông tin ebook
    Chương 1 Gian phòng lớn
    Chương 2 Nàng Esmeralda
    Chương 3 Cái hũ vỡ
    Chương 4 Những tâm hồn đẹp đẽ
    Chương 5 Viện công tố
    Chương 6 Cái lỗ chuột
    Chương 7 Một giọt nước mắt đổi lấy một giọt nước
    Chương 8 Định mệnh
    Chương 9 Đồng tiền thành lá khô
    Chương 10 Bà mẹ
    Chương 11 Gã dị dạng
    Chương 12 Gringoire có những ý tưởng tốt
    Chương 13 Niềm vui muôn năm
    Chương 14 Châteaupers cứu nguy

    Thông tin ebook
    Tên truyện : Nhà thờ đức bà Paris
    Tác giả : Victor Hugo
    Nguồn : http://vnthuquan.net
    Convert : Bùi Xuân Huy (santseiya_TVE)
    Ngày hoàn thành :25/02/2007

    Chương 1

    Gian phòng lớn
    Ngày 6 tháng giêng 1482 tất cả các chuông nhà thờ của thành phố rung hết
    cỡ, đánh thức dân Paris dậy.

    Họ nôn nao, vì hôm nay là ngày các Vua và hội của thằng Điên. ở Grève có
    trồng cây chúc mừng tại nhà thờ Braqne và trình diễn vở kịch tôn giáo tại
    dinh Tòa án.

    Từ sáng sớm, nam nữ thị dân khắp nơi đổ về ba địa điểm đã định. Các tư
    gia và cửa hiệu đều đóng cửa. Phần đông kéo nhau đến Grève, vì thời tiết
    mùa này hợp hơn, hoặc đổ về phòng lớn của Tòa án, nơi kịch tôn giáo sẽ
    được trình diễn. Phòng này cửa được che kín. Dân hiếu kỳ đồng lòng bỏ
    mặc cây chúc mừng thưa thớt hoa, đứng run rẩy cô đơn dưới bầu trời tháng
    giêng.

    Vở kịch chỉ được bắt đầu sau tiếng chuông thứ mười hai của đồng hồ Tòa
    án. Nó sẽ được trình diễn trên một cái bục sát tường, phủ nhiễu điều, gọi là
    bàn đá hoa cương. Diễn kịch giờ ấy thế là muộn. Công chúng chờ từ sáng,
    mỗi lúc thêm đông nghịt. Vướng víu, sốt ruột, họ cãi lộn vì bất cứ lý do gì.
    Đám đông phải chờ đợi quá lâu, lại bị nghẹt thở, bị lèn chặt, bị giam kín, bị
    xô đẩy, bị chèn ép, nên họ trở nên mệt mỏi.

    Trong sự huyên náo của họ có một cái gì đó gắt gao chua chát.


    Người ta chỉ nghe thấy tiếng ca thán, những lời nguyền rủa của bọn sứ giả
    phơ-la-măng đã tới từ hai hôm trước để thu xếp đám cưới của thái tử và
    công nương Marguerite xứ Flandres, những lời phản ứng viên phán quan
    của các thương gia, chống lại Hồng y giáo chủ De Bourbon, pháp quan của
    Tòa án, chống lại các tên cảnh sát, gậy lăm lăm trong tay, chống lại cái rét,
    cái nóng, thời tiết xấu, chống lại giáo hoàng của các thằng Điên, chống lại
    giám mục của Paris, chống lại các hàng cột, các pho tượng, cái cửa đóng
    kín mít, cái cửa sổ mở toang.

    Tất cả làm cho bọn học sinh trường dòng, lũ đầy tớ lẩn trong đám đông rất
    khoái, chúng pha thêm vào sự bất bình những lời châm chọc, những trò tai
    quái, khác nào chích thêm vào tâm trạng bực dọc những mũi kim
    nhọn..Trong bọn chúng còn có một lũ tếu đang táo tợn ngồi vắt vẻo trên
    đỉnh cột. Sau khi đập vỡ kính một cửa sổ, chúng ném những cái nhìn,
    những lời trêu chọc vào đám quần chúng đang chen chúc trong và ngoài
    phòng. Qua cử chỉ tức cười, tiếng cười hô hố, tiếng gọi nhau nhạo báng từ
    đầu đến cuối phòng, không khó gì không nhận ra rằng bọn giáo đồ này
    không phải chia sẻ nỗi bực bội, mệt nhọc của những người có mặt.

    Chúng biết khai thác cảnh tượng đang diễn ra để có thể kiên nhẫn chờ màn
    kịch khác.

    Người ta la hét gọi nhau. Người anh của viên thái thú Gilles Lecornu xuất
    hiện. Lập tức những lời chế giễu trút vào lão, Gilles Lecornu toát mồ hôi,
    thở phì phò, nổi cáu:

    - Ghê tởm! Học trò mà ăn nói với các vị trưởng giả thế bao giờ. Thời ta thì
    bọn bay sẽ bị quất cho mấy thanh củi rồi đem thiêu sống.

    Sự vui nhộn, những lời giễu cợt càng tăng.

    Cuối cùng, đồng hồ điểm chính ngọ. Im lặng thay cho huyên náo. Những
    cái cổ vươn ra.

    Những con mắt hau háu hướng về phía bàn cẩm thạch, nhưng chẳng có gì
    cả.

    Thế này thì quá lắm.

    Người ta đợi một, hai, ba phút, mười lăm phút vẫn chẳng thấy gì. Tấm bục
    vẫn vắng tanh.

    Sàn kịch câm lặng. Sốt ruột rồi nổi giận. Những tiếng cáu kỉnh bật lên:


    "Kịch tôn giáo". "Kịch tôn giáo".

    Những cái đầu bốc nóng. Một cơn bão phút trước mới chỉ ầm ĩ, đã bay đến
    trên đám quần chúng.

    - Phá sạch đi! Phá sạch đi! - Tiếng gào tứ phía nổi lên.

    Giữa lúc đó, tấm phông trong cùng vén lên.

    Một nhân vật tự xưng là sắm vai Jupiter, tuyên bố:

    - Chúng ta sẽ bắt đầu khi nào đức Hồng y giáo chủ tối cao đến.

    Tiếng anh ta chìm đi trong tiếng la ó như sấm dậy.

    - Bắt đầu ngay lập tức! Diễn ngay lập tức!

    Sự cuồng nộ của quần chúng sắp nổ ra gấp đôi thì một nhân vật xuất hiện.
    Chính là tác giả của vở kịch: Pierre Gringoire. Anh kéo Jupiter ra một góc,
    hạ lệnh:

    - Phải bắt đầu ngay..- Hoan hô! Hoan hô! - Đám quần chúng gào lên.

    Tiếng vỗ tay đinh tai. Jupiter lui vào sau tấm màn, trong khi tiếng hò reo cơ
    hồ làm rung chuyển cả gian phòng.

    Lát sau, người ta bắt đầu thưởng thức vở:

    "Lời phán xét công minh của đức Mẹ đồng trinh".

    Công chúng đang thành kính nghe thì cái cửa dành riêng cho thượng khách
    của sàn diễn mở ra. Giọng sang sảng của người tiếp tân thông báo bất ngờ:

    - Đức ông Hồng y De Bourbon đến!

    Tội nghiệp cho Gringoire!

    Điều anh lo sợ đã xảy ra.

    Đức ông đến làm điên đảo cả cử tọa. Mọi cái đầu quay về bục diễn. Chẳng
    còn nghe thấy gì hết.

    - Đức Hồng y! Đức Hồng y!

    Đức Hồng y dừng lại một phút trên bục diễn.

    Ngài đưa khuôn mặt lạnh lùng lướt nhìn công chúng. Tiếng ồn ào càng rộ
    lên. Ai cũng muốn được nhìn Hồng y giáo chủ rõ hơn. Có người dựa đầu
    lên vai người bên cạnh.

    Ngài bước vào, chào khán giả rồi chậm rãi đi tới chiếc ghế bành bọc nhung
    đỏ thắm dành riêng cho ngài. Có vẻ như ngài đang nghĩ tận đâu đâu. Đoàn
    tùy tùng gồm các giám mục, các linh mục lục tục theo sau ngài làm tăng
    thêm tiếng ồn ào và sự hiếu kỳ.


    Sau Hồng y De Bourbon là các vị phái viên của quận công d'Autriche, xếp
    hàng đôi.

    Không thể nghĩ tới kịch tôn giáo được nữa.

    Anh chàng Gringoire tội nghiệp, hoài công không thể nào tập hợp ngay
    được các diễn viên và làm cho họ tập trung chú ý vào vở kịch của anh.

    Trong số các người mới đến có các trưởng giả ở Gand, những cái đầu phơla-măng vừa đĩnh đạc, vừa trịnh trọng trông giống như các nhân vật trong
    bức tranh Ronde de nuit (tuần tra đêm) của Rembrandt vẽ rất tài tình. Trong
    số này có Guillaume Rym và Jacques Coppenole.

    Ông này là thợ giày bậc thầy, xuất thân bình dân. ông giành được thành
    công mỹ mãn bởi ông đã trò chuyện thân mật với gã ăn mày tên là Clopin
    Trouillefou đang vắt vẻo trên sà của bục diễn, chẳng thèm quan tâm đến
    nghi thức, mồm không ngớt van xin:.- Xin làm phúc với, các ông, các bà ơi!
    Tình hình đã xấu càng tồi tệ, vì trong khi các kịch sĩ tiếp tục diễn và Pierre
    Gringoire hy vọng vở kịch của anh có thể được trình diễn chót lọt, thì
    Coppenole thình lình đứng lên, hiệu triệu công chúng đang chỉ chờ có thế:

    - Thưa các vị trưởng giả, các vị hào phú của Paris, tôi không hiểu chúng ta
    đang làm gì ở đây.

    Tôi trông thấy ở kia, trên cái mễ, những kẻ như đang muốn choảng nhau.
    Không biết đó có phải là cái mà các vị gọi là kịch tôn giáo không, nhưng cái
    đó chẳng hay ho chút nào. Chúng đấu nhau bằng lưỡi và chẳng có gì hơn.
    Tôi chờ đợi cú đánh đầu tiên đã mười lăm phút rồi. Chẳng có gì cả. Toàn là
    một lũ hèn nhát chỉ làm sứt da nhau bằng những lời chửi bới. Phải gọi đến
    đây những đấu sĩ của Luân-đôn, của Rotterdam và lập tức các vị sẽ thấy
    những cú đấm ra đấm. Thế này đâu có phải điều người ta đã nói với tôi. Họ
    hứa có lễ hội của các thằng Điên, cuộc bầu giáo hoàng. Chúng tôi cũng có
    giáo hoàng của những thằng Điên ở Gand. Về điểm này chúng tôi không
    chịu tụt hậu đâu. Chúng tôi làm như thế này. Chúng tôi tụ họp lại trong sự
    huyên náo như ở đây. Từng người một lần lượt chui đầu qua một cái lỗ và
    chiềng ra một bộ mặt nhăn nhó. Ai có bộ mặt nhăn nhó xấu nhất thì được
    bầu là giáo hoàng, theo sự tán thưởng của mọi người. Đấy mới là trò chơi
    thật thú vị. Các vị có muốn bầu giáo hoàng của chúng ta theo kiểu xứ tôi
    không?


    Gringoire muốn phản đối nhưng sự kinh ngạc, sự bất bình, sự giận dữ làm
    anh tắc họng.

    Mặt khác đề nghị của ông thợ giày được các trưởng giả hoan nghênh nhiệt
    liệt vì họ được phỉnh là hào phú. Mọi sự chống đối đều vô ích.

    Trong nháy mắt, mọi người đã sẵn sàng thực hiện ý kiến của Coppenole.
    Điện thờ nhỏ trước bàn đá hoa cương được chọn làm sân khấu của trò chơi
    nhăn mặt. Miếng kính vỡ ở cái hoa thị phía trên cửa ra vào tạo thành một lỗ
    tròn nơi bức tường đá. Những kẻ tranh tài phải chui đầu qua lỗ tròn ấy.
    Muốn vươn tới đó chỉ cần đứng trên hai thùng tôn-nô chồng lên nhau,
    chẳng biết ở đâu ra. Thể lệ là mỗi ứng viên, bất kể đàn ông hay đàn bà (vì
    người ta có thể bầu cả nữ giáo hoàng) phải nấp trong điện thờ, chùm kín
    mặt cho đến khi xuất hiện, để cho ấn tượng được tinh khôi và trọn vẹn. Chỉ
    một loáng, điện thờ đã đầy những ứng viên. Cửa điện thờ đóng lại..Trò nhăn
    mặt bắt đầu. Cái mặt đầu tiên ló ra ở lỗ tròn, mí mắt lộn ngược, đỏ lòm,
    miệng ngoác ra như cái mõm, trán nhăn như cái bớt ngạo nghễ. Trận cười
    nổ ra không gì ngăn được.

    Bộ mặt thứ hai, thứ ba tiếp theo, rồi cái nữa, cái nữa. Tiếng cười, tiếng giậm
    chân tăng lên.

    Bỗng nhiên một tràng sấm hoan hô nổ tung, xen lẫn những tiếng tung hô dị
    thường. Giáo hoàng của những thằng Điên đã được bầu.

    Tiếng la hét khắp nơi: "Hoan hô! Hoan hô!" Quả thật cái mặt đang nhăn
    nhở ở chỗ hoa thị là một bộ mặt kinh dị. Sau tất cả những bộ mặt biến dạng
    lần lượt hiện ra ở lỗ cửa sổ thì cái mặt kỳ dị này ăn đứt trong cuộc bầu cử.
    Nó làm cho cử tọa choáng váng. Ngay Coppenole cũng vỗ tay hoan nghênh.

    Sự tán thưởng là nhất trí. Người ta lao về phía điện thờ lôi giáo hoàng của
    những thằng Điên ra. Hắn sung sướng, đắc thắng. Sự ngạc nhiên, ngưỡng
    mộ lên đến tột đỉnh. Cái nhăn nhó chính là mặt hắn ta. Có thể nói toàn bộ
    con người hắn là một cái nhăn nhó. Cái đầu to tướng lởm chởm tóc hung,
    giữa hai vai là một cái bướu lớn dúi hắn về phía trước. Cặp đùi và cẳng
    chân lệch vẹo một cách kỳ lạ khiến chúng chỉ có thể chạm nhau ở đầu gối.
    Những bàn chân kềnh càng. Những bàn tay to bè, với tất cả những kỳ hình,
    dị tướng ấy, hắn có một vẻ cường tráng dẻo dai, hung tợn đáng sợ. Có thể
    nói đó là một thằng khổng lồ bị gẫy rời ra, rồi được gắn lại bừa bãi.


    Đó là vị giáo hoàng của những thằng Điên vừa đăng quang.

    - Đó là Quasimodo, người kéo chuông nhà thờ! Quasimodo thằng chột!
    Quasimodo thằng khoèo! Hoan hô! Hoan hô!

    Con quỷ tội nghiệp này có thừa biệt danh để lựa chọn.

    Giữa cảnh hỗn loạn này, Quasimodo đứng u buồn, nghiêm nghị trước điện
    thờ cho mọi người ngắm tứ phía.

    Một giáo đồ tên là Robin Poussepain thì phải, cười vào mũi hắn. Chú này
    đứng gần hắn quá. Quasimodo tóm lấy thắt lưng chú, lẳng qua đầu đám
    đông, xa đến mười bộ.

    Cả đám ăn mày, đám đầy tớ, bọn rạch túi, cùng lũ học trò ào đến lục tìm
    trong tủ hồ sơ lấy ra cái mũ miện bằng giấy bồi, cái áo choàng.tức cười của
    giáo hoàng, của những thằng Điên.

    Quasimodo đứng yên, mặc cho mọi người mặc áo cho mình, không thèm
    nhíu mày, với một sự dễ bảo ngạo nghễ.

    Người ta đặt hắn ngồi lên một chiếc cáng sặc sỡ. Mười hai tên anh chị của
    phường các thằng Điên nâng cáng lên vai. Một thứ niềm vui chua chát và
    khinh thị nở trên bộ mặt rầu rầu của thằng độc nhỡn khi hắn nhìn thấy dưới
    đôi chân dị hình của mình những đầu người đẹp đẽ, thằng đứng, hoàn hảo.
    Đám rước rách rưới, hò la ấy theo thông lệ, đi quanh hành lang của tòa dinh
    thự trước khi diễu ra phố và các ngã tư.

    Quần chúng háo hức đi theo.

    Giữa lúc đó, có những tiếng kêu rộ lên:

    - Esmeralda! Nàng Esmeralda! Nàng Esmeralda kia kìa! Nàng kia kìa!

    - Thế là nghĩa lý gì? Nàng Esmeralda?

    Pierre Gringoire thở dài. Lúc này anh đã thành khán giả duy nhất của vở
    kịch của mình.

    Anh vặn vẹo tay, thất vọng.

    Trong lúc bầu giáo hoàng, Gringoire đã tưởng vở diễn của anh có thể chót
    lọt. Các kịch sĩ bị anh thúc ép, không ngừng đọc lời thoại và anh cũng
    không ngừng lắng nghe họ. Anh đã lợi dụng cảnh ồn ào, quyết định cứ diễn
    đến cùng, hy vọng công chúng sẽ chú ý trở lại.

    Tia hy vọng leo lét ấy nhen lên khi anh thấy giáo hoàng của những thằng
    Điên và đám rước ầm ầm kéo ra khỏi phòng. Khốn thay, đám quần chúng

    ấy lại là công chúng của anh. Trong nháy mắt, gian phòng lớn trống không.

    Đúng là đòn cuối cùng. Gringoire nhận cú đòn một cách nhẫn nại:

    - Quỷ tha ma bắt các anh đi! - Anh gào lên với các diễn viên. - Nếu ta phải
    trả giá thì các anh cũng sẽ phải trả giá..

    Chương 2

    Nàng Esmeralda
    Khi Gringoire đi khỏi Tòa án thì đường phố đã tối sẫm. Anh thích trời tối
    để suy ngẫm về thất bại của vở kịch. Ngoài ra anh không dám về nhà ở phố
    Grenier-sur-l'Eau. Anh đã trông mong vào món tiền cha bề trên thù lao cho
    tác phẩm thơ để trả cho chủ nhà, ông Guillaume Doulx-Sire, sáu tháng tiền
    thuê nhà còn nợ. Suy nghĩ một lát anh nhớ ra là tuần trước anh đã thấy
    trước cửa nhà một nghị sĩ, ở phố Savaterie, một bậc thềm, anh đã tự nhủ:
    khi cần thì bậc đá này sẽ là một cái gối rất tốt cho một gã ăn mày hay một
    nhà thơ. Anh cảm ơn Thượng đế đã ban cho anh ý nghĩ tốt đẹp ấy.

    Anh sắp vượt qua quảng trường của tòa dinh thự để đi vào cái mê lộ khúc
    khuỷu của thành phố thì thấy đám rước giáo hoàng của những thằng Điên đi
    ngang qua đường. Tiếng la hét ầm ĩ, đuốc sáng rực. Cảnh tượng ấy làm nhói
    lên những vết xước trong lòng tự trọng của anh; anh lẩn trốn trong nỗi cay
    đắng vì bi kịch không may. Tất cả những gì gợi lại lễ hội ban ngày làm cho
    anh chua xót và làm rỉ máu vết thương lòng.

    Anh muốn đi qua cầu Saint-Michel, một bọn trẻ con chạy lăng xăng, tay
    cầm pháo sáng.

    Xa hơn, đám đông hò reo, chiêm ngưỡng những lá cờ trên đó họa sĩ Jehan
    Fourbault vẽ chân dung đức vua, thái tử và nhiều nhân vật quan trọng khác.
    Gringoire thở dài:

    - Sung sướng thay họa sĩ Jehan Fourbault! -Anh quay lưng lại những mảnh
    giẻ.

    Một con phố phía trước mặt. Anh thấy nó tối quá, hoang vắng quá. Anh hy

    vọng ở đây sẽ thoát khỏi những âm vang của lễ hội. Anh đi sâu vào con
    phố, ra tận bờ sông. Men theo bức tường lớn của vườn ngự uyển, bước trên
    kè không lát đá, bùn ngập tới mắt cá chân, anh đến đầu phía tây thành phố.
    Anh đứng ngắm một lát hòn đảo nhỏ của người hướng dẫn bò. Trong bóng
    tối, hòn đảo nhỏ trông như một khối đen sì, bên kia là dòng sông hẹp trắng
    nhờ. Nhờ ánh sáng leo lét của một ngọn đèn nhỏ, người ta đoán ra túp lều
    hình tổ ong, nơi đó người hướng dẫn bò nghỉ qua đêm..Gringoire nghĩ:

    - Sung sướng thay người dẫn bò! Anh ta không hề nghĩ đến hư vinh, chuyện
    nhà vua lấy vợ, những nữ quận chúa De Bourgogne thì bận gì đến anh! Anh
    không thèm biết đến nàng Marguerites nào khác ngoài bồn cỏ tháng tư của
    anh, nơi những con bò đang gậm cỏ! Còn ta, một thi sĩ, ta bị hò la, ta run
    rẩy và đế giày của ta thì mòn mỏng, trong veo có thể làm kính cho cái đèn
    của anh. Cám ơn anh hướng dẫn bò! Túp lều của anh làm dịu mắt ta và giúp
    ta quên đi Paris!

    Một tiếng pháo đôi thình lình bật ra từ túp lều hạnh phúc, làm anh tỉnh giấc
    mơ màng. Đó là người hướng dẫn bò góp phần mình vào lễ hội, đốt một cây
    pháo hoa.

    Tiếng pháo làm Gringoire sởn da gà:

    - Lễ hội phải gió! - Anh kêu lên. - Mi theo đuổi ta khắp nơi chăng? Trời ơi!
    Đến tận túp lều của gã hướng dẫn bò!

    Anh nhìn dòng sông Seine dưới chân. Một ý định kinh khủng xâm chiếm
    anh:

    - ôi! Nếu nước không buốt giá thế, thì ta sẵn sàng nhảy xuống sông cho chết
    quách!

    Thế là, một quyết định tuyệt vọng nảy ra:

    Nếu đã không thể thoát khỏi giáo hoàng của những thằng Điên, khỏi những
    mảnh giẻ của Jehan Fourbault, khỏi những quả pháo, thì sao ta không mạnh
    dạn xông thẳng vào giữa lễ hội, đi đến quảng trường Grève.

    - ít ra, biết đâu ta chẳng vớ được một thanh củi của đống lửa liên hoan để
    sưởi, và còn có thể có gì để ăn tối nữa. Người ta đã dựng lên ba cái gia huy
    lớn bằng đường... Biết đâu mình chẳng có dịp kiếm được vài mẩu vụn...?

    Khi Pierre Gringoire đến quảng trường Grève thì anh rét run. Anh đã đi qua
    cầu Pont-aux-Meuniers để tránh cái huyên náo của Pont-au-Change và

    những lá cờ, giẻ rách của Jehan Fourbault, nhưng các bánh xe cối xay của
    đức giám mục đã té bùn vào anh khi đi ngang. Chiếc áo choàng của anh ướt
    sũng. Bởi thế anh vội vàng đến gần đống lửa liên hoan đang cháy rực giữa
    quảng trường. Nhưng một đám rất đông đã vây quanh ngọn lửa. Nhìn gần
    hơn, anh thấy vòng người đông quá, không thể tính chuyện sưởi nhờ lửa
    nhà vua được. Khán giả kéo đến càng lúc càng đông. Họ không chỉ bị thu
    hút bởi những thanh củi cháy.

    Trên một khoảng rộng giữa quần chúng và đống lửa, một cô gái đang
    nhảy..Cô không cao lớn, nhưng trông dường như cao lớn, do thân hình
    mảnh mai cao dong dỏng vươn thẳng của cô. Nước da cô bánh mật. Có thể
    đoán rằng ban ngày nước da ấy có ánh vàng của người †ng-đa-lu và người
    La Mã. Bàn chân nhỏ nhắn cũng rất † ng-đa-lu vì trông chúng gọn gàng,
    thoải mái trong đôi giày xinh xinh. Cô nhảy, cô lượn vòng, cô xoay tít trên
    tấm thảm Ba Tư cũ, trải cẩu thả dưới chân cô. Mỗi khi lượn trước khán giả,
    cô phóng vào họ tia chớp của cặp mắt to đen láy.

    Xung quanh cô, mọi cặp mắt đều chăm chú, mọi cái miệng hé mở, trong lúc
    cô nhảy theo nhịp trống rộn ràng. Đôi tay nâng cao trên đầu, mảnh mai,
    mềm mại, sống động như một con ong bầu. Bộ đồ lót óng ánh vàng. Cái
    váy sặc sỡ phồng lên. Mái tóc huyền. Cặp mắt bừng lửa:

    Cô là một tạo vật siêu nhiên! Gringoire nghĩ: -Đ úng là một nàng tiên!

    Giữa lúc đó, một bím tóc của nàng tiên xổ ra. Một đồng xu đồng vàng chóe
    đính vào tóc cô lăn xuống đất.

    - ‰, không được. Đây là một đứa con gái bô-hê-miêng.

    Mọi ảo tưởng tan biến.

    Cô lại nhảy. Đúng là một cô gái bô-hê-miêng.

    Giữa những bộ mặt đỏ lửa, có một người nhìn cô vũ nữ chăm chú hơn cả.
    Quần áo anh bị đám quần chúng vây quanh che khuất. Có vẻ như anh chưa
    quá ba mươi lăm tuổi, nhưng đã hói. Vài túm tóc lưa thưa, xám, lơ thơ trên
    thái dương. Vầng trán cao rộng hằn những nếp nhăn.

    Con mắt sâu ánh lên những nét trẻ trung lạ thường. Anh không ngừng dán
    mắt vào cô gái, trong lúc cô nhảy nhót điên dại, bay lượn trong niềm hân
    hoan của mọi người. Giấc mơ màng của anh chàng dường như mỗi lúc một
    u tối.


    Người con gái độ mười sáu tuổi, mệt thở dốc ra. Nàng ngừng lại, quần
    chúng hoan hô nhiệt liệt.

    - Djali! - Cô gái bô-hê-miêng gọi.
    Gringoire thấy một con dê nhỏ, lông trắng tiến ra, nhanh nhẹn, linh hoạt,
    bóng láng. Nó có cặp sừng vàng. Cẳng chân vàng. Vòng cổ vàng.

    - Đến lượt mi, Djali. - Cô gái nói.

    Cô ngồi xuống duyên dáng đưa cho con dê cái trống. Cô tiếp lời:

    - Tháng này là tháng mấy trong năm?.Con dê nhấc cẳng đánh một tiếng trên
    mặt trống. Đúng, tháng này là tháng giêng, quần chúng hoan hô.

    Cô gái lại nói:

    - Djali, hôm nay là ngày bao nhiêu trong tháng?

    Djali nâng cẳng chân vàng đánh mười lần trên mặt trống.

    Cô gái tiếp tục trò đánh trống.

    - Djali, bây giờ là mấy giờ?

    Djali đánh bảy tiếng. Đúng lúc đó, đồng hồ của nhà thờ Maison-aux-Piliers
    điểm bảy giờ.

    Quần chúng kinh ngạc, thán phục.

    Một tiếng nói ảm đạm từ đám đông cất lên:

    - Đây là trò phù thủy.

    Đó là tiếng nói của người đàn ông hói đầu, từ nãy không rời mắt khỏi cô gái
    bô-hê-miêng.

    Cô giật thót người, ngoái lại.

    - Trò phạm thánh! Trò ngoại đạo! - Tiếng nói kia lại cất lên.

    Cô gái ngoái lại một lần nữa.
    - A, lại con người xấu xa! - Cô bĩu môi, xoay mình trên gót chân, nâng cái
    trống đi thu lượm tiền thưởng của khán giả.

    Thình lình cô đi ngang Gringoire. Gringoire choáng người, thò tay vào túi.
    Cô gái dừng lại.

    Thi sĩ kêu lên: Quái quỷ! Anh tìm thấy trong đáy túi cái sự thật: túi rỗng
    không.

    Nhưng cô gái xinh đẹp vẫn đứng đó, chờ đợi, mắt mở to, chìa cái trống về
    phía anh.

    Gringoire toát mồ hôi hột. May thay, một sự cố bất ngờ đã cứu anh.


    Một giọng nói gay gắt cất lên từ góc tối nhất của quảng trường.

    - Mi có xéo đi không, con châu chấu Ai Cập kia?

    Cô gái quay lại hốt hoảng. Không phải là tiếng đàn ông mà là tiếng đàn bà.
    Tiếng quát ấy làm cho bọn trẻ lảng vảng quanh đó, khoái chí.

    - Đó là mụ ẩn cư ở tháp Tour-Roland. -Bọn trẻ cười ré. - Không biết mụ ăn
    tối chưa?

    Thừa lúc cô gái bối rối, Gringoire chuồn thẳng. Tiếng hò la của lũ trẻ, nhắc
    anh: Cả anh nữa cũng chưa ăn tối. Đi ngủ mà bụng rỗng thì phiền thật, càng
    chẳng vui tẹo nào khi vừa không ăn tối, vừa không biết ngủ đâu.

    Gringoire đang trong tình cảnh như thế.

    Không có bánh mì, không nơi trú ngụ..Anh đang ngẫm nghĩ về tình cảnh
    đáng buồn của mình thì một giọng hát lạ lùng, rất dịu dàng dứt anh ra khỏi
    nỗi buồn ủ ê. Cô gái trẻ Ai Cập đang hát.

    Trong giọng hát, trong vũ điệu, trong vẻ đẹp của cô có cái gì thật quyến rũ
    đến mê hoặc: trong sáng, thanh thoát, nhẹ lâng.

    Lời hát của cô gái thuộc ngôn ngữ gì, Gringoire không biết. Anh nghe say
    sưa. Từ nhiều giờ nay, đây là những giây phút đầu tiên anh không thấy đau
    khổ. Giây phút thật ngắn ngủi.

    Vẫn cái giọng đàn bà đã làm gián đoạn điệu nhảy, cắt đứt tiếng hát của cô
    gái:

    - Mày có câm đi không, con ve sầu của địa ngục kia!

    "Con ve sầu" tội nghiệp ngừng bặt.

    - ôi, cái cưa mẻ kia đã làm rối loạn tiếng hát êm dịu! - Nhiều khán giả khác
    chửi rủa.

    - Quỷ tha ma bắt mụ già đi!

    Mụ ta có thể sẽ phải hối hận vì đã chống lại cô gái, nếu lúc đó quần chúng
    không bị sao lãng bởi đám rước giáo hoàng của những thằng Điên, đuốc bật
    hồng, đổ vào quảng trường Grève, sau khi đã diễu qua vô số phố và ngã tư.

    Đám rước xuất phát từ Tòa án, dọc đường mộ thêm những kẻ lang thang,
    những tên ăn cướp, những tên ma-cà-bông vô công rồi nghề, trông thật kỳ
    lạ.

    Giữa đám rước, những tên anh chị của phường những thằng Điên khiêng
    một cái cáng cắm đầy nến. Trên cáng chễm chệ vị giáo hoàng mới của

    những thằng Điên, gã kéo chuông của nhà thờ Đức Bà, thằng gù
    Quasimodo, lấm bê bết, đầu đội mũ lễ, khoác áo choàng.

    Khó mà diễn tả nổi bộ mặt xấu gớm ghiếc của Quasimodo đang nở nang,
    kiêu hãnh như thế nào. Lần đầu tiên trong đời hắn được hưởng cảm giác tự
    trọng. Cho đến nay hắn toàn bị thiên hạ xem thường vì thân phận của hắn,
    ghê tởm vì người ngợm của hắn. Bởi vậy dù điếc đặc hắn vẫn thưởng thức
    tiếng hoan hô của đám quần chúng hắn thù ghét. Dù thần dân của hắn có là
    một lũ bát nháo những thằng điên, những kẻ cắp, những tên ăn mày thì đã
    sao. Chúng vẫn cứ là thần dân và hắn là chúa tể. Hắn coi là nghiêm chỉnh
    những tiếng hoan hô chế giễu, những sự cung kính vô giá trị, pha chút sợ
    hãi đối với tên gù khỏe như vâm..Người ta kinh ngạc, sợ hãi thấy từ đám
    đông vọt ra một người, giận dữ kéo tay hắn, giằng lấy cây gậy gỗ thiếp
    vàng, biểu tượng quyền lực giáo hoàng điên rồ của hắn.

    Người ấy chính là nhân vật hói trán. ông ta mặc quần áo thầy tu. Khi ông
    mới từ đám đông nhảy ra, thoạt đầu người ta không chú ý nhưng rồi mọi
    người nhận ra.

    - Kìa! Đó là thầy Dom Claude Frollo, phó giám mục. ông định làm gì thằng
    chột thế này?

    Nó sẽ xé xác ông ra.

    Tiếng kêu kinh hoàng dội lên. Tên Quasimodo ghê gớm nhảy từ trên cáng
    xuống. Các bà quay mặt đi để khỏi trông thấy cảnh hắn xé xác phó giám
    mục. Hắn nhảy bổ đến chỗ linh mục quỳ gối xuống. Linh mục giật cái áo
    choàng của hắn ra, bẻ gẫy cây gậy, xé tan cái áo của hắn.

    Quasimodo vẫn quỳ gối, cúi đầu, chắp tay.

    Giữa hai người diễn ra một cuộc đối thoại kỳ lạ bằng dấu hiệu và điệu bộ vì
    chẳng ai nói năng gì. Linh mục đứng thẳng, giận dữ, vẻ dọa nạt. Quasimodo
    quỳ mọp khúm núm, vẻ van xin.

    Thế mà chỉ bằng một ngón tay trỏ là hắn có thể bóp bẹp ông linh mục.

    Cuối cùng, phó giám mục lay mạnh đôi vai lực lưỡng của Quasimodo, ra
    hiệu cho hắn đứng lên, đi theo ông.

    Cơn bàng hoàng ban đầu qua đi. Lũ điên định bảo vệ vị giáo hoàng thình
    lình bị truất ngôi của chúng.

    Quasimodo đứng trước linh mục, nghiến răng kèn kẹt, gườm gườm nhìn

    đám đông vây quanh, như một con hổ giận dữ.

    Linh mục lấy lại vẻ oai nghiêm, ra hiệu cho Quasimodo, và lặng lẽ lui gót.

    Quasimodo đi trước ông, gạt đám đông dãn ra.

    Sau khi hai người vượt qua quảng trường, bọn hiếu kỳ vô công rồi nghề
    định đi theo.

    Quasimodo liền đi đoạn hậu, đi giật lùi theo phó giám mục. Trông hắn béo
    mập, hung hăng, sừng sộ, gầm ghè như một con thú dữ. Mọi người để cho
    họ đi sâu vào một con phố hẹp, tối om.

    Không ai dám liều theo.

    Gringoire lẩm bẩm:

    - Thật là đáng khâm phục... Nhưng ta tìm đâu ra chỗ ăn tối bây giờ?.

    Chương 3

    Cái hũ vỡ
    Gringoire mò mẫm theo cô gái bô-hê-miêng.

    Anh đã thấy nàng và con dê đi vào phố Coutellerie. Anh cũng đi vào phố
    Coutellerie.

    Anh đi sau cô gái, vừa đi vừa suy nghĩ. Cô gái rảo bước thêm khi thấy các
    thị dân về nhà, cái quán rượu duy nhất mở cửa hôm nay đã đóng cửa. Phố
    xá mỗi lúc một tối đen và vắng vẻ.

    Lệnh tắt lửa đã ban ra từ lâu, chỉ còn một vài bộ hành hiếm hoi. Gringoire
    đi theo cô gái Ai Cập vào cái mớ rối rắm gồm các phố nhỏ, các ngã tư, các
    ngõ cụt vây quanh nghĩa trang cũ Saints-Innocents.

    Anh đã làm cho cô gái để ý từ nãy. Nhiều lần cô quay lại nhìn anh, băn
    khoăn. Một lần cô đứng dừng lại, nhìn anh chằm chằm qua ánh sáng hắt ra
    từ một hiệu bánh hé mở. Gringoire thấy cô bĩu môi.
    Anh theo cô xa xa. Đến khúc ngoặt của con phố, cô mất hút. Anh bỗng
    nghe tiếng cô kêu chói lói.

    Anh bước gấp.


    Phố đầy bóng tối. Một chiếc đèn dầu con ở góc phố giúp anh nhận ra cô gái
    đang giãy giụa trong tay hai gã đang tìm cách bịt miệng cô. Con dê khiếp
    hãi, kêu be be.

    Gringoire la lên:

    - Cứu chúng tôi với, các ông đội tuần tra ơi!

    Anh can đảm tiến lên.

    Một trong hai người tóm giữ cô gái quay lại:

    đó là bộ mặt gớm guốc của Quasimodo.

    Gringoire không chạy trốn nhưng cũng không tiến thêm bước nào.
    Quasimodo bước lại phía anh. Bằng một cái hất tay trái hắn làm anh ngã
    chổng vó trên mặt đường, rồi hắn lẩn vào bóng tối, mang theo cô gái sõng
    sượt trên cánh tay hắn như một mảnh khăn choàng. Gã đồng bọn theo hắn,
    con dê tội nghiệp chạy theo miệng kêu thảm thiết.

    - Họ giết người! Họ giết người! - Cô gái kêu.

    - Đứng lại! Quân khốn nạn! Thả người phụ nữ ra!.Giọng nói của một kỵ sĩ
    vang lên. Người này, thình lình vọt tới từ một ngã tư bên cạnh.

    Đó là đại úy của quân cung thủ thuộc đội bảo vệ nhà vua, vũ trang từ đầu
    đến chân, kiếm lăm lăm trong tay.

    Ông giằng cô gái bô-hê-miêng từ tay Quasimodo, đặt ngang trên yên ngựa.
    Khi thằng gù dữ tợn qua được cơn sửng sốt lao theo ông ta để giật lại miếng
    mồi của gã thì mười lăm hay mười sáu cung thủ, theo sát đại úy của mình,
    xuất hiện, vũ khí trong tay.

    Quasimodo bị bắt, bị trói gô lại. Hắn gầm lên, sùi bọt mép. Hắn cắn. Nếu là
    ban ngày ban mặt thì chỉ bộ mặt hắn thôi, bộ mặt càng thêm dữ tợn vì giận
    dữ, cũng đủ làm cho tốp lính phải bỏ chạy. Đêm đen đã tước mất cái vũ khí
    đáng sợ nhất: vẻ xấu xí của hắn.

    Thừa lúc đánh nhau, tên đồng bọn chuồn mất.

    Cô gái bô-hê-miêng duyên dáng vươn thẳng trên yên của người sĩ quan. Cô
    chăm chú nhìn ông mấy giây, dường như thích thú vì vẻ điển trai của ông,
    và vì ông vừa kịp thời cứu cô. Rồi phá tan sự im lặng cô nói với ông, giọng
    hết sức dịu dàng:

    - Xin ông cho biết quý danh, thưa ông cảnh vệ?

    Viên sĩ quan cũng nhỏm lên, trả lời:


    - Đại úy Phoebus de Châteaupers, thưa cô.

    Đại úy Phoebus vuốt ria kiểu dân Buốc-gông.

    Cô gái tụt xuống ngựa chạy trốn. Một tia chớp cũng không nhanh bằng.

    Gringoire bị choáng vì cái ngã, đứng trơ ra trên mặt đường. Dần dần cảm
    quan của anh hồi phục rất nhanh. Anh cảm thấy rét cóng. Anh vừa ngã vào
    vũng nước.

    Anh làu bàu trong miệng:

    - Thằng quỷ gù!
    Anh đứng dậy, bước tiếp. Được một lát, anh thấy một ánh lửa đỏ quạch
    trong cùng một con phố hẹp, dài hun hút.

    - Cảm ơn Chúa! Kia là ngọn lửa ấm ta đang cần để sưởi và sấy khô quần áo.

    Con phố dài, thoai thoải, không được lát.

    Mỗi lúc thêm lầy lội. Anh vừa đi được mấy bước thì nhận thấy một cái gì
    rất lạ. Phố không vắng vẻ.

    Trên suốt chiều dài của nó, đó đây có những đám.lờ mờ, không rõ hình
    dạng đang tiến đến ánh lửa đầu phố.

    Gringoire tiến lên tiếp, chẳng mấy chốc anh đã theo kịp những con ma, con
    nọ đi theo con kia. Càng đến gần chàng càng thấy rõ một tên què cụt khốn
    khổ đang nhảy chồm chồm bằng bàn tay. Anh đi qua, bắt kịp một trong
    những cái bóng di động và ngắm kỹ. Đó là một tên bại liệt, vừa què, vừa
    cụt; què cụt đến nỗi bộ dạng phức tạp của hắn trông như một dàn giáo biết
    đi.

    Anh muốn bước rảo, nhưng lần thứ ba, có cái gì đó ngáng đường. Cái gì đó,
    đúng hơn là ai đó, là một gã mù, một gã mù bé nhỏ đang bơi xung quanh
    hắn bằng một cái gậy, kéo theo một con chó to tướng.

    Gringoire đi tiếp. Gã mù cũng rảo bước theo anh. Rồi tên bại liệt, tên què
    cụt cũng hấp tấp bám theo anh, tiếng thìa, tiếng nạng khua ầm ĩ trên đường
    phố.

    Gringoire chạy. Lũ chúng cũng chạy. Anh vừa dấn vào phố thì những tên
    què, cụt, mù, thọt đã nhung nhúc vây quanh. Có những thằng cụt tay, chột
    mắt, những thằng hủi máu mủ đầy mình, từ những phố kề bên, những tầng
    hầm, những hầm nhà, loạc choạc bước thấp bước cao đổ về phía ánh sáng,
    miệng rú lên, rống lên, kêu the thé, dầm trong bùn như những con sên sau

    mưa.

    Gringoire hoảng hốt đi giữa đám ấy, luôn luôn có ba tên hành hung kèm sát.
    Anh muốn lộn lại. Trễ quá rồi, vòng vây khép kín và ba tên ăn mày giữ chặt
    lấy anh. Đành phải đi tiếp, bị làn sóng không thể cưỡng lại kia đun đẩy. Sự
    sợ hãi và cơn chóng mặt khiến anh có cảm tưởng như đang trải qua một
    giấc mê kinh khủng.

    Cuối cùng, anh đến đầu phố. Con phố này đổ ra một quảng trường rộng
    mênh mông. ở đây rải rác có hàng ngàn ngọn lửa chập chờn trong đêm.
    Gringoire lao vào quảng trường, hy vọng thoát thân, nhờ vào tốc độ của đôi
    chân so với ba bóng ma tật nguyền bám theo anh. Thình lình tên bại liệt
    ném đôi nạng đi, chạy bén gót anh, như chưa bao giờ gã in dấu nạng trên
    đường phố Paris. Tên què cụt đứng thẳng trên đôi chân. Tên mù chiếu thẳng
    vào mắt anh cặp mắt nảy lửa.

    - Tôi ở đâu thế này? - Nhà thơ kinh hoảng hỏi.

    Bóng ma thứ tư đeo sát anh trả lời:

    - ở tòa án của những kỳ quặc..Gringoire nhìn quanh. Đúng, anh đang ở cái
    Tòa án của những kỳ quặc, đáng sợ. Nơi, vào giờ này, không một sĩ quan,
    một quân cảnh nào lạc vào đây mà không bị nghiền nát.

    Đó là một quảng trường rộng, mấp mô, lát cẩu thả như tất cả các quảng
    trường Paris thời đó.

    Những ngọn lửa lập lòe đó đây. Xung quanh lúc nhúc những hình thù kỳ
    quái. Tất cả đi đi, lại lại, hò la. Có những tiếng cười lanh lảnh, tiếng khóc
    trẻ con, tiếng đàn bà.

    Gringoire bị ba tên ăn mày nắm chặt như ba gọng kìm, càng lúc càng sợ.
    Anh bị đinh tai nhức óc vì cái đám đông đang sủa quanh anh. Anh tự hỏi:
    Mình rơi xuống địa ngục chăng?

    Giữa lúc đó, một tiếng la nổi lên:

    - Dẫn nó đến đức vua! Dẫn nó đến đức vua!

    Gringoire lẩm bẩm:

    - Đức Mẹ ơi! Có vua ở đây à? Chắc phải là một con quỷ.

    - Dẫn đến đức vua! Dẫn đến đức vua! - Quần chúng đồng thanh. Chúng lôi
    anh đi, như có ai cắm ngập móng vào mình.

    Ba tên ăn mày không chịu buông ra, giằng lại anh từ tay những tên khác:

    - Nó thuộc về chúng tao.

    Cái áo chẽn đã mủn của nhà thơ thế là đi đời trong cuộc giành giật.

    Đi được mấy bước anh dần dần ý thức được tình hình thực tế nơi đó. Nhìn
    nhận sự vật m...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không chỉ là kho tàng kiến thức mà còn là phép màu kỳ diệu với tâm hồn mỗi người

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTNT THCS AYUN PA - GIA LAI !