Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Lịch sử xã hội Việt Nam tập 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:48' 07-04-2024
Dung lượng: 663.8 KB
Số lượt tải: 10
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:48' 07-04-2024
Dung lượng: 663.8 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tên sách : LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM – TẬP I
Tác giả : HOÀNG THÚC-TRÂM
Nhà xuất bản : THẾ-GIỚI
Năm xuất bản : 1950
-----------------------Nguồn sách : Quán Ven Đường ndclnh-mytho-usa.org
Đánh máy : dinhty
Kiểm tra chính tả : Trương Đình Tý, Văn Bình,
Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
Biên tập chữ Hán – Nôm : Trần Tú Linh
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 29/06/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả HOÀNG THÚC-TRÂM và nhà xuất bản THẾ-GIỚI
đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
TỰA
PHÀM LỆ
ĐẠO-LUẬN
I. ĐỊA-LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI VIỆT-NAM THẾ NÀO ?
1) Có óc sáng chế
a) Đời Lý (1010-1225) đã có binh pháp để cho nhà Tống
phỏng theo
b) Đời Hồ (1400-1407) đã biết chế súng thần cơ rồi sau
người Minh lượm dùng
c) Từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, người Việt đã trội
ngón du kích
d) Từ năm 1237, ta đã có sáng kiến lăn tay vào chúc thư,
văn khế
2) Có tinh thần độc lập
a) Tự đặt ra thể lục bát là thứ văn vần thuần túy Việt-nam
b) Việt hóa được những tiếng ngoại lai
II. GỐC TÍCH DÂN TỘC VIỆT-NAM RA SAO ?
III. TRUYỀN THUYẾT VỀ HỒNG-BÀNG THỊ
IV. SUY ĐOÁN VỀ BA CHỮ « HỒNG BÀNG THỊ » 鴻龐氏
a) Lấy mẫu-hệ làm trung tâm
b) Thực hành chế độ của chung
c) Thực hành chế độ quần hôn, tức lối kết hôn huyết tộc
d) Thờ tô-tem
V. SUY ĐOÁN VỀ ÂU CƠ
https://thuviensach.vn
VI. SUY ĐOÁN VỀ LẠC-LONG-QUÂN
VII. HÙNG VƯƠNG HAY LẠC VƯƠNG ?
1) Quan-niệm tôn quân của nhà nho
2) Hai tiếng « Hùng vương » đã quen dùng trong dân gian
3) Theo tâm lý chung, ai cũng thích chữ tên có nghĩa đẹp hơn
nghĩa xấu
VIII. SUY ĐOÁN VỀ TRUYỆN PHÙ-ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
IX. SUY ĐOÁN VỀ VIỆC THỦY-TINH DÂNG NƯỚC, SƠN-TINH
LÊN NÚI
1) Xăm mình để tự vệ
2) Lên miền núi cao để tránh lụt
X. CHIA THỜI KỲ LỊCH SỬ VIỆT-NAM
TUNG HỆ : I. Thời kỳ tiền sử = Xã hội thị tộc
TUNG HỆ : II.Thời kỳ phong kiến manh nha
TUNG HỆ : III. Thời kỳ phong kiến trưởng thành
TUNG HỆ : IV. Thời kỳ toàn dân kháng Minh
TUNG HỆ : V. Thời kỳ kinh tế nông nghiệp bành trướng
TUNG HỆ : VI. Thời kỳ kinh tế nông nghiệp trong nước bắt đầu
đụng chạm với kinh tế tư bản ngoại lai
TUNG HỆ : VII. Bán phong kiến và tiền tư bản
SÁCH BÁO THAM KHẢO (Tập I)
https://thuviensach.vn
HOÀNG THÚC-TRÂM
LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM
TẬP I
THẾ-GIỚI
HANOI
1950
Tác giả giữ bản quyền
https://thuviensach.vn
CÙNG MỘT TÁC GIẢ
ĐÃ IN :
- Tư tưởng đại đồng trong cổ học Trung-hoa
- Quốc văn đời Tây-sơn
- Trần Hưng-đạo
- Lịch-sử xã-hội Việt-nam, tập I
ĐANG IN :
- Nhà thơ cách-mệnh Hồ Xuân-Hương
- Hán-Việt tân danh-từ từ-điển (tập trên)
SẼ IN :
- Quang-trung (tái bản)
- Lê-Lợi
- Hán-Việt tân danh-từ từ-điển (tập dưới, trọn bộ)
- Lịch-sử xã-hội Việt-nam, tập II
https://thuviensach.vn
TỰA
Bấy lâu, đối với lịch-sử Việt-nam, tôi thường chủ trương : nên khảo
dần từng thời kỳ một. Khi nào tài liệu đầy đủ, đại thể phác xong, bấy giờ
mới bắt tay viết hẳn toàn bộ ; nếu một người không viết kịp thì nhiều người
khác sẽ viết thay, thế hệ này không làm xong thì thế hệ sau sẽ làm trọn.
Vì sao ? Vì công việc làm sử ở Việt-nam khác với ở nhiều nước khác.
Ở họ, có đủ điều kiện thuận tiện, sử liệu sẵn sàng, sử gia chỉ cần lặt lượm
tài liệu, ghi chép tinh tường với một phương pháp thật vững chắc : thế là
một người có thể viết được một bộ sử thật đầy đủ.
Còn ở Việt-nam, chỉ nội mấy việc tìm tòi sử liệu, lựa chọn sử liệu, phê
phán sử liệu, cũng đủ tốn bao công phu, hao bao thì giờ rồi. Thêm nỗi
những triều đại bị xóa nhòa dấu-tích, như nhà Hồ (1400-1407), nhà Mạc
(1527-1592) và nhất là nhà Tây-sơn (1778-1802), lại càng phải dụng công
lắm mới kê cứu được đôi chút ngạnh khái. Hơn nữa, những hồi loạn lạc
1
2
3
4
như cuối Trần , cuối Lê , cuối Tây-sơn , cuối Tự-đức lại chính là những
đoạn sử tối quan trọng càng phải khảo kỹ hơn.
Vả, lịch-sử bây giờ đã thành một khoa học, mà là một khoa học tất yếu
và rất hệ trọng của người đời. Nó dính-líu mật-thiết với các khoa học khác
như khảo cổ học, địa chất học, địa lý học, nhân loại học, nhân chủng học,
xã hội học, chính trị học, pháp luật học, kinh tế học, ngữ học, văn học, mỹ
học…
Tài liệu làm sử, ngoài những sách xưa, sử cũ, báo chí cổ kim, công
văn, tư khế, còn phải cần đến đồ đào được, chữ cổ, bia cổ, tiền cổ, kiến
trúc vật và hết thảy những cái có liên quan đến cuộc sinh hoạt chung, tiến
hóa chung của một xã hội.
Vậy bấy nhiêu công việc ấy, đòi hỏi ở một người thì biết làm sao ?
Phương chi, hiện nay, khói lửa còn mịt mờ, máu xương đang lênhláng, đường giao thông chưa thuận tiện, cuộc bang giao chưa thiết lập
https://thuviensach.vn
được xong tất cả, tóm lại, hoàn cảnh và điều kiện đều chưa đầy đủ và dễ
dàng, phỏng ai dám nói, trong lúc này, có thể viết được bộ sử Việt-nam thật
hoàn thiện ?
Nghĩ vậy, trước giờ tôi vẫn theo đuổi con đường đã vạch : viết dần
từng thời đại, hoặc từng nhân vật hay từng sự kiện lịch-sử, mong góp chút
tài liệu vào kho sử học chung, chứ chưa dám nghĩ đến việc trọng đại và khó
khăn là khởi thảo cả một bộ sử.
Nhưng, thời cục đã biến chuyển dồn dập và nhanh chóng. Từ ngày 18
tháng chạp năm 1946 đến giờ, cuộc binh-cách đã thiêu hủy và tàn phá biết
bao sử sách của ta, khiến cho tư gia cũng như trường học, chỗ nào cũng
thấy thiếu sách, nhất là về loại sử học Việt-nam. Vì thế, nhiều bạn thúc đẩy
tôi ráng viết lấy một bộ sử Việt-nam để tạm ứng phó cho sự nhu cầu hiện
tại. Cũng vì thế, tôi mới đánh bạo vừa viết vừa cho bản cảo ra dần từng tập
để chất chính cùng các bậc cao minh trong nước và hải ngoại.
Nhan là LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM, kẻ viết có ý nhấn mạnh rằng
bộ sử này chú trọng vào quá-trình diễn tiến của cả dân tộc, vào quan hệ
sinh sản của toàn thể dân chúng, cốt ghi cái gì là quốc kế, là dân sinh, là
tổng động lực đã quay chuyển bộ máy tiến hóa chung của cả một xã hội…
Bộ sử này nếu không phải riêng của các triều đại, riêng của thiểu số
5
anh hùng , riêng của phái thống trị, phe chiến thắng, và nếu may ra đạt
được mục đích là lấy dân chúng làm trung tâm, đánh dấu được đôi chút
tính chất xã hội và lịch trình tiến hóa của Việt-nam thì đó là nhờ ở sự hỗ
trợ của toàn thể xã hội.
Về phần tác giả, chỉ thành thực mong rằng chút ít sử liệu trình bày
trong bộ LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM này nếu hân hạnh được trực tiếp
hoặc gián tiếp giúp một phần nào vào công cuộc của những ai sau đây
đứng làm một pho sử Việt-nam với phương pháp hoàn toàn khoa học hơn
và với quan điểm tiền tiến mới mẻ hơn thì thật là một khuyến khích lớn cho
kẻ viết.
https://thuviensach.vn
Giờ làm việc đã điểm. Trước hết hãy xin ra mắt các bạn độc giả tập I,
phần Đạo luận, tức là phần mở đầu khái luận về một vài vấn đề lịch sử
quan trọng. Rồi từ tập II trở đi mới bắt đầu vào dần chính sử.
HOÀNG THÚC-TRÂM
Rằm tháng năm, Canh-dần
(29 tháng sáu, 1950)
https://thuviensach.vn
PHÀM LỆ
1) Tài liệu dùng tham khảo để viết được tập nào sẽ liệt kê ở cuối tập
ấy. Ngoài sử, sách, báo, chí, phàm các tài liệu như tranh ảnh, chữ cổ, bia cổ,
tiền cổ, v.v… xuất xứ từ đâu cũng đều nói rõ.
Đối với tên các sử sách dùng làm tài liệu, thường chỉ gọi tắt sơ qua,
như Đại Việt sử ký toàn thư thì viết là Toàn thư, Khâm định Việt sử
thông giám cương mục thì viết là Cương mục, Ngự chế Việt sử tổng
vịnh thì viết là Vịnh sử… Có khi lại tùy chỗ quan trọng mà viết đủ cả từng
chữ tên nguyên thư, chứ không làm như nhiều tác giả khác thường viết tắt
như phù hiệu công thức. Đó có ý cốt giúp độc giả xem đâu rõ đấy, không
cần mỗi mỗi lại phải nhớ lại hoặc phải xem lại hàng mớ tên sách đã nêu ở «
bảng viết tắt ». Ta nên nhớ rằng bộ sử không phải là một sách toán học
hoặc hóa học.
2) Sử liệu của ta xưa, ngoài một số ít được in mộc bản, phần nhiều tản
mác ở trong các sách chép tay, nên không khỏi có sự xê xích ít nhiều. Khi
dùng một sử liệu nào, tác giả thường phải thận trọng : đối chiếu nhiều bản
để so sánh kê cứu. Ví dụ, một bài « Bình Ngô đại cáo » của Nguyễn-Trãi
(1380-1442) có in và chép ở nhiều sách như : Việt sử thật lục, Hoàng Việt
văn tuyển, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (bản chép ở sử
Cương mục này lược nhiều), Ức trai di tập, Đại Việt thông sử (bộ này ở
trường Đông phương Bác cổ có đến ba bản viết tay) và Việt nam sử lược,
v.v… Sở dĩ phải làm như vậy, là tỏ ra rằng, khi giới thiệu một áng văn lịchsử như bài « Bình Ngô đại cáo » kia, tác giả không giám khinh suất.
3) Nhiều sử sách ta xưa tuy cùng một pho mà có mang tên khác nhau.
Đan cử như bộ sử Toàn thư, in mộc bản, sách trường Bác cổ, số A3 này :
- Từ quyển 1 đến quyển 7, giòng đầu đề là « Đại Việt sử ký bản kỷ
toàn thư », giòng chữ nhỏ ở mép tờ đề là « Đại Việt sử ký toàn thư » ;
https://thuviensach.vn
- Từ quyển 8 đến quyển 9, giòng đầu : « Đại Việt sử ký bản kỷ toàn
thư », giòng mép tờ : « Việt sử bản kỷ » ;
- Từ quyển 10 đến quyển 14, giòng đầu : « Đại Việt sử ký bản kỷ
thật lục », giòng mép tờ : « Việt sử thật lục »
-…
- Vậy nay xin cứ chọn mà gọi cái nhan nào cần thiết và nêu được đặc
trưng của nó, như gọi Thông sử thay cho Đại Việt thông sử hoặc Hoàng
triều thông sử ; Toàn thư thay cho Việt sử bản kỷ và Việt sử thật lục…
Nhưng trong bảng liệt kê tên sách tham khảo, sẽ chua rõ ở trong hai dấu
ngoặc đơn.
Các bài bia lịch sử, xin cứ gọi theo ngữ pháp Việt-nam cho dễ hiểu,
như « Lam-sơn Vĩnh-lăng thần đạo bi ký » thì gọi là bài « Bia Vĩnh-lăng ở
Lam-sơn »…
4) Đối với các địa điểm lịch sử, tác giả xin cố gắng thận trọng. Chẳng
hạn như núi Chí-linh (đừng lẫn với Chí-linh ở Hải-dương) là chỗ, hồi tháng
hai năm nhâm dần (1422), Bình-định vương Lê Lợi đã từng cạn lương : sử
Cương mục chua là « ở mường Giao-lão, nay thuộc địa phận phủ Trấnđịnh tỉnh Nghệ-an ». Nhưng thực ra không phải. Nay xin kê cứu lại mà
chua rõ là thuộc châu Lang-chánh, phủ Thọ-xuân, tỉnh Thanh-hóa.
Còn những địa điểm nào biết rõ là có tên nôm mà sử sách xưa chép ra
tên chữ Hán thì nay xin cứ chép tên Việt-nam cho dễ nhận biết, nhưng
không quên chua thêm rằng sử cũ chép tên Hán văn là gì để bạn đọc tiện tra
cứu. Lệ như cầu Ba-la là chỗ tướng Lý Triện, hồi kháng Minh, đã đại thắng
tướng giặc Minh là Mã Kỳ (năm bính-ngọ, 1426), sử cũ chép là « Tam la »,
thì nay xin nói là Ba-la và chú thích thêm rằng ở gần Bông-đỏ trên con
đường đi từ tỉnh-lỵ Hà-đông đến phủ-lỵ Thanh-oai.
5) Về tên người, tên đất, sử sách xưa chép toàn bằng Hán-văn. Đến khi
có sách báo quốc ngữ, người ta mới phải làm việc phiên âm những nhân
danh địa danh ấy. Nhưng vì Hán văn có chữ có từ hai âm trở lên, hoặc có
chữ tự dạng gần giống chữ khác, nên mới có nạn dễ lầm ! Nay xin cố gắng
https://thuviensach.vn
đính chính, chẳng hạn như « Lưu Nhân-Chú » là một nhân-vật có công lớn
trong cuộc kháng Minh, chỉ vì chữ « Chú » có âm nữa là « Thụ », nên sách
báo quốc văn hoặc gọi là « Chú » hoặc chép là « Thụ ». Nay căn cứ vào âm
chua ở Việt-sử thật lục trong bộ Toàn thư (quyển 10, tờ 30b), là sử làm ở
đời Lê, chắc đã biết rõ được tên viên danh tướng ấy hơn ai hết, mà chép là
Nhân Chú.
« Tốt-động », tục gọi làng Dét, thuộc tổng Mỹ-lương, huyện Chươngmỹ, tỉnh Hà-đông ngày nay, là một trận địa mà giặc Minh đã từng bỏ xác
đầy đồng, chỉ vì tự dạng hơi giống chữ « Tụy » 萃, nên có nhiều sách báo
quốc văn thường chép là « Tụy động ». Nay xin căn cứ vào mặt chữ (sơn
trên, tốt dưới 崒) và tên gọi đương thông dụng ở dân sở tại mà chép là «
Tốt-động ».
Tựu trung còn có những trường hợp khó xử là tên một người bằng chữ
nho mà có đến mấy âm khác nhau như tên vua Tiền Lý Nam đế (544-548),
Hán văn viết « hủy trên, bối dưới » 賁, mà một chữ ấy có đến sáu âm :
a) âm bí (sáng sủa),
b) âm phần (lớn lao),
c) âm bôn (hùng dũng),
d) âm phẫn (tức giận),
đ) âm phấn (chiến bại, đổ bể),
e) âm Phì (tên riêng một họ).
Nay vì không biết rõ tên vua Tiền Lý đương thời gọi là gì, xin loại bỏ
những âm có nghĩa không đẹp ra, rồi căn cứ vào âm đã chua ở một vài bản
sử chữ Hán mà phiên là « Bôn », nhưng lại chua thêm ở bên rằng « hoặc
Phần, hoặc Bí » cho được thận trọng.
Theo chung nguyên tắc ấy, đối với các nhân danh địa danh khác cũng
vậy.
6) Ngày trước vì kiêng tên húy các vua chúa các triều đại, nhất là tên
trong hoàng gia đương triều mà xưa gọi là « quốc húy », có nhiều chữ buộc
phải đọc trại ra âm khác, như « tông » đọc « tôn », « thì » đọc « thời », «
https://thuviensach.vn
nhậm » đọc « nhiệm », « hồng » đọc « hường », « chủng » đọc « chưởng »,
« thật » đọc « thực » hoặc « thiệt » v.v… Nay cần tìm sự thực và phải chính
danh, nên đối với tên người, tên đất, xin cứ phát âm cho thật đúng, chứ
không theo lối xưa tị húy tức là trại tên. Ví dụ :
- Lý Nhân-Tông, chứ không Lý Nhân-Tôn ;
- Ngô Thì Nhậm, chứ không Ngô Thời Nhiệm…
Dẫu vậy, lệ này chỉ áp dụng vào những tiếng tên riêng cho chính cái
danh, đúng cái thực thôi. Còn các tiếng tên chung vì lâu ngày đã thông
dụng rồi, có thể cho liệt vào lệ ngoại. Vả, đó lại thuộc công việc của nhà
ngữ học, không phải lĩnh vực của nhà viết sử.
7) Các sử sách khắc in dưới triều Cựu Nguyễn, có nhiều chữ nho vì tị
húy mà phải tỉnh hoạch, tức là bớt nét, như « chiêu » 昭, bớt bỏ « nhật bên
» mà khắc là « triệu » 召, « nhậm » 任, bớt bỏ « nhân đứng bên » mà khắc
là « nhâm » 壬, « thì » 時, bớt bỏ « nhật treo bên » mà khắc là « tự » 寺… ;
6
có khi lại đổi hẳn cả chữ, như « Hằng » 恆, đổi là « thường » 常
…
Nay theo chung cái lệ trên, xin cứ chép cho đúng tên đúng chữ. Ví dụ :
- Lê Chiêu-thống, chứ không Lê Triệu-thống,
- Nhậm Diên, chứ không Nhâm Diên,
- Thì Nhậm, chứ không Tự Nhâm,
- Lý Hằng, chứ không Lý Thường,
-…
Ngoài ra, hễ thấy tên một nhân vật lịch sử nào đích danh là có chữ
đệm mà sử cũ vì kiêng húy, đã tự tiện bỏ đi, thì nay xin cứ theo đúng sự
thực mà trả lại chữ đệm cho tên người ấy, như : Ngô Sĩ, cứ chép là Ngô Thì
Sĩ, v.v…
8) Trong sử sách chữ Pháp có nhiều tên người, tên đất Việt-nam, hoặc
không đánh dấu hay viết trật chữ quốc ngữ, hoặc nhớ sai mà chép lầm, như
7
Chí-hòa chép là Kỳ-hòa … Nay xin cố gắng kê cứu, càng sửa được đúng
chừng nào càng hay chừng ấy.
https://thuviensach.vn
9) Đối với các vua chúa xưa, khi chưa lên ngôi hoặc chưa xưng
vương, xưng đế, xin cứ chép thẳng tên. Khi đang trị vì mà chưa chết, đáng
lẽ thì lấy niên hiệu làm tiếng tôn xưng, nhưng ngặt vì có nhiều vua như
mấy vua nhà Lý (1010-1225) thường đặt rất nhiều niên hiệu, nên không
tiện đối với một vua mà lúc gọi là vua Thiên-thành, lúc gọi là vua Thông8
thụy, lúc lại gọi là vua Kiền-phù-hữu-đạo v.v…
Vậy nay xin theo cái lệ chung là hễ ai đã làm vua thì cứ gọi theo miếu
hiệu, như Lý Nhân-tông, Lê Thái-tổ, v.v… Còn ai không có miếu hiệu thì
9
gọi theo niên hiệu hoặc tên thật. Đến như hai chữ « đại hành » hoặc « đại
10
hạnh » là tiếng ở đời quân chủ xưa dùng để gọi chung bất cứ một vị
hoàng đế nào khi mới mất mà chưa kịp đặt tên thụy hay miếu hiệu. Vậy nay
đối với Lê Hoàn, xin chép thẳng tên, vì vua này chưa có miếu hiệu mà niên
11
hiệu thì có những ba.
Ngoài ra, khi chép về sáng kiến của một cá nhân hay oai hùng của một
thủ đoạn thì có thể dùng cái tên gọi rất phổ thông khiến cho mọi người dễ
biết, như nói việc làm giấy bạc của Hồ Quý-Ly, trận Đống-đa đại thắng của
Quang-Trung… Đó là lệ ngoại.
10) Theo chế độ phong kiến xưa, cái chết của mọi người trong xã-hội
cũng có giai cấp, chẳng hạn : vua chúa chết thì chép là « băng » 崩 hay «
thăng hà » 升遐 hay « thượng thiên » 上天 tức là « chầu trời », thứ dân thì
chép là « tử » 死, tức là chết.
Nay bất cứ đối với ai, cũng đều chép là « chết », hoặc « mất », hoặc «
qua đời », chỉ trừ những trường hợp đặc biệt này :
a) dịch theo nguyên văn một bài bia hoặc một bài văn lịch-sử.
b) thuật theo giọng nói của một người đương thời.
11) Về tên gọi các triều đại, các sử chữ Hán xưa, khi nào gọi là Tiền,
Hậu để cho phân biệt, thì căn cứ vào sự liên quan của dòng họ, như gọi Lý
Bôn (hoặc Bí, hoặc Phần) là Tiền Lý (544-548), Phật-Tử là Hậu Lý (571602), hai vua Hưng-khánh và Trùng-quang là Hậu Trần (1407-1413), từ Lê
https://thuviensach.vn
Thái-tổ đến Lê Cung-hoàng là Tiền Lê (1428-1527), còn Lê trung-hưng là
Hậu Lê (1592-1789).
Gần nay, nhiều sử sách quốc văn lại chia triều Lê thuộc họ Lê Hoàn là
Tiền Lê (980-1009), triều Lê từ Thái-tổ đến Cung-hoàng là Hậu Lê (14281527), còn Lê từ Trang-tông đến Mẫn-đế là Lê trung-hưng (1592-1789).
Đó là theo lối chia của mấy sử gia Pháp.
Nay xin phân biệt thế này để nêu cái đặc trưng của mấy triều đại sau
đây :
- Lê Quang-phục, là Lê từ Thái-tổ đến Cung-hoàng.
- Lê Trung-hưng là Lê từ Trang-tông đến Mẫn-đế.
- Cựu Nguyễn, là nhà Nguyễn từ năm Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận,
12
Quảng đến năm tôn hoàng Bảo-đại thoái vị (1945).
- Tân Nguyễn là nhà Nguyễn Tây-sơn (1778-1802).
Còn các triều đại khác thì cứ theo tên cũ mà các sử chữ Hán đã gọi,
như Lý Bôn vẫn là Tiền Lý, Phật-Tử vẫn là Hậu Lý, còn Lê thuộc họ Lê
Hoàn vẫn đứng riêng một triều Lê, Lý thuộc họ Lý Thái-tổ vẫn đứng riêng
một triều Lý…
12) Các sử xưa thường hay phân biệt chính thống và ngụy triều ; đó vì
quan niệm người xưa nghiêm định cái phận vua tôi và đứng chủ quan theo
từng triều đại. Nay ta chỉ thừa nhận những sử sự đã có và những người đã
đóng vai lãnh đạo, thì không kể ai là chính thống hay ai là tiếm ngụy cả.
Vậy khi chép về nhà Hồ, nhà Mạc hay nhà Tây-sơn, bộ sử này cũng
liệt họ làm một triều đại và xưng hô theo lệ đã định ở điều thứ 9 trên.
13) Những bia cổ dùng làm tài liệu cho bộ sử này là căn cứ vào các
bản do trường Đông phương Bác cổ đã rập được hoặc đã in trên Tùng san
hay trên tờ Dân Việt-nam của trường Bác cổ. Nếu họa hoằn có sự xê xích
ít chữ hay khác hẳn cả bài là do người sở tại hoặc thấy bia mòn mà tự tiện
đục lại, hoặc khắc bài mới lên nền bia cũ. Đó là một chuyện vượt hẳn ra
ngoài phạm vi kiểm điểm của chúng tôi.
https://thuviensach.vn
14) Bộ sử này, ở những phần trước hồi Pháp thuộc đều chép theo ngày
tháng ta, nhưng chua thêm Công nguyên, tức là kỷ nguyên Thiên chúa, cho
tiện so sánh. Đó vì một là muốn chứng tỏ rằng những sử sự đã chép đều
phù hợp với các sử biên niên của ta xưa như Đại Việt sử ký, Đại Việt sử
ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục… ;
hai là
muốn giữ cái dân tộc tính, có nhiều ngày lịch sử đã được biểu hiện ở tục
ngữ ca dao như :
« Hăm mốt Lê Lai hăm hai Lê Lợi »
13
và : « Nào ai buôn đâu bán đâu ?
14
15
« Mồng mười tháng tám, trọi trâu thì về ».
Đến hồi Pháp thuộc, có nhiều sử sự liên quan mật thiết với Pháp là
một nước đã chính thức dùng Công nguyên trong sử sách và công văn. Vì
vậy, trong hồi ấy xin dùng ngày tháng dương lịch cho tiện đối chiếu với sự
ghi chép trong giấy tờ, sách, báo ở đương thời và nhân đó, chứng tỏ rằng
tính chất xã hội Việt-nam bắt đầu biến đổi từ đấy.
Còn khi chép giờ lịch-sử, vì muốn ghi lấy màu sắc thời đại, thì :
Thời xưa, dùng giờ can chi, nhưng không quên chua là giờ nào ngày
này cho dễ nhận biết, như chép về giờ sinh của Lê Lợi :
Lê Lợi sinh giờ tí (khoảng 23-1 giờ) ngày mồng 6 tháng tám, năm ất
sửu (1385).
Hồi Nhật chiếm đóng thì chép theo giờ đương thời mà người ta gọi là
16
« giờ Đờ-cu » . Giờ ấy chậm kém giờ Nhật một giờ, nhanh hơn giờ Việtnam một giờ. Như chép về việc Nhật đảo chính Pháp :
Hồi 8 giờ tối mồng 9 tháng ba 1945, súng Nhật bắt đầu nổ…
Đến khi Việt-nam độc-lập thì dùng giờ Việt-nam để tỏ giờ lịch-sử đã
điểm, cùng tai mắt quốc dân cùng đổi mới.
15) Hồi Pháp thuộc, có nhiều danh từ chính trị, hành chính hoặc tư
pháp, ban đầu do chưa tìm được tiếng thỏa đáng mà tạm bợ dịch liều,
https://thuviensach.vn
nhưng dùng lâu thành quen, phổ thông khắp cả dân chúng, hầu như là «
danh từ lịch-sử » cả rồi. Vậy nay xin cứ mượn dùng cho dễ hiểu, như :
- Gouverneur général đáng phải dịch là tổng đốc mà xưa dịch là « toàn
quyền » ;
- Résident đáng phải dịch là trú sứ mà xưa dịch là « công sứ » ;
- Tòa thị chính xưa gọi là tòa đốc lý ;
- Tổng bí thư của viên tổng đốc Trung-Ấn xưa gọi là phó toàn quyền ;
- Trung-Ấn xưa dịch là Đông-dương ;
-…
Sở dĩ bộ sử này cứ chép những danh từ đã quen dùng ấy là chỉ cốt ghi
lấy dấu vết lịch sử, chứ không đi sang vấn đề tinh nghĩa tiếng Việt.
16) Trong hồi Pháp thuộc, có nhiều tên người, tên đất ngoại quốc nhất
là chữ Pháp, nhiều sử quốc văn trước giờ vẫn thường để nguyên. Nay xét
như vậy chẳng những tỏ ra không Việt hóa được các tiếng ngoại lai, mà còn
làm trở lực cho những ai không đọc được vần tiếng ngoại quốc nữa. Vậy
nay, khi gặp những nhân danh địa danh ngoại quốc, xin cứ phiên âm ra
tiếng Việt, nhưng không quên chua cả nguyên danh ở bên cho tiện kê cứu.
17) Bộ sử này chép từ thời kỳ tiền sử đến ngày tôn hoàng Bảo-đại
thoái vị (25-8-1945). Sở dĩ đặt giới hạn ở đây là có ý nêu rõ cái mốc : con
đường lịch-sử Việt-nam đến đó sẽ rẽ sang một khúc ngoặt khác.
18) Bộ sử này xin chia các thời kỳ lịch-sử Việt-nam thế này :
a)
Tung hệ : Căn cứ vào quá trình tiến hóa của xã-hội Việt-nam, tức là
một « đường dọc » (tung hệ) kể từ khi dân tộc Việt-nam dùng đồ đá đến khi
dùng đồ sắt, từ kinh-tế ngư liệp, kinh-tế súc mục qua kinh-kế nông nghiệp
đến kinh-tế tư-bản, từ chế-độ tù trưởng qua chế-độ quân chủ đến hình thành
chế-độ dân chủ.
b)
Hoành hệ : Căn cứ vào các sự cố trong xã-hội và các vai làm việc
lãnh-đạo, nêu lên những biến chuyển đã xảy trên đường lịch-sử, rồi đánh
https://thuviensach.vn
dấu lấy từng quãng thời gian và những khúc ngoặt lịch-sử ấy, khiến nhân
một « đường ngang » (hoành hệ) đó, ta có thể nhận được sợi dây diễn tiến
suốt cả một bộ lịch-sử Việt-nam từ xưa đến giờ. (Xin coi tiết « chia thời kỳ
lịch-sử Việt-nam » ở cuối).
Tác giả
cẩn chi
https://thuviensach.vn
ĐẠO-LUẬN
https://thuviensach.vn
I. ĐỊA-LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI VIỆTNAM THẾ NÀO ?
Ở vào Đông-nam Á, Việt-nam là một bán đảo giữa biển Đông
vịnh Tiêm-la.
17
và
Bắc-bộ thì xòe ra như hình rải quạt ; Trung-bộ thì eo hẹp lại mà chạy
18
dài : một bên là biển, một bên là dãy Trường-sơn ; Nam-bộ thì lại phình
rộng. Cho nên người ta ví hình thế ấy như « chữ S », hoặc « vòi voi », hoặc
« một đòn gánh hai thúng thóc ».
19
Diện-tích toàn quốc được độ 327.500 cây số vuông . Từ cửa Namquan đến mỏm Cà-mâu dài 1.650 cây số.
Thế đất : Miền cao thì trùng trập những núi non choán đến già bốn
20
phần năm đất . Miền thấp thì một dải bình-nguyên viền bằng bờ biển, lồi
21
ra lõm vào, dài hàng hơn 2.000 cây số.
Núi non ở Việt-nam thuộc về sơn hệ Quảng-tây và Vân-nam. Ở miền
bắc, những dãy núi từ tây bắc sang đông nam, hoặc từ đông bắc sang tây
nam, chẳng những bàn-cứ ở Bắc-Việt, mà lại ăn cả sang Thượng Lào nữa.
Giữa mấy dải núi ấy, có những thung lũng cấu thành cao-nguyên và bình22
nguyên. Chảy theo những thung lũng đó, có sông Hồng-hà và sông Cửu23
24
long phát nguyên từ Tây-tạng . Ở miền tây-bắc, có những ngọn núi cao
25
hàng hơn hai, ba nghìn công xích . Càng về miền đông, thì cao-độ càng
dần dần giảm bớt.
Dãy Trường-sơn chạy từ Thượng-Lào xuống Trung-Việt, tức chạy dọc
từ bắc xuống nam, phân chia địa giới Lào và Việt, có ngọn cao đến hơn
2.000 công xích. Dải núi này đến Trung-bộ thì chia đôi : mạch đông chạy ra
biển, nổi lên những ngọn bích lập ; mạch tây thì thoai thoải xuống, kéo đến
lưu vực sông Cửu-long.
https://thuviensach.vn
Ở phía tây Trường-sơn, bát ngát một dải bình nguyên, có sông Cửulong chạy từ bắc xuống nam, cấu thành miền trung châu mầu mỡ. Miền
trung-châu ở triền sông Cửu-long này cũng như trung-châu ở Bắc-bộ, rất
thấp, nên đến mùa nước to, thường xảy ra ngập lụt. Ở Nam-bộ, những vùng
trũng thấp như Đồng-tháp-mười và Cà-mâu, quanh năm thường đọng nước.
Những sông nước ở Việt-nam có thể chia làm hai hệ chính : Ở Bắc có
sông Hồng-hà và sông Thái-bình ; ở Nam, có sông Cửu-long và sông
Đồng-nai. Giữa những hệ-sông ấy, còn có nhiều sông chảy từ Trường-sơn
ra biển Đông.
Hằng năm, những tháng cuối năm và đầu năm, ít mưa, nước sông rút
thấp ; nhưng đến mùa mưa, nhất là từ khoảng tháng sáu, tháng bảy dương
lịch, nước sông lên to, hay sinh ngập lụt. Vả lại, hầu hết các sông đều chảy
qua miền rừng núi, lòng sông thường có thác, có ghềnh, và nước sông
thường cuốn theo cát sỏi, phù sa, dần dần bồi lấp cửa sông, nên nạn lụt vẫn
là mối lo lớn cho dân chúng. Vì thế, từ đời Lý Nhân-tông (1072-1127), hồi
26
tháng hai, năm mậu-tí (1108), đã phải đắp đê Cơ-sá để giữ nước sông
khỏi tràn vào kinh-đô Thăng-long, và đời Trần Thái-tông (1225-1258), hồi
tháng ba, năm mậu-thân (1244), lại phải đắp đê « Quai vạc » (Đỉnh nhĩ đê)
27
từ đầu nguồn đến bờ biển.
Nằm bên biển Đông có những hải-phận hoặc sâu tới 5.000 (như ở phía
đông-bắc), hoặc hơn 1.000 (như dải duyên hải Trung-bộ) hoặc 3.000 côngxích (như dải giữa mũi Ba-đa-răng (Padaran) và mũi Va-ren-la (Varella),
khắp miền duyên hải Việt-nam gồ ghề, lắm đá, đều có chỗ chân chìa ra biển
sâu ngót 50 công-xích.
Ở trung-châu, các duyên hải đều thấp và phẳng ; hoặc có những bãi
phù-sa do nhiều sông bồi nên, hoặc có những cồn cát cao đến vài côngxích.
Trong phía bắc vịnh Bắc-bộ, bờ biển được nhiều hòn đảo ngoài khơi
che chắn, dùng làm hải-cảng rất tốt và sự hàng-hành cũng rất tiện lợi. Ở
https://thuviensach.vn
Trung-bộ, trừ vũng Cam-ranh có thể làm quân cảng, còn phần nhiều cũng
như vịnh Xiêm đều rất nguy hiểm vì có gió dữ.
Việt-nam ở vào nhiệt đới bắc bán cầu, vì ảnh hưởng gió mùa, nên khí
hậu nóng và ẩm thấp.
Nam-bộ ở gần xích-đạo hơn : trong một năm, thường nóng nhiều và
thời tiết ít thay đổi. Ở Sài-gòn, ôn độ trung bình là 27°6 ; khoảng tháng
chạp dương lịch là tháng lạnh hơn hết, thường thường là 25 độ ; đến tháng
tư dương lịch, là tháng nóng hơn hết, ôn độ lên đến 30°.
Dần dần càng ra bắc, càng xa xích-đạo, thì khí hậu càng đổi khác : ở
Thuận-hóa, khoảng tháng hai dương lịch, ôn độ xuống gần 20° ; tháng sáu,
lên tới hơn 30°. Ở Hà-nội, ôn độ trung bình là 23°9 ; nhưng đến tháng hai
dương lịch, lạnh tới 16°, tháng bảy nóng tới 30°.
Như vậy, toàn quốc tỏ ra không phân biệt rõ rệt xuân, hạ, thu, đông.
Cho nên tiếng rằng gọi có bốn mùa, mà kỳ thực chỉ có hai mùa là mùa
mưa và mùa khô.
Đó là vì ảnh hưởng của gió mùa, mà Việt-nam là một xứ ở trong « khu
gió mùa », tức là khu từ Ấn-độ đến Nhật-bản, khí hậu do hai yếu tố ở đất và
ở biển tiếp xúc nhau mà gây thành.
Khoảng tháng mười đến tháng ba dương lịch, là mùa gió mùa thổi từ
28
đông-bắc sang tây-nam . Bấy giờ khí áp ở miền bắc đất liền châu Á mạnh
hơn khí áp ở Ấn-độ dương, nên gió lạnh và khô ở trong lục địa thổi ra
ngoài biển.
Trong vụ « gió mùa đông » hoặc « gió bấc » này, ở vùng trung châu
Bắc-bộ chính là lúc rét lắm (khoảng tháng một, tháng chạp dương lịch), tiết
trời khô, hanh và ít mưa.
Khoảng tháng tư đến tháng chín dương lịch là mùa gió mùa thổi từ
29
đông-nam sang tây-bắc . Bấy giờ khí áp ở biển mạnh hơn ở lục địa, nên
gió ẩm thổi từ ngoài biển vào trong đất liền, rồi kết thành mưa vì bị các
https://thuviensach.vn
30
ngọn núi cao ngăn cản. Bởi thế, dưới ảnh hưởng của « gió mùa hè » hoặc
« gió nồm » này, ở Bắc-bộ và duyên hải Trung-bộ hay mưa rào, mưa lũ.
Những khi thay đổi gió mùa, thường hay có bão to hoặc bão rớt. Ở
Bắc, từ khoảng tháng sáu đến tháng chín dương lịch ; ở miền duyên hải
Trung-bộ, từ tháng chín đến tháng một dương lịch : chính là những mùa
hay có nạn bão phá hủy nhà cửa, tàn hại mùa màng và đánh chìm thuyền
mành… Còn ở Nam-bộ thì ít bão.
31
Câu thơ chữ Hán rằng : « Tứ thời giai hữu hạ »
, có thể chỉ chung
32
tiết hậu trong toàn cõi Việt-nam ; mà câu « Nhất vũ tiện thành đông »
có
lẽ chỉ nên riêng chỉ Trung, Bắc-bộ.
*
Trên đây đã xét qua phương-diện địa-lý, ta thấy rằng Việt-nam ở vào
xứ nóng, nhiều lam chướng, thủy thổ không được lành mấy. Miền rừng núi
thường có bệnh sốt rét rừng, miền đồng trũng và những cùng nhiều đầm,
ao, bãi lầy thường có chứng sốt rét ngã nước. Tựu trung chỉ có dải bờ biển
và các ngọn núi cao thì khí hậu tốt hơn cả.
Trước những tương quan về điều kiện địa-lý như thế, người Việt đã
chịu ảnh hưởng rất sâu xa, cả thể chất lẫn tinh thần.
Việt-nam là giống người sọ tròn, mà đầu đàn bà thường bé kém đầu
đàn ông. Theo các nhà nhân loại học đã trắc nghiệm, thì não bộ người Việtnam (kể hạng thành nhân) nặng nhất là 1.600g, nhẹ nhất là 1.250g, đổ đồng
trung bình là 1.409g3.
Tầm người thấp bé : trung bình đàn ông vào 1th595, đàn bà khoảng
1th53.
Xét đại thể, ta nhận thấy : người Việt-nam chân tay nhỏ mà ngắn, mặt
xương xương mà hơi dẹt, hai gò má hơi cao, mắt đen mà hơi xếch, mũi hơi
tẹt, môi hơi dày, tóc đen, dài mà mượt, râu cứng mà thưa thưa, nước da hơi
ngăm ngăm hoặc hơi ngà ngà, vì thuộc giống da vàng ở Đông-nam Á. Dáng
đi : phụ nữ thì mềm mại yêu kiều, đàn ông thì nhẹ nhàng chắc chắn.
https://thuviensach.vn
Về tiếng nói, trước đây, nhiều nhà ngữ-học Âu-tây vẫn cho rằng tiếng
Việt là tiếng đơn âm, nhưng hiện nay người ta đang xét lại xem có phải
đúng thế hay là một thứ tiếng phức âm, vì ngoài nhiều tiếng đơn âm, Việt
ngữ còn có những tiếng kép hai, kép ba, kép bốn như nồng-nỗng, hớ-hênh,
sạch-sành-sanh, lòng-thà-lòng-thòng, cầu-bơ-cầu-bất, lủng-cà-lủng33
củng…
Có điều ai ai cũng phải thừa nhận là : suốt từ Bắc vào Nam, tiếng nói
đều thống nhất, mặc dầu giọng nói có tùy từng địa phương mà nặng, nhẹ,
thanh, trọc hơi khác.
Về phần tinh thần của người Việt-nam, nhiều sử gia đã chép :
« …Nói năng biết điều, ít tình dục, thấy người phương xa phiêu lưu
34
35
đến nước mình thì thường săn sóc thăm hỏi. Người vùng Giao Ái thì lỗi
36
37
lạc, ngang tàng, có mưu trí ; người miền Hoan Diễn thì thuần phác, tuấn
tú, ham học… thích tắm sông, quen thạo đò-giang, giỏi bơi lội… » (Lê Tắc,
An-nam chí lược, quyển 1, tờ 11a).
« Tính người nhanh nhẹn, táo bạo, cho giàu là hùng, bắt kẻ nghèo yếu
38
lệ thuộc phục dịch… » (Cao Hùng-Trưng, An-nam chí nguyên , quyển 1,
tr.4).
« …Người Việt-nam đại khái thông minh… Sức ký ức thì phát đạt
lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý.
Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là
thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động. Não
tưởng tượng thường bị não thực tiễn hòa hoãn bớt, cho nên dân tộc Việtnam ít người mộng tưởng, mà phán đoán có vẻ thiết thực lắm. Sức làm việc
khó nhọc, nhất là người ở miền Bắc, thì ít dân tộc bì kịp. Cảm giác hơi
chậm chạp, song giỏi chịu đau đớn cực khổ và hay nhẫn nhục… Thường
thì… chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cũng biết hy sinh vì đại nghĩa… »
(Đào-duy-Anh, Việt-nam văn hóa sử cương, trang 16).
« Đàn bà Việt-nam hay làm lụng và đảm đang, khéo chân, khéo tay,
làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều
https://thuviensach.vn
chồng nuôi con, thường giữ được cái đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần,
kiệm. » (Trần trọng-Kim, Việt-nam sử lược trang 18)....
Tên sách : LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM – TẬP I
Tác giả : HOÀNG THÚC-TRÂM
Nhà xuất bản : THẾ-GIỚI
Năm xuất bản : 1950
-----------------------Nguồn sách : Quán Ven Đường ndclnh-mytho-usa.org
Đánh máy : dinhty
Kiểm tra chính tả : Trương Đình Tý, Văn Bình,
Nguyễn Mỹ Quỳnh Dao
Biên tập chữ Hán – Nôm : Trần Tú Linh
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 29/06/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả HOÀNG THÚC-TRÂM và nhà xuất bản THẾ-GIỚI
đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
TỰA
PHÀM LỆ
ĐẠO-LUẬN
I. ĐỊA-LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI VIỆT-NAM THẾ NÀO ?
1) Có óc sáng chế
a) Đời Lý (1010-1225) đã có binh pháp để cho nhà Tống
phỏng theo
b) Đời Hồ (1400-1407) đã biết chế súng thần cơ rồi sau
người Minh lượm dùng
c) Từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, người Việt đã trội
ngón du kích
d) Từ năm 1237, ta đã có sáng kiến lăn tay vào chúc thư,
văn khế
2) Có tinh thần độc lập
a) Tự đặt ra thể lục bát là thứ văn vần thuần túy Việt-nam
b) Việt hóa được những tiếng ngoại lai
II. GỐC TÍCH DÂN TỘC VIỆT-NAM RA SAO ?
III. TRUYỀN THUYẾT VỀ HỒNG-BÀNG THỊ
IV. SUY ĐOÁN VỀ BA CHỮ « HỒNG BÀNG THỊ » 鴻龐氏
a) Lấy mẫu-hệ làm trung tâm
b) Thực hành chế độ của chung
c) Thực hành chế độ quần hôn, tức lối kết hôn huyết tộc
d) Thờ tô-tem
V. SUY ĐOÁN VỀ ÂU CƠ
https://thuviensach.vn
VI. SUY ĐOÁN VỀ LẠC-LONG-QUÂN
VII. HÙNG VƯƠNG HAY LẠC VƯƠNG ?
1) Quan-niệm tôn quân của nhà nho
2) Hai tiếng « Hùng vương » đã quen dùng trong dân gian
3) Theo tâm lý chung, ai cũng thích chữ tên có nghĩa đẹp hơn
nghĩa xấu
VIII. SUY ĐOÁN VỀ TRUYỆN PHÙ-ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
IX. SUY ĐOÁN VỀ VIỆC THỦY-TINH DÂNG NƯỚC, SƠN-TINH
LÊN NÚI
1) Xăm mình để tự vệ
2) Lên miền núi cao để tránh lụt
X. CHIA THỜI KỲ LỊCH SỬ VIỆT-NAM
TUNG HỆ : I. Thời kỳ tiền sử = Xã hội thị tộc
TUNG HỆ : II.Thời kỳ phong kiến manh nha
TUNG HỆ : III. Thời kỳ phong kiến trưởng thành
TUNG HỆ : IV. Thời kỳ toàn dân kháng Minh
TUNG HỆ : V. Thời kỳ kinh tế nông nghiệp bành trướng
TUNG HỆ : VI. Thời kỳ kinh tế nông nghiệp trong nước bắt đầu
đụng chạm với kinh tế tư bản ngoại lai
TUNG HỆ : VII. Bán phong kiến và tiền tư bản
SÁCH BÁO THAM KHẢO (Tập I)
https://thuviensach.vn
HOÀNG THÚC-TRÂM
LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM
TẬP I
THẾ-GIỚI
HANOI
1950
Tác giả giữ bản quyền
https://thuviensach.vn
CÙNG MỘT TÁC GIẢ
ĐÃ IN :
- Tư tưởng đại đồng trong cổ học Trung-hoa
- Quốc văn đời Tây-sơn
- Trần Hưng-đạo
- Lịch-sử xã-hội Việt-nam, tập I
ĐANG IN :
- Nhà thơ cách-mệnh Hồ Xuân-Hương
- Hán-Việt tân danh-từ từ-điển (tập trên)
SẼ IN :
- Quang-trung (tái bản)
- Lê-Lợi
- Hán-Việt tân danh-từ từ-điển (tập dưới, trọn bộ)
- Lịch-sử xã-hội Việt-nam, tập II
https://thuviensach.vn
TỰA
Bấy lâu, đối với lịch-sử Việt-nam, tôi thường chủ trương : nên khảo
dần từng thời kỳ một. Khi nào tài liệu đầy đủ, đại thể phác xong, bấy giờ
mới bắt tay viết hẳn toàn bộ ; nếu một người không viết kịp thì nhiều người
khác sẽ viết thay, thế hệ này không làm xong thì thế hệ sau sẽ làm trọn.
Vì sao ? Vì công việc làm sử ở Việt-nam khác với ở nhiều nước khác.
Ở họ, có đủ điều kiện thuận tiện, sử liệu sẵn sàng, sử gia chỉ cần lặt lượm
tài liệu, ghi chép tinh tường với một phương pháp thật vững chắc : thế là
một người có thể viết được một bộ sử thật đầy đủ.
Còn ở Việt-nam, chỉ nội mấy việc tìm tòi sử liệu, lựa chọn sử liệu, phê
phán sử liệu, cũng đủ tốn bao công phu, hao bao thì giờ rồi. Thêm nỗi
những triều đại bị xóa nhòa dấu-tích, như nhà Hồ (1400-1407), nhà Mạc
(1527-1592) và nhất là nhà Tây-sơn (1778-1802), lại càng phải dụng công
lắm mới kê cứu được đôi chút ngạnh khái. Hơn nữa, những hồi loạn lạc
1
2
3
4
như cuối Trần , cuối Lê , cuối Tây-sơn , cuối Tự-đức lại chính là những
đoạn sử tối quan trọng càng phải khảo kỹ hơn.
Vả, lịch-sử bây giờ đã thành một khoa học, mà là một khoa học tất yếu
và rất hệ trọng của người đời. Nó dính-líu mật-thiết với các khoa học khác
như khảo cổ học, địa chất học, địa lý học, nhân loại học, nhân chủng học,
xã hội học, chính trị học, pháp luật học, kinh tế học, ngữ học, văn học, mỹ
học…
Tài liệu làm sử, ngoài những sách xưa, sử cũ, báo chí cổ kim, công
văn, tư khế, còn phải cần đến đồ đào được, chữ cổ, bia cổ, tiền cổ, kiến
trúc vật và hết thảy những cái có liên quan đến cuộc sinh hoạt chung, tiến
hóa chung của một xã hội.
Vậy bấy nhiêu công việc ấy, đòi hỏi ở một người thì biết làm sao ?
Phương chi, hiện nay, khói lửa còn mịt mờ, máu xương đang lênhláng, đường giao thông chưa thuận tiện, cuộc bang giao chưa thiết lập
https://thuviensach.vn
được xong tất cả, tóm lại, hoàn cảnh và điều kiện đều chưa đầy đủ và dễ
dàng, phỏng ai dám nói, trong lúc này, có thể viết được bộ sử Việt-nam thật
hoàn thiện ?
Nghĩ vậy, trước giờ tôi vẫn theo đuổi con đường đã vạch : viết dần
từng thời đại, hoặc từng nhân vật hay từng sự kiện lịch-sử, mong góp chút
tài liệu vào kho sử học chung, chứ chưa dám nghĩ đến việc trọng đại và khó
khăn là khởi thảo cả một bộ sử.
Nhưng, thời cục đã biến chuyển dồn dập và nhanh chóng. Từ ngày 18
tháng chạp năm 1946 đến giờ, cuộc binh-cách đã thiêu hủy và tàn phá biết
bao sử sách của ta, khiến cho tư gia cũng như trường học, chỗ nào cũng
thấy thiếu sách, nhất là về loại sử học Việt-nam. Vì thế, nhiều bạn thúc đẩy
tôi ráng viết lấy một bộ sử Việt-nam để tạm ứng phó cho sự nhu cầu hiện
tại. Cũng vì thế, tôi mới đánh bạo vừa viết vừa cho bản cảo ra dần từng tập
để chất chính cùng các bậc cao minh trong nước và hải ngoại.
Nhan là LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM, kẻ viết có ý nhấn mạnh rằng
bộ sử này chú trọng vào quá-trình diễn tiến của cả dân tộc, vào quan hệ
sinh sản của toàn thể dân chúng, cốt ghi cái gì là quốc kế, là dân sinh, là
tổng động lực đã quay chuyển bộ máy tiến hóa chung của cả một xã hội…
Bộ sử này nếu không phải riêng của các triều đại, riêng của thiểu số
5
anh hùng , riêng của phái thống trị, phe chiến thắng, và nếu may ra đạt
được mục đích là lấy dân chúng làm trung tâm, đánh dấu được đôi chút
tính chất xã hội và lịch trình tiến hóa của Việt-nam thì đó là nhờ ở sự hỗ
trợ của toàn thể xã hội.
Về phần tác giả, chỉ thành thực mong rằng chút ít sử liệu trình bày
trong bộ LỊCH-SỬ XÃ-HỘI VIỆT-NAM này nếu hân hạnh được trực tiếp
hoặc gián tiếp giúp một phần nào vào công cuộc của những ai sau đây
đứng làm một pho sử Việt-nam với phương pháp hoàn toàn khoa học hơn
và với quan điểm tiền tiến mới mẻ hơn thì thật là một khuyến khích lớn cho
kẻ viết.
https://thuviensach.vn
Giờ làm việc đã điểm. Trước hết hãy xin ra mắt các bạn độc giả tập I,
phần Đạo luận, tức là phần mở đầu khái luận về một vài vấn đề lịch sử
quan trọng. Rồi từ tập II trở đi mới bắt đầu vào dần chính sử.
HOÀNG THÚC-TRÂM
Rằm tháng năm, Canh-dần
(29 tháng sáu, 1950)
https://thuviensach.vn
PHÀM LỆ
1) Tài liệu dùng tham khảo để viết được tập nào sẽ liệt kê ở cuối tập
ấy. Ngoài sử, sách, báo, chí, phàm các tài liệu như tranh ảnh, chữ cổ, bia cổ,
tiền cổ, v.v… xuất xứ từ đâu cũng đều nói rõ.
Đối với tên các sử sách dùng làm tài liệu, thường chỉ gọi tắt sơ qua,
như Đại Việt sử ký toàn thư thì viết là Toàn thư, Khâm định Việt sử
thông giám cương mục thì viết là Cương mục, Ngự chế Việt sử tổng
vịnh thì viết là Vịnh sử… Có khi lại tùy chỗ quan trọng mà viết đủ cả từng
chữ tên nguyên thư, chứ không làm như nhiều tác giả khác thường viết tắt
như phù hiệu công thức. Đó có ý cốt giúp độc giả xem đâu rõ đấy, không
cần mỗi mỗi lại phải nhớ lại hoặc phải xem lại hàng mớ tên sách đã nêu ở «
bảng viết tắt ». Ta nên nhớ rằng bộ sử không phải là một sách toán học
hoặc hóa học.
2) Sử liệu của ta xưa, ngoài một số ít được in mộc bản, phần nhiều tản
mác ở trong các sách chép tay, nên không khỏi có sự xê xích ít nhiều. Khi
dùng một sử liệu nào, tác giả thường phải thận trọng : đối chiếu nhiều bản
để so sánh kê cứu. Ví dụ, một bài « Bình Ngô đại cáo » của Nguyễn-Trãi
(1380-1442) có in và chép ở nhiều sách như : Việt sử thật lục, Hoàng Việt
văn tuyển, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (bản chép ở sử
Cương mục này lược nhiều), Ức trai di tập, Đại Việt thông sử (bộ này ở
trường Đông phương Bác cổ có đến ba bản viết tay) và Việt nam sử lược,
v.v… Sở dĩ phải làm như vậy, là tỏ ra rằng, khi giới thiệu một áng văn lịchsử như bài « Bình Ngô đại cáo » kia, tác giả không giám khinh suất.
3) Nhiều sử sách ta xưa tuy cùng một pho mà có mang tên khác nhau.
Đan cử như bộ sử Toàn thư, in mộc bản, sách trường Bác cổ, số A3 này :
- Từ quyển 1 đến quyển 7, giòng đầu đề là « Đại Việt sử ký bản kỷ
toàn thư », giòng chữ nhỏ ở mép tờ đề là « Đại Việt sử ký toàn thư » ;
https://thuviensach.vn
- Từ quyển 8 đến quyển 9, giòng đầu : « Đại Việt sử ký bản kỷ toàn
thư », giòng mép tờ : « Việt sử bản kỷ » ;
- Từ quyển 10 đến quyển 14, giòng đầu : « Đại Việt sử ký bản kỷ
thật lục », giòng mép tờ : « Việt sử thật lục »
-…
- Vậy nay xin cứ chọn mà gọi cái nhan nào cần thiết và nêu được đặc
trưng của nó, như gọi Thông sử thay cho Đại Việt thông sử hoặc Hoàng
triều thông sử ; Toàn thư thay cho Việt sử bản kỷ và Việt sử thật lục…
Nhưng trong bảng liệt kê tên sách tham khảo, sẽ chua rõ ở trong hai dấu
ngoặc đơn.
Các bài bia lịch sử, xin cứ gọi theo ngữ pháp Việt-nam cho dễ hiểu,
như « Lam-sơn Vĩnh-lăng thần đạo bi ký » thì gọi là bài « Bia Vĩnh-lăng ở
Lam-sơn »…
4) Đối với các địa điểm lịch sử, tác giả xin cố gắng thận trọng. Chẳng
hạn như núi Chí-linh (đừng lẫn với Chí-linh ở Hải-dương) là chỗ, hồi tháng
hai năm nhâm dần (1422), Bình-định vương Lê Lợi đã từng cạn lương : sử
Cương mục chua là « ở mường Giao-lão, nay thuộc địa phận phủ Trấnđịnh tỉnh Nghệ-an ». Nhưng thực ra không phải. Nay xin kê cứu lại mà
chua rõ là thuộc châu Lang-chánh, phủ Thọ-xuân, tỉnh Thanh-hóa.
Còn những địa điểm nào biết rõ là có tên nôm mà sử sách xưa chép ra
tên chữ Hán thì nay xin cứ chép tên Việt-nam cho dễ nhận biết, nhưng
không quên chua thêm rằng sử cũ chép tên Hán văn là gì để bạn đọc tiện tra
cứu. Lệ như cầu Ba-la là chỗ tướng Lý Triện, hồi kháng Minh, đã đại thắng
tướng giặc Minh là Mã Kỳ (năm bính-ngọ, 1426), sử cũ chép là « Tam la »,
thì nay xin nói là Ba-la và chú thích thêm rằng ở gần Bông-đỏ trên con
đường đi từ tỉnh-lỵ Hà-đông đến phủ-lỵ Thanh-oai.
5) Về tên người, tên đất, sử sách xưa chép toàn bằng Hán-văn. Đến khi
có sách báo quốc ngữ, người ta mới phải làm việc phiên âm những nhân
danh địa danh ấy. Nhưng vì Hán văn có chữ có từ hai âm trở lên, hoặc có
chữ tự dạng gần giống chữ khác, nên mới có nạn dễ lầm ! Nay xin cố gắng
https://thuviensach.vn
đính chính, chẳng hạn như « Lưu Nhân-Chú » là một nhân-vật có công lớn
trong cuộc kháng Minh, chỉ vì chữ « Chú » có âm nữa là « Thụ », nên sách
báo quốc văn hoặc gọi là « Chú » hoặc chép là « Thụ ». Nay căn cứ vào âm
chua ở Việt-sử thật lục trong bộ Toàn thư (quyển 10, tờ 30b), là sử làm ở
đời Lê, chắc đã biết rõ được tên viên danh tướng ấy hơn ai hết, mà chép là
Nhân Chú.
« Tốt-động », tục gọi làng Dét, thuộc tổng Mỹ-lương, huyện Chươngmỹ, tỉnh Hà-đông ngày nay, là một trận địa mà giặc Minh đã từng bỏ xác
đầy đồng, chỉ vì tự dạng hơi giống chữ « Tụy » 萃, nên có nhiều sách báo
quốc văn thường chép là « Tụy động ». Nay xin căn cứ vào mặt chữ (sơn
trên, tốt dưới 崒) và tên gọi đương thông dụng ở dân sở tại mà chép là «
Tốt-động ».
Tựu trung còn có những trường hợp khó xử là tên một người bằng chữ
nho mà có đến mấy âm khác nhau như tên vua Tiền Lý Nam đế (544-548),
Hán văn viết « hủy trên, bối dưới » 賁, mà một chữ ấy có đến sáu âm :
a) âm bí (sáng sủa),
b) âm phần (lớn lao),
c) âm bôn (hùng dũng),
d) âm phẫn (tức giận),
đ) âm phấn (chiến bại, đổ bể),
e) âm Phì (tên riêng một họ).
Nay vì không biết rõ tên vua Tiền Lý đương thời gọi là gì, xin loại bỏ
những âm có nghĩa không đẹp ra, rồi căn cứ vào âm đã chua ở một vài bản
sử chữ Hán mà phiên là « Bôn », nhưng lại chua thêm ở bên rằng « hoặc
Phần, hoặc Bí » cho được thận trọng.
Theo chung nguyên tắc ấy, đối với các nhân danh địa danh khác cũng
vậy.
6) Ngày trước vì kiêng tên húy các vua chúa các triều đại, nhất là tên
trong hoàng gia đương triều mà xưa gọi là « quốc húy », có nhiều chữ buộc
phải đọc trại ra âm khác, như « tông » đọc « tôn », « thì » đọc « thời », «
https://thuviensach.vn
nhậm » đọc « nhiệm », « hồng » đọc « hường », « chủng » đọc « chưởng »,
« thật » đọc « thực » hoặc « thiệt » v.v… Nay cần tìm sự thực và phải chính
danh, nên đối với tên người, tên đất, xin cứ phát âm cho thật đúng, chứ
không theo lối xưa tị húy tức là trại tên. Ví dụ :
- Lý Nhân-Tông, chứ không Lý Nhân-Tôn ;
- Ngô Thì Nhậm, chứ không Ngô Thời Nhiệm…
Dẫu vậy, lệ này chỉ áp dụng vào những tiếng tên riêng cho chính cái
danh, đúng cái thực thôi. Còn các tiếng tên chung vì lâu ngày đã thông
dụng rồi, có thể cho liệt vào lệ ngoại. Vả, đó lại thuộc công việc của nhà
ngữ học, không phải lĩnh vực của nhà viết sử.
7) Các sử sách khắc in dưới triều Cựu Nguyễn, có nhiều chữ nho vì tị
húy mà phải tỉnh hoạch, tức là bớt nét, như « chiêu » 昭, bớt bỏ « nhật bên
» mà khắc là « triệu » 召, « nhậm » 任, bớt bỏ « nhân đứng bên » mà khắc
là « nhâm » 壬, « thì » 時, bớt bỏ « nhật treo bên » mà khắc là « tự » 寺… ;
6
có khi lại đổi hẳn cả chữ, như « Hằng » 恆, đổi là « thường » 常
…
Nay theo chung cái lệ trên, xin cứ chép cho đúng tên đúng chữ. Ví dụ :
- Lê Chiêu-thống, chứ không Lê Triệu-thống,
- Nhậm Diên, chứ không Nhâm Diên,
- Thì Nhậm, chứ không Tự Nhâm,
- Lý Hằng, chứ không Lý Thường,
-…
Ngoài ra, hễ thấy tên một nhân vật lịch sử nào đích danh là có chữ
đệm mà sử cũ vì kiêng húy, đã tự tiện bỏ đi, thì nay xin cứ theo đúng sự
thực mà trả lại chữ đệm cho tên người ấy, như : Ngô Sĩ, cứ chép là Ngô Thì
Sĩ, v.v…
8) Trong sử sách chữ Pháp có nhiều tên người, tên đất Việt-nam, hoặc
không đánh dấu hay viết trật chữ quốc ngữ, hoặc nhớ sai mà chép lầm, như
7
Chí-hòa chép là Kỳ-hòa … Nay xin cố gắng kê cứu, càng sửa được đúng
chừng nào càng hay chừng ấy.
https://thuviensach.vn
9) Đối với các vua chúa xưa, khi chưa lên ngôi hoặc chưa xưng
vương, xưng đế, xin cứ chép thẳng tên. Khi đang trị vì mà chưa chết, đáng
lẽ thì lấy niên hiệu làm tiếng tôn xưng, nhưng ngặt vì có nhiều vua như
mấy vua nhà Lý (1010-1225) thường đặt rất nhiều niên hiệu, nên không
tiện đối với một vua mà lúc gọi là vua Thiên-thành, lúc gọi là vua Thông8
thụy, lúc lại gọi là vua Kiền-phù-hữu-đạo v.v…
Vậy nay xin theo cái lệ chung là hễ ai đã làm vua thì cứ gọi theo miếu
hiệu, như Lý Nhân-tông, Lê Thái-tổ, v.v… Còn ai không có miếu hiệu thì
9
gọi theo niên hiệu hoặc tên thật. Đến như hai chữ « đại hành » hoặc « đại
10
hạnh » là tiếng ở đời quân chủ xưa dùng để gọi chung bất cứ một vị
hoàng đế nào khi mới mất mà chưa kịp đặt tên thụy hay miếu hiệu. Vậy nay
đối với Lê Hoàn, xin chép thẳng tên, vì vua này chưa có miếu hiệu mà niên
11
hiệu thì có những ba.
Ngoài ra, khi chép về sáng kiến của một cá nhân hay oai hùng của một
thủ đoạn thì có thể dùng cái tên gọi rất phổ thông khiến cho mọi người dễ
biết, như nói việc làm giấy bạc của Hồ Quý-Ly, trận Đống-đa đại thắng của
Quang-Trung… Đó là lệ ngoại.
10) Theo chế độ phong kiến xưa, cái chết của mọi người trong xã-hội
cũng có giai cấp, chẳng hạn : vua chúa chết thì chép là « băng » 崩 hay «
thăng hà » 升遐 hay « thượng thiên » 上天 tức là « chầu trời », thứ dân thì
chép là « tử » 死, tức là chết.
Nay bất cứ đối với ai, cũng đều chép là « chết », hoặc « mất », hoặc «
qua đời », chỉ trừ những trường hợp đặc biệt này :
a) dịch theo nguyên văn một bài bia hoặc một bài văn lịch-sử.
b) thuật theo giọng nói của một người đương thời.
11) Về tên gọi các triều đại, các sử chữ Hán xưa, khi nào gọi là Tiền,
Hậu để cho phân biệt, thì căn cứ vào sự liên quan của dòng họ, như gọi Lý
Bôn (hoặc Bí, hoặc Phần) là Tiền Lý (544-548), Phật-Tử là Hậu Lý (571602), hai vua Hưng-khánh và Trùng-quang là Hậu Trần (1407-1413), từ Lê
https://thuviensach.vn
Thái-tổ đến Lê Cung-hoàng là Tiền Lê (1428-1527), còn Lê trung-hưng là
Hậu Lê (1592-1789).
Gần nay, nhiều sử sách quốc văn lại chia triều Lê thuộc họ Lê Hoàn là
Tiền Lê (980-1009), triều Lê từ Thái-tổ đến Cung-hoàng là Hậu Lê (14281527), còn Lê từ Trang-tông đến Mẫn-đế là Lê trung-hưng (1592-1789).
Đó là theo lối chia của mấy sử gia Pháp.
Nay xin phân biệt thế này để nêu cái đặc trưng của mấy triều đại sau
đây :
- Lê Quang-phục, là Lê từ Thái-tổ đến Cung-hoàng.
- Lê Trung-hưng là Lê từ Trang-tông đến Mẫn-đế.
- Cựu Nguyễn, là nhà Nguyễn từ năm Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận,
12
Quảng đến năm tôn hoàng Bảo-đại thoái vị (1945).
- Tân Nguyễn là nhà Nguyễn Tây-sơn (1778-1802).
Còn các triều đại khác thì cứ theo tên cũ mà các sử chữ Hán đã gọi,
như Lý Bôn vẫn là Tiền Lý, Phật-Tử vẫn là Hậu Lý, còn Lê thuộc họ Lê
Hoàn vẫn đứng riêng một triều Lê, Lý thuộc họ Lý Thái-tổ vẫn đứng riêng
một triều Lý…
12) Các sử xưa thường hay phân biệt chính thống và ngụy triều ; đó vì
quan niệm người xưa nghiêm định cái phận vua tôi và đứng chủ quan theo
từng triều đại. Nay ta chỉ thừa nhận những sử sự đã có và những người đã
đóng vai lãnh đạo, thì không kể ai là chính thống hay ai là tiếm ngụy cả.
Vậy khi chép về nhà Hồ, nhà Mạc hay nhà Tây-sơn, bộ sử này cũng
liệt họ làm một triều đại và xưng hô theo lệ đã định ở điều thứ 9 trên.
13) Những bia cổ dùng làm tài liệu cho bộ sử này là căn cứ vào các
bản do trường Đông phương Bác cổ đã rập được hoặc đã in trên Tùng san
hay trên tờ Dân Việt-nam của trường Bác cổ. Nếu họa hoằn có sự xê xích
ít chữ hay khác hẳn cả bài là do người sở tại hoặc thấy bia mòn mà tự tiện
đục lại, hoặc khắc bài mới lên nền bia cũ. Đó là một chuyện vượt hẳn ra
ngoài phạm vi kiểm điểm của chúng tôi.
https://thuviensach.vn
14) Bộ sử này, ở những phần trước hồi Pháp thuộc đều chép theo ngày
tháng ta, nhưng chua thêm Công nguyên, tức là kỷ nguyên Thiên chúa, cho
tiện so sánh. Đó vì một là muốn chứng tỏ rằng những sử sự đã chép đều
phù hợp với các sử biên niên của ta xưa như Đại Việt sử ký, Đại Việt sử
ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục… ;
hai là
muốn giữ cái dân tộc tính, có nhiều ngày lịch sử đã được biểu hiện ở tục
ngữ ca dao như :
« Hăm mốt Lê Lai hăm hai Lê Lợi »
13
và : « Nào ai buôn đâu bán đâu ?
14
15
« Mồng mười tháng tám, trọi trâu thì về ».
Đến hồi Pháp thuộc, có nhiều sử sự liên quan mật thiết với Pháp là
một nước đã chính thức dùng Công nguyên trong sử sách và công văn. Vì
vậy, trong hồi ấy xin dùng ngày tháng dương lịch cho tiện đối chiếu với sự
ghi chép trong giấy tờ, sách, báo ở đương thời và nhân đó, chứng tỏ rằng
tính chất xã hội Việt-nam bắt đầu biến đổi từ đấy.
Còn khi chép giờ lịch-sử, vì muốn ghi lấy màu sắc thời đại, thì :
Thời xưa, dùng giờ can chi, nhưng không quên chua là giờ nào ngày
này cho dễ nhận biết, như chép về giờ sinh của Lê Lợi :
Lê Lợi sinh giờ tí (khoảng 23-1 giờ) ngày mồng 6 tháng tám, năm ất
sửu (1385).
Hồi Nhật chiếm đóng thì chép theo giờ đương thời mà người ta gọi là
16
« giờ Đờ-cu » . Giờ ấy chậm kém giờ Nhật một giờ, nhanh hơn giờ Việtnam một giờ. Như chép về việc Nhật đảo chính Pháp :
Hồi 8 giờ tối mồng 9 tháng ba 1945, súng Nhật bắt đầu nổ…
Đến khi Việt-nam độc-lập thì dùng giờ Việt-nam để tỏ giờ lịch-sử đã
điểm, cùng tai mắt quốc dân cùng đổi mới.
15) Hồi Pháp thuộc, có nhiều danh từ chính trị, hành chính hoặc tư
pháp, ban đầu do chưa tìm được tiếng thỏa đáng mà tạm bợ dịch liều,
https://thuviensach.vn
nhưng dùng lâu thành quen, phổ thông khắp cả dân chúng, hầu như là «
danh từ lịch-sử » cả rồi. Vậy nay xin cứ mượn dùng cho dễ hiểu, như :
- Gouverneur général đáng phải dịch là tổng đốc mà xưa dịch là « toàn
quyền » ;
- Résident đáng phải dịch là trú sứ mà xưa dịch là « công sứ » ;
- Tòa thị chính xưa gọi là tòa đốc lý ;
- Tổng bí thư của viên tổng đốc Trung-Ấn xưa gọi là phó toàn quyền ;
- Trung-Ấn xưa dịch là Đông-dương ;
-…
Sở dĩ bộ sử này cứ chép những danh từ đã quen dùng ấy là chỉ cốt ghi
lấy dấu vết lịch sử, chứ không đi sang vấn đề tinh nghĩa tiếng Việt.
16) Trong hồi Pháp thuộc, có nhiều tên người, tên đất ngoại quốc nhất
là chữ Pháp, nhiều sử quốc văn trước giờ vẫn thường để nguyên. Nay xét
như vậy chẳng những tỏ ra không Việt hóa được các tiếng ngoại lai, mà còn
làm trở lực cho những ai không đọc được vần tiếng ngoại quốc nữa. Vậy
nay, khi gặp những nhân danh địa danh ngoại quốc, xin cứ phiên âm ra
tiếng Việt, nhưng không quên chua cả nguyên danh ở bên cho tiện kê cứu.
17) Bộ sử này chép từ thời kỳ tiền sử đến ngày tôn hoàng Bảo-đại
thoái vị (25-8-1945). Sở dĩ đặt giới hạn ở đây là có ý nêu rõ cái mốc : con
đường lịch-sử Việt-nam đến đó sẽ rẽ sang một khúc ngoặt khác.
18) Bộ sử này xin chia các thời kỳ lịch-sử Việt-nam thế này :
a)
Tung hệ : Căn cứ vào quá trình tiến hóa của xã-hội Việt-nam, tức là
một « đường dọc » (tung hệ) kể từ khi dân tộc Việt-nam dùng đồ đá đến khi
dùng đồ sắt, từ kinh-tế ngư liệp, kinh-tế súc mục qua kinh-kế nông nghiệp
đến kinh-tế tư-bản, từ chế-độ tù trưởng qua chế-độ quân chủ đến hình thành
chế-độ dân chủ.
b)
Hoành hệ : Căn cứ vào các sự cố trong xã-hội và các vai làm việc
lãnh-đạo, nêu lên những biến chuyển đã xảy trên đường lịch-sử, rồi đánh
https://thuviensach.vn
dấu lấy từng quãng thời gian và những khúc ngoặt lịch-sử ấy, khiến nhân
một « đường ngang » (hoành hệ) đó, ta có thể nhận được sợi dây diễn tiến
suốt cả một bộ lịch-sử Việt-nam từ xưa đến giờ. (Xin coi tiết « chia thời kỳ
lịch-sử Việt-nam » ở cuối).
Tác giả
cẩn chi
https://thuviensach.vn
ĐẠO-LUẬN
https://thuviensach.vn
I. ĐỊA-LÝ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI VIỆTNAM THẾ NÀO ?
Ở vào Đông-nam Á, Việt-nam là một bán đảo giữa biển Đông
vịnh Tiêm-la.
17
và
Bắc-bộ thì xòe ra như hình rải quạt ; Trung-bộ thì eo hẹp lại mà chạy
18
dài : một bên là biển, một bên là dãy Trường-sơn ; Nam-bộ thì lại phình
rộng. Cho nên người ta ví hình thế ấy như « chữ S », hoặc « vòi voi », hoặc
« một đòn gánh hai thúng thóc ».
19
Diện-tích toàn quốc được độ 327.500 cây số vuông . Từ cửa Namquan đến mỏm Cà-mâu dài 1.650 cây số.
Thế đất : Miền cao thì trùng trập những núi non choán đến già bốn
20
phần năm đất . Miền thấp thì một dải bình-nguyên viền bằng bờ biển, lồi
21
ra lõm vào, dài hàng hơn 2.000 cây số.
Núi non ở Việt-nam thuộc về sơn hệ Quảng-tây và Vân-nam. Ở miền
bắc, những dãy núi từ tây bắc sang đông nam, hoặc từ đông bắc sang tây
nam, chẳng những bàn-cứ ở Bắc-Việt, mà lại ăn cả sang Thượng Lào nữa.
Giữa mấy dải núi ấy, có những thung lũng cấu thành cao-nguyên và bình22
nguyên. Chảy theo những thung lũng đó, có sông Hồng-hà và sông Cửu23
24
long phát nguyên từ Tây-tạng . Ở miền tây-bắc, có những ngọn núi cao
25
hàng hơn hai, ba nghìn công xích . Càng về miền đông, thì cao-độ càng
dần dần giảm bớt.
Dãy Trường-sơn chạy từ Thượng-Lào xuống Trung-Việt, tức chạy dọc
từ bắc xuống nam, phân chia địa giới Lào và Việt, có ngọn cao đến hơn
2.000 công xích. Dải núi này đến Trung-bộ thì chia đôi : mạch đông chạy ra
biển, nổi lên những ngọn bích lập ; mạch tây thì thoai thoải xuống, kéo đến
lưu vực sông Cửu-long.
https://thuviensach.vn
Ở phía tây Trường-sơn, bát ngát một dải bình nguyên, có sông Cửulong chạy từ bắc xuống nam, cấu thành miền trung châu mầu mỡ. Miền
trung-châu ở triền sông Cửu-long này cũng như trung-châu ở Bắc-bộ, rất
thấp, nên đến mùa nước to, thường xảy ra ngập lụt. Ở Nam-bộ, những vùng
trũng thấp như Đồng-tháp-mười và Cà-mâu, quanh năm thường đọng nước.
Những sông nước ở Việt-nam có thể chia làm hai hệ chính : Ở Bắc có
sông Hồng-hà và sông Thái-bình ; ở Nam, có sông Cửu-long và sông
Đồng-nai. Giữa những hệ-sông ấy, còn có nhiều sông chảy từ Trường-sơn
ra biển Đông.
Hằng năm, những tháng cuối năm và đầu năm, ít mưa, nước sông rút
thấp ; nhưng đến mùa mưa, nhất là từ khoảng tháng sáu, tháng bảy dương
lịch, nước sông lên to, hay sinh ngập lụt. Vả lại, hầu hết các sông đều chảy
qua miền rừng núi, lòng sông thường có thác, có ghềnh, và nước sông
thường cuốn theo cát sỏi, phù sa, dần dần bồi lấp cửa sông, nên nạn lụt vẫn
là mối lo lớn cho dân chúng. Vì thế, từ đời Lý Nhân-tông (1072-1127), hồi
26
tháng hai, năm mậu-tí (1108), đã phải đắp đê Cơ-sá để giữ nước sông
khỏi tràn vào kinh-đô Thăng-long, và đời Trần Thái-tông (1225-1258), hồi
tháng ba, năm mậu-thân (1244), lại phải đắp đê « Quai vạc » (Đỉnh nhĩ đê)
27
từ đầu nguồn đến bờ biển.
Nằm bên biển Đông có những hải-phận hoặc sâu tới 5.000 (như ở phía
đông-bắc), hoặc hơn 1.000 (như dải duyên hải Trung-bộ) hoặc 3.000 côngxích (như dải giữa mũi Ba-đa-răng (Padaran) và mũi Va-ren-la (Varella),
khắp miền duyên hải Việt-nam gồ ghề, lắm đá, đều có chỗ chân chìa ra biển
sâu ngót 50 công-xích.
Ở trung-châu, các duyên hải đều thấp và phẳng ; hoặc có những bãi
phù-sa do nhiều sông bồi nên, hoặc có những cồn cát cao đến vài côngxích.
Trong phía bắc vịnh Bắc-bộ, bờ biển được nhiều hòn đảo ngoài khơi
che chắn, dùng làm hải-cảng rất tốt và sự hàng-hành cũng rất tiện lợi. Ở
https://thuviensach.vn
Trung-bộ, trừ vũng Cam-ranh có thể làm quân cảng, còn phần nhiều cũng
như vịnh Xiêm đều rất nguy hiểm vì có gió dữ.
Việt-nam ở vào nhiệt đới bắc bán cầu, vì ảnh hưởng gió mùa, nên khí
hậu nóng và ẩm thấp.
Nam-bộ ở gần xích-đạo hơn : trong một năm, thường nóng nhiều và
thời tiết ít thay đổi. Ở Sài-gòn, ôn độ trung bình là 27°6 ; khoảng tháng
chạp dương lịch là tháng lạnh hơn hết, thường thường là 25 độ ; đến tháng
tư dương lịch, là tháng nóng hơn hết, ôn độ lên đến 30°.
Dần dần càng ra bắc, càng xa xích-đạo, thì khí hậu càng đổi khác : ở
Thuận-hóa, khoảng tháng hai dương lịch, ôn độ xuống gần 20° ; tháng sáu,
lên tới hơn 30°. Ở Hà-nội, ôn độ trung bình là 23°9 ; nhưng đến tháng hai
dương lịch, lạnh tới 16°, tháng bảy nóng tới 30°.
Như vậy, toàn quốc tỏ ra không phân biệt rõ rệt xuân, hạ, thu, đông.
Cho nên tiếng rằng gọi có bốn mùa, mà kỳ thực chỉ có hai mùa là mùa
mưa và mùa khô.
Đó là vì ảnh hưởng của gió mùa, mà Việt-nam là một xứ ở trong « khu
gió mùa », tức là khu từ Ấn-độ đến Nhật-bản, khí hậu do hai yếu tố ở đất và
ở biển tiếp xúc nhau mà gây thành.
Khoảng tháng mười đến tháng ba dương lịch, là mùa gió mùa thổi từ
28
đông-bắc sang tây-nam . Bấy giờ khí áp ở miền bắc đất liền châu Á mạnh
hơn khí áp ở Ấn-độ dương, nên gió lạnh và khô ở trong lục địa thổi ra
ngoài biển.
Trong vụ « gió mùa đông » hoặc « gió bấc » này, ở vùng trung châu
Bắc-bộ chính là lúc rét lắm (khoảng tháng một, tháng chạp dương lịch), tiết
trời khô, hanh và ít mưa.
Khoảng tháng tư đến tháng chín dương lịch là mùa gió mùa thổi từ
29
đông-nam sang tây-bắc . Bấy giờ khí áp ở biển mạnh hơn ở lục địa, nên
gió ẩm thổi từ ngoài biển vào trong đất liền, rồi kết thành mưa vì bị các
https://thuviensach.vn
30
ngọn núi cao ngăn cản. Bởi thế, dưới ảnh hưởng của « gió mùa hè » hoặc
« gió nồm » này, ở Bắc-bộ và duyên hải Trung-bộ hay mưa rào, mưa lũ.
Những khi thay đổi gió mùa, thường hay có bão to hoặc bão rớt. Ở
Bắc, từ khoảng tháng sáu đến tháng chín dương lịch ; ở miền duyên hải
Trung-bộ, từ tháng chín đến tháng một dương lịch : chính là những mùa
hay có nạn bão phá hủy nhà cửa, tàn hại mùa màng và đánh chìm thuyền
mành… Còn ở Nam-bộ thì ít bão.
31
Câu thơ chữ Hán rằng : « Tứ thời giai hữu hạ »
, có thể chỉ chung
32
tiết hậu trong toàn cõi Việt-nam ; mà câu « Nhất vũ tiện thành đông »
có
lẽ chỉ nên riêng chỉ Trung, Bắc-bộ.
*
Trên đây đã xét qua phương-diện địa-lý, ta thấy rằng Việt-nam ở vào
xứ nóng, nhiều lam chướng, thủy thổ không được lành mấy. Miền rừng núi
thường có bệnh sốt rét rừng, miền đồng trũng và những cùng nhiều đầm,
ao, bãi lầy thường có chứng sốt rét ngã nước. Tựu trung chỉ có dải bờ biển
và các ngọn núi cao thì khí hậu tốt hơn cả.
Trước những tương quan về điều kiện địa-lý như thế, người Việt đã
chịu ảnh hưởng rất sâu xa, cả thể chất lẫn tinh thần.
Việt-nam là giống người sọ tròn, mà đầu đàn bà thường bé kém đầu
đàn ông. Theo các nhà nhân loại học đã trắc nghiệm, thì não bộ người Việtnam (kể hạng thành nhân) nặng nhất là 1.600g, nhẹ nhất là 1.250g, đổ đồng
trung bình là 1.409g3.
Tầm người thấp bé : trung bình đàn ông vào 1th595, đàn bà khoảng
1th53.
Xét đại thể, ta nhận thấy : người Việt-nam chân tay nhỏ mà ngắn, mặt
xương xương mà hơi dẹt, hai gò má hơi cao, mắt đen mà hơi xếch, mũi hơi
tẹt, môi hơi dày, tóc đen, dài mà mượt, râu cứng mà thưa thưa, nước da hơi
ngăm ngăm hoặc hơi ngà ngà, vì thuộc giống da vàng ở Đông-nam Á. Dáng
đi : phụ nữ thì mềm mại yêu kiều, đàn ông thì nhẹ nhàng chắc chắn.
https://thuviensach.vn
Về tiếng nói, trước đây, nhiều nhà ngữ-học Âu-tây vẫn cho rằng tiếng
Việt là tiếng đơn âm, nhưng hiện nay người ta đang xét lại xem có phải
đúng thế hay là một thứ tiếng phức âm, vì ngoài nhiều tiếng đơn âm, Việt
ngữ còn có những tiếng kép hai, kép ba, kép bốn như nồng-nỗng, hớ-hênh,
sạch-sành-sanh, lòng-thà-lòng-thòng, cầu-bơ-cầu-bất, lủng-cà-lủng33
củng…
Có điều ai ai cũng phải thừa nhận là : suốt từ Bắc vào Nam, tiếng nói
đều thống nhất, mặc dầu giọng nói có tùy từng địa phương mà nặng, nhẹ,
thanh, trọc hơi khác.
Về phần tinh thần của người Việt-nam, nhiều sử gia đã chép :
« …Nói năng biết điều, ít tình dục, thấy người phương xa phiêu lưu
34
35
đến nước mình thì thường săn sóc thăm hỏi. Người vùng Giao Ái thì lỗi
36
37
lạc, ngang tàng, có mưu trí ; người miền Hoan Diễn thì thuần phác, tuấn
tú, ham học… thích tắm sông, quen thạo đò-giang, giỏi bơi lội… » (Lê Tắc,
An-nam chí lược, quyển 1, tờ 11a).
« Tính người nhanh nhẹn, táo bạo, cho giàu là hùng, bắt kẻ nghèo yếu
38
lệ thuộc phục dịch… » (Cao Hùng-Trưng, An-nam chí nguyên , quyển 1,
tr.4).
« …Người Việt-nam đại khái thông minh… Sức ký ức thì phát đạt
lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý.
Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là
thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động. Não
tưởng tượng thường bị não thực tiễn hòa hoãn bớt, cho nên dân tộc Việtnam ít người mộng tưởng, mà phán đoán có vẻ thiết thực lắm. Sức làm việc
khó nhọc, nhất là người ở miền Bắc, thì ít dân tộc bì kịp. Cảm giác hơi
chậm chạp, song giỏi chịu đau đớn cực khổ và hay nhẫn nhục… Thường
thì… chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cũng biết hy sinh vì đại nghĩa… »
(Đào-duy-Anh, Việt-nam văn hóa sử cương, trang 16).
« Đàn bà Việt-nam hay làm lụng và đảm đang, khéo chân, khéo tay,
làm được đủ mọi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều
https://thuviensach.vn
chồng nuôi con, thường giữ được cái đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần,
kiệm. » (Trần trọng-Kim, Việt-nam sử lược trang 18)....
 





