Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Don Kihote nha quy toc tai ba

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:30' 07-03-2024
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:30' 07-03-2024
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tên truyện : Đôn Kihôtê - Nhà Quý Tộc Tài Ba Xứ Mantra
Nguyên tác : DON QUIJOTE DE LA MANCHA, do nhà xuất
bản Aguilar phát hành tại Madrid năm 1968
Tác giả : Miguel De Cervantes Saavedra
Dịch giả : Trương Đắc Vị
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Ngày xuất bản : Quý IV/2004
Số trang : 1024
Kích thước : 14,5 x 20,5 cm
Trọng lượng : 1020 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng
Giá bìa : 115.000 VNĐ
–––––––––––Nguồn : vnthuquan.net, thuvien-ebook.com
Đánh máy : huytran, Vân Trung Tử
Tạo prc (TVE) : santseiya
Ngày hoàn thành : 13/12/2008
Nơi hoàn thành : Hà Nội
Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - http://www.dtv-ebook.com
Mục Lục
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII
Chương XXIV
Chương XXV
Chương XXVI
Chương XXVII
Chương XXVIII
Chương XXIX
Chương XXX
Chương XXXI
Chương XXXII
Chương XXXIII
Chương XXXIV
Chương XXXV
Chương XXXVI
Chương XXXVII
Chương XXXVIII
Chương XXXIX
Chương XL
Chương XLI
Chương XLII
Chương XLIII
Chương XLIV
Chương XLV
Chương XLVI
Chương XLVII
Chương XLVIII
Chương XLIX
Chương L
Chương LI
Chương LII
PHẦN THỨ HAI
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII
Chương XXIV
Lời giới thiệu
Mighel đê Xervantêx Xaavêđra (Miguel de Cervantes
Saavedra), nhà đại văn hào Tây Ban Nha, sinh tháng 10 năm
1547 tại thị trấn Alcala đê Enarêx, gần thủ đô Mađrít, trong
một gia đình quý tộc nhỏ, đã sa sút. Ông thân sinh ra Xervantêx làm nghề thầy thuốc, phải lang thang từ tỉnh này sang tỉnh
khác để kiếm tiền nuôi sống bảy đứa con. Về thời niên thiếu
của Xervantêx, người ta biết rất ít. Sách chỉ ghi rằng cậu bé
Xervantêx đi theo bố mẹ và đã sống ở Vaiađôlít, Xalamanca,
Mađrít, Xêviia…
Trình độ học vấn của Xêvantêx chỉ ở mức trung bình. Trong
hoàn cảnh gia đình sống nay đây mai đó, Xervantêx không thể
theo học một trường nào đến đầu đến đũa. Có thời kỳ ông học
tại một viện của thầy dòng Giêduýt, thời kỳ sau ông lại theo
học một học giả nổi tiếng ở Mađrít là Huan Lôpêx đê Ôiô. Tuy
nhiên, bù đắp vào sự thiếu sót đó, Xervan-têx có trí thông
minh, óc nhận xét và tính ham đọc sách. Sự nghiệp văn
chương của ông mở đầu bằng một bài thơ làm vào dịp hoàng
hậu Tây Ban Nha Idabel đê Valôix tạ thế. Năm đó, ông 21 tuổi
(1568).
Vào thời kỳ này, Ý-đại-lợi là một nơi tụ tập những kẻ đi tìm
công danh trong binh nghiệp hoặc văn chương. Năm 1569,
người ta thấy Xervantêx tại Rôma, phục vụ giáo chủ Huliô
Aquaviva. Năm sau, Xervantêx gia nhập quân đội Tây Ban
Nha đồn trú trên đất Ý. Năm 1571, trong trận thủy chiến
Lêpantô giữa một bên là đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, một bên là mấy
thành thị Ý liên minh với Tây Ban Nha do đôn Huan đê
Aoxtria chỉ huy, Xervantêx bị trọng thương, bàn tay trái bị
nghiền nát, do đó người ta đặt biệt hiệu cho ông là “Người cụt
tay trong trận Lêpantô”. Năm 1572, ở bệnh viện ra, Xervantêx
lại gia nhập quân đội. Trong ba năm tại ngũ, ông đã qua các
nơi như đảo Xixilia, Xerđênha, hoặc các thành phố như
Phlôrenxia, Hênôva, Napôlêx, Milan, Rôma là những kho tàng
di tích của nền văn học nghệ thuật cổ điển Hy-La. Năm 1575,
ông về nước với một bức thư giới thiệu của chủ tướng là đôn
Huan đê Aoxtria, hy vọng sẽ được nhà vua trọng dụng. Rủi
thay, ngày 26 tháng 9, trên đường về Tây Ban Nha, tàu của
ông bị bọn cướp biển tấn công và ông bị bắt giải về Arhêl
(Alger).
Trong thời gian bị cầm tù Arhêl (1575 - 1580), ông luôn luôn
có ý chí đấu tranh, khuyến khích bạn bè giữ vững tinh thần tìm
cơ hội thoát thân. Ông tổ chức bốn, năm lần vượt ngục nhưng
đều thất bại, và mỗi lần, ông đã can đảm nhận phần trách
nhiệm của người chủ mưu. Tinh thần dũng cảm và lòng vị tha
của Xervantêx không những gây tín nhiệm trong anh em cùng
chung số phận mà còn làm cho chính vua Arhêl phải kính nể,
không giết. Quãng đời này của Xervan-têx đã được nhắc lại
trong câu chuyện Người tù, trong cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê
- Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Cũng trong thời gian này, ông
đã nhiều lần cầu cứu những nhân viên cao cấp Tây Ban Nha
giải thoát cho ông, song đều vô hiệu. Cuối cùng, chính gia
đình ông phải lo liệu tiền nong và, với sự giúp đỡ của Nhà
dòng, chuộc được ông về nước.
Lúc này, Xervantêx 33 tuổi. Ông trở về Tây Ban Nha, những
tưởng với công trạng xưa của mình, sẽ được triều đình cất
nhắc. Nhưng, thất vọng. Năm 1585, ông lập gia đình với
Catalina đê Palaxiô Xaladar. Ngán ngẩm bước đường công
danh lận đận, lại gặp những khó khăn kinh tế, ông bắt đầu viết
sách để kiếm thêm tiền nuôi sống gia đình.
Tập La Galatêa là tác phẩm đầu tay của Xervantêx (1585).
Cũng trong thời gian này, ông sáng tác trên hại chục vở kịch
được đưa lên sân khấu. Nhưng nhà viết kịch thiên tài Lôpê đê
Vêga (Lope de Vega), “Lôpêt vĩ đại” như chính Xer-vantêx
gọi, đã xuất hiện, và Xervantêx bỏ nghề viết kịch.
Cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra,
tác phẩm xuất sắc nhất của Mighel đê Xervantex Xaavêđra, ra
đời năm 1605 (phần thứ nhất - 52 chương). Người ta cho rằng
ông bắt đầu sáng tác vào năm 1602, lúc đang ở trong nhà tù
Xêviia, vì như ông đã viết trong lời nói đầu, “tôi thai nghén nó
(cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra ND) trong một nhà tù, nơi trú ngụ của mọi bất tiện và mọi âm
thanh buồn thảm”.
Năm 1614, ở Taragôna bỗng dưng xuất hiện Tập hai cuốn Đôn
Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Tác giả đã không giám
ký tên thật của mình mà núp dưới cái tên giả là Alphônxô
Phernanđêx đê Avêianêđa. Năm sau, 1615, Xervantêx xuất bản
lần thứ hai cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
xứ Mantra (gồm 74 chương). Qua lời mở đầu phần này, ông
vạch mặt kẻ cướp đoạt văn chương. Trong phần thứ hai cuốn
tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra, nghệ
thuật của Xervantêx càng tỏ ra điêu luyện, già dặn. Tác phẩm
cuối cùng của ông là cuốn Perxilêx và Xihixmunđa.
Từ ngày ở Arhêl về nước cho tới cuối đời, Xervantêx vừa
viết văn, vừa phải nhận của triều đình một số việc linh tinh để
bảo đảm sinh kế, khi làm nhiệm vụ tiếp lương cho hạm đội
Armađa bách chiến bách thắng, lúc đi thu thuế, v.v… đôi ba
lần phải ra tòa, bị ngồi tù oan ức, mà cuối cùng nghèo túng vẫn
hoàn nghèo túng. Sách có ghi lại một câu chuyện như sau:
Vào tháng 2 năm 1615, có một đoàn sử giả Pháp sang Tây Ban
Nha để đón công chúa Ana đê Aoxtria. Lâu nay hâm mộ tài
năng của Xervantêx, họ xin được tới thăm ông. Tới nơi, thấy
cảnh nhà quá thanh bạch, một người thốt lên: “Sao! Một con
người như vậy mà nước Tây Ban Nha không lấy công quỹ
cung dưỡng và làm cho giàu có ư!”. Một người khác nói thêm
một cách ý nhị: “Nếu sự nghèo túng buộc ông ta phải viết sách
thì cầu Chúa cho ông ta không bao giờ sung túc để những tác
phẩm của một người nghèo như ông làm giàu thiên hạ”.
Ngày 23 tháng 4 năm 1616, Mighel đê Xervantêx Xaavêđra
qua đời tại Mađrít. Khi đó, ông 69 tuổi.
*
**
Từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
ba xứ Mantra đã chinh phục dư luận người đọc trong nước
cũng như ngoài nước. Ngay trong năm 1605, tại Tây Ban Nha,
tập truyện đã được tái bản 5 lần, và sinh thời, Xervantêx đã
nhìn thấy tác phẩm của mình được xuất bản 13 lần (6 lần ở
Tây Ban Nha, 3 lần ở Bồ Đào Nha, 3 lần ở Bỉ, 1 lần ở Ý). Trải
qua gần 400 năm, vượt ra khỏi sự đào thải của thời gian, Đôn
Kyhôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra vẫn giành được sự hâm
mộ rộng khắp và được công nhận là một trong những tác phẩm
văn học lớn nhất của nhân loại. Năm 1795, nhà đại văn hào
Đức, Gớt (Goethe), viết cho nhà thơ lớn Silơ (Schiller): “Tôi
đã tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết của Xervantêx cả một kho
tàng thú vị và bổ ích”.
Pho truyện thật sự đã đi sâu vào quần chúng. Trong các ngày
hội, những cuộc vui hóa trang ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
cũng như ở nhiều nước châu Âu khác, người ta thường thấy
xuất hiện hiệp sĩ đôn Kihôtê và giám mã Xantrô Panxa “hệt
như tả trong truyện”, Cuốn sách đã được dịch ra hầu hết các
thứ tiếng trên thế giới: Anh, Pháp, Ý, Đức, Thổ, Arập, Êbrơ,
Xăngxcri, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên… và cả Thế giới
ngữ. Ngót bốn thế kỷ nay, Đôn Kihôtê vẫn là đề tài của sân
khấu, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, màn ảnh. Từ Đông sang
Tây, từ Âu sang Á, các nhà phê bình, triết học, các nhà văn,
nhà thơ, những người làm công tác văn nghệ, không ai không
xác nhận giá trị tư tưởng và nghệ thuật của cuốn truyện này.
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra là cuốn tiểu thuyết
cận đại đầu tiên của Tây Ban Nha, viết theo hướng hiện thực
phê phán. Trước đó, độc giả các nước phương Tây rất ham
thích loại tiểu thuyết kiếm hiệp kể “những truyện hoang đường
không lệ thuộc vào những yêu cầu chính xác của sự thật,
những nhận xét của ngành thiên văn học, những luật lệ về hình
học hay tu từ học” (Lời mở đầu phần thứ nhất, cuốn tiểu
thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Loại tiểu
thuyết hoang đường đó có tác dụng rất tai hại vì nó tạo cho
người đọc một quan niệm hoàn toàn sai lầm về vũ trụ, về nhân
sinh, về tư tưởng, về xã hội. Sách kể lại rằng có cả một gia
đình đã khóc lóc thảm thiết khi đọc tới đoạn nói về cái chết
của hiệp sĩ Amađix! Với cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà
quý tộc tài ba xứ Mantra, Xervantêx đã chôn vùi văn chương
kiếm hiệp và khai sinh cho tiểu thuyết cận đại. Selinh
(Schelling), triết gia Đức, đã phát biểu: “Chúng ta sẽ không
quá lời khi khẳng định rằng cho tới nay chỉ có hai cuốn tiểu
thuyết, đó là cuốn Đôn Kihôtê của Xervantêx và cuốn Vinhem
Maixtơ của Gớt”. Sơlêgơn (Schlegel), nhà phê bình văn học
người Đức, cũng đã đánh giá Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
xứ Mantra là “tác phẩm có một không hai trong loại của nó,
mở đầu cho tiểu thuyết cận đại…”
Toàn bộ cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra gồm 126 chương, là một bức tranh sinh động về xã hội
Tây Ban Nha với những màu sắc thật của địa phương, của thời
đại. Tác giả đã đưa vào truyện trên hai trăm con người thuộc
đủ lứa tuổi và tầng lớp, từ lão chủ quán “giảo quyệt” đến
những cô gái quán trọ “nom cũng chẳng phải thiện nhân”, từ
chàng sinh viên Grixôxtômô si tình đến cô Marxêla xinh đẹp
và yêu tự do, từ gã lái la độc ác đến tên chủ trại tham lam, cha
xứ, bác phó cạo, bà quản gia, ông thầy tu, lão chăn dê, viên
cảnh sát, đám phạm nhân cùng một loạt vương tôn công tử,
quan lại, nhà giàu… Và ngần ấy con người xoay quanh hai
nhân vật chính là anh chàng quý tộc nhưng nghèo đôn Kihôtê
và bác giám mã Xantrô Panxa, một thợ cày chính cống. Tác
giả đã đưa hiệp sĩ và giám mã của chàng đi khắp đó đây trên
đất nước Tây Ban Nha, từ thành thị đến thôn quê, từ những
cánh đồng bao la tới những miền núi sâu vực thẳm, từ những
quán trọ bình dân tới chốn thâm nghiêm quyền quý. Cảnh vật,
con người đều có thật. Và nếu như trí tưởng tượng phong phú
của Đôn Kihôtê đã biến quán trọ thành lâu đài, chậu thau
thành mũ sắt, đàn cừu thành đạo quân thì, trái lại, những lời
nói giản dị mà chí lý của bác giám mã gốc nông dân luôn luôn
lôi kéo ta về với hiện thực. Tóm lại, Xervantêx phản ánh khá
toàn diện cuộc sống thật của xã hội đương thời. Và ông đã
thành công.
*
**
Một hôm, vua Tây Ban Nha Phêlipê III đứng trên lâu đài
nhìn xuống đường, thấy một anh học trò đang đọc một cuốn
sách, thỉnh thoảng lại ngừng đọc cười vang. Nhà vua thầm
nghĩ: “Hoặc tên học trò kia điên, hoặc là hắn đang đọc cuốn
tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra”. Quả
nhiên anh học trò đang đọc cuốn tiểu thuyết đó thật.
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra đúng là một cuốn
tiểu thuyết giàu tính trào lộng. Làm sao người đọc không cười
được khi thấy Đôn Kihôtê một thương một mã lăn xả vào tấn
công những chiếc cối xay gió vô tội trên cánh đồng Môntiel
mà chàng tưởng là “những tên khổng lồ hung tợn có cánh tay
dài tới gần hai dặm”, hoặc khi chàng cứ nhè những bao rượu
trong quán trọ mà đâm, mà chém, ngỡ mình đang đọ sức với
tên khổng lồ ở vương quốc Mi-cômicôn!
Thế nhưng Đôn Kihôtê có phải là một kẻ viển vông, điên rồ
không? Và Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra phải
chăng chỉ là pho sách kể về những hành động nực cười của
chàng hiệp sĩ xứ Mantra? Bàn về tác phẩm số một của
Xervantêx, năm 1821 Bairơn (Byron), nhà đại thi hào Anh,
viết: “Đó là cuốn truyện buồn nhất, và nó càng buồn vì làm
chúng ta cười”. Prôxper Mêrimê (Prosper Mérimée), nhà văn
thế kỷ XIX của Pháp, cũng đã nói: “Bất hạnh thay kẻ nào
không có được một vài ý nghĩ của Đôn Kihôtê và không dám
cả gan nhận roi đòn cùng sự chế giễu để bênh vực kẻ yếu
hèn!”.
Có hai cách đọc tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra: một là trên những dòng chữ, và ta sẽ thấy toàn bộ pho
sách là mũi nhọn tấn công vào tiểu thuyết kiếm hiệp; hai là
đọc giữa những dòng chữ để tìm hiểu ý tứ sâu xa của tác giả
và tác phẩm. Đọc theo cách thứ hai ta sẽ thấy toát ra từ toàn bộ
tác pho truyện một bài học nhẹ nhàng, ý nhị về chính nghĩa,
công lý, tự do. Đôn Kihôtê là một người chân chính. Mục đích
cuộc đời chàng là “trả thù cho những người bị xúc phạm, bênh
vực kẻ hèn yếu, uốn nắn những điều sai trái, phi lý, đả phá mọi
lạm dụng, bất công”. Ta hãy xem chàng lý luận với tên chủ trại
và giải thoát cho chú bé chăn cừu Anđrê bị tên này hành hạ và
quịt tiền công:
“- Tên đê tiện này dám nói dối cả ta ư? Đôn Kihôtê thét lên…
Cởi trói cho nó ngay.
Tên chủ trại cúi đầu, không dám hé răng, vội vàng cởi trói cho
chú bé. Đôn Kihôtê hỏi số tiền công chủ còn thiếu là bao
nhiêu. Chú bé thưa rằng chủ còn nợ chín tháng công, mỗi
tháng bảy đồng. Đôn Kihôtê nhân lên thành sáu mươi ba đồng,
chàng bảo tên chủ trại muốn sống phải trả ngay. Tên này sợ
hãi đáp rằng đúng như lời y đã thề (thực ra y đã thề câu nào
đâu), số tiền không nhiều đến thế vì y đã chi cho chú bé ba đôi
giày và một đồng để chích máu hai lần khi chú ốm.
- Được rồi, Đôn Kihôtê vặn lại; nhưng việc thằng bé phải chịu
roi vọt, mặc dù nó không có tội tình gì, cũng đủ bù vào số tiền
giày và tiền chích máu. Nó làm rách da giày của ngươi thì
ngươi làm rách da thịt của nó. Người ta chích máu khi nó đau
ốm thì ngươi chích máu khi nó mạnh khỏe. Như vậy là hòa…”
Đôn Kihôtê - hay nói đúng hơn là Xervantêx - đã vạch trần
tính tham lam độc ác của bọn nhà giàu thôn quê.
Đây, một đoạn khác về tính chất hà khắc và thối nát của pháp
luật phong kiến. Một hôm, trên đường phiêu lưu, Đôn Kihôtê
gặp một toán người “cổ đeo chung một dây xiềng to bằng sắt,
tay đeo xích; đi theo họ có hai người cưỡi ngựa và hai người đi
bộ; hai người cưỡi ngựa có súng còn hai người đi bộ cầm
gươm mác”. Chàng hiệp sĩ bèn dừng ngựa hỏi duyên cớ vì đâu
mà họ khốn khổ như vậy. Đám tù nhân đã kể tội trạng của họ:
một anh chỉ vì quá “yêu” một cái giành quần áo mà phải chịu
một trăm roi và ba năm khổ sai; một anh ăn trộm gia súc mà bị
hai trăm roi và sáu năm khổ sai; một anh bị năm năm khổ sai
chỉ vì không có mười đồng tiền vàng đút lót cho bọn lục sự,
biện lý; một ông già “đạo mạo” cũng bị đưa đi đày chỉ vì ông
muốn cho mọi người sung sướng sống yên lành, vui vẻ với
nhau, không cãi cọ, không ưu phiền…”
Trong những hành động có vẻ điên rồ của Đôn Kihôtê, vẫn
thấy toát lên tình thương yêu nhân loại. Nếu đối với Xantrô
Panxa, những cối xay gió là… những cối xay gió, thì trái lại,
dưới con mắt của Đôn Kihôtê, chúng là những tên khổng lồ
hung ác, một giống xấu xa cần phải quét sạch khỏi trái đất”.
Đôn Kihôtê yêu tự do, công lý, chính nghĩa. Chàng mong
muốn với “cánh tay dũng mãnh” của mình mang lại hạnh
phúc, cuộc sống yên vui cho mọi người. Với một tinh thần
dũng cảm, không biết sợ, không ngại gian nguy, đơn thương
độc mã, chàng lao vào “cuộc chiến đấu không cân xứng”, luôn
luôn tin tưởng và lạc quan, mặc dù mỗi lần lại bị biêu đầu sứt
trán trước những thực tế đáng buồn của thời đại.
Đôn Kihôtê là biểu hiện của sự tương phản giữa thực tế phũ
phàng với lý tưởng cao đẹp mà chàng mơ ước và chiến đấu
cho nó, là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đấu tranh giữa thế
giới thực tại và thế giới tương lai mà chúng ta vươn tới. Cuộc
sống phải trút bỏ cái vỏ bề ngoài của nó, trút bỏ sự giả dối, ích
kỷ, bất công, và phải mang trong nó những ước mơ và làm cho
những ước mơ đó trở thành hiện thực.
Đó là nội dung tư tưởng sâu xa của tác phẩm.
*
**
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra là một kho tiểu
thuyết trường thiên bằng tiếng Tây Ban Nha. Khung cảnh hoạt
động của các nhân vật là một địa bàn bao la, với nhiều màu sắc
dân tộc, với những đặc điểm của từng địa phương và những
tính cách riêng biệt của từng nhân vật. Tác giả cũng đã sử
dụng một ngôn ngữ phong phú, đa dạng, đặc biệt là ông dùng
nhiều ca dao, tục ngữ, từ ngữ dân gian của từng vùng đất nước
Tây Ban Nha. Văn chương trong Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
ba xứ Mantra lại là văn chương của thế kỷ XVI - XVII. Dịch
nó quả là khó. Bản dịch này chắc không khỏi còn những sai
sót, những “hạt sạn” mà trình độ có hạn của tôi đã không cho
phép tôi tránh được. Tôi thành thật mong độc giả lượng thứ
cho. Tôi cũng trông chờ những nhận xét, phê bình của các bạn
để rút kinh nghiệm cho bản dịch phần thứ hai cuốn truyện
được tốt hơn.
Người dịch
Lời nói đầu
Độc giả nhàn hạ, chẳng cần thề thốt, tôi chắc rằng các bạn
cũng phải tin rằng tôi muốn cuốn sách này - con đẻ của trí tuệ
- phải là cuốn sách hay nhất, tốt nhất, hoàn hảo nhất mà người
đời có thể hình dung được. Nhưng tôi không thể làm trái quy
luật tạo hóa là loài nào sinh ra giống nấy. Thành thử, với khối
óc khô cằn và thô thiển của mình, tôi chỉ có thể tạo nên một
câu chuyện khô khan, ngô nghê, vô lý, đầy rẫy những ý tưởng
tản mạn không ai nghĩ tới bao giờ. Vả chăng, tôi đã thai nghén
[1]
nó ở trong một nhà tù , nơi trú ngụ của mọi bất tiện và mọi
âm thanh buồn thảm. Cảnh vật yên tĩnh, thôn xóm thanh bình,
đồng quê êm ả, bầu trời trong sáng, tiếng suối róc rách, tâm trí
thảnh thơi, nhưng cái đó một phần lớn khiến cho những thi
hứng cằn cỗi nhất cũng trở nên phong phú và nảy nở những án
văn chương khiến người ta phải thích thú và thán phục. Một
người cha có một đứa con xấu xí, không được một vẻ gì,
nhưng tình thương che mắt ông ta khiến ông ta nhìn những cái
dở, cái xấu của con mình lại thấy nó hay, nó đẹp, và ông ta đi
khoe khắp với bà con, bạn hữu. Nhưng tôi không phải là bố đẻ
của Đôn Kihôtê như người ta tưởng, mà chỉ là bố dượng thôi.
Cho nên, tôi không muốn làm như mọi người, khóc lóc van
xin bạn đọc yêu quý rộng lượng bỏ qua những sai sót trong
quyển sách này. Bạn không phải là người thân kẻ thuộc của
nó, bạn có suy xét riêng và có quyền phê phán nó với tất cả sự
sáng suốt của mình. Bạn lại ở ngay trong nhà bạn, nơi mà bạn
có toàn quyền như nhà vua có toàn quyền trong việc thu thuế
vậy. Phương ngôn có câu: “Một khi không sợ bị tội, con người
có thể giết cả vua”. Hoàn toàn không có cái gì bó buộc bạn và
bạn cứ nghĩ sao nói vậy, khen chê đều vô thưởng vô phạt,
không có gì đáng e ngại cả.
Tôi muốn cuốn sách này tới tay bạn một cách mộc mạc tự
nhiên, không tô điểm bằng những lời tựa hoặc bằng vô số
những bài thơ ca và những lời tán tụng, như người ta vẫn mở
đầu các cuốn sách. Bởi vì, xin thú thật, đối với tôi công việc
biên soạn cả cuốn sách này có vất vả, song cũng không vất vả
bằng việc viết lời mở đầu. Đã bao lần tôi cầm bút lên rồi lại
đặt bút xuống, chẳng biết viết gì. Một hôm, giữa lúc tôi đang
phân vân, tờ giấy trước mặt, quản bút gài tai, khuỷu tay chống
lên bàn, tay ôm má, bỗng đâu có một anh bạn bước vào. Anh
này là một người học rộng tài cao. Thấy tôi ngồi trầm ngâm,
anh hỏi tại sao. Không giấu giếm, tôi trả lời là tôi đang suy
nghĩ về lời mở đầu phải viết cho truyện Đôn Kihôtê, là tôi rất
nản, không muốn làm và cũng chẳng muốn giới thiệu với thiên
hạ những chiến công của trang hiệp sĩ tài ba như vậy.
Anh bạn ạ, tôi nói, tôi chẳng khỏi hổ thẹn trước những lời phê
phán của người giám định nghệ thuật già đời là trước công
chúng mỗi khi thấy tôi, sau bao năm im hơi lặng tiếng, giờ đây
đã ngần này tuổi đầu, đưa ra một câu chuyện khô như ngói,
không chút sáng tạo, bút pháp ngớ ngẩn, ý tứ nghèo nàn, học
vấn thô thiển, thiếu dẫn giải ghi ở lề trang hay phụ chú ghi ở
trang cuối cùng như những cuốn sách khác; và tuy những
quyển này thật là hoang đường và phàm tục những lại được
độc giả khâm phục do chứa đầy những câu châm ngôn của
Arixtôtêlêx, Platôn và nhiều triết gia khác. Tác giả những cuốn
sách đó được coi là những bậc tài giỏi, uyên bác, hùng biện;
nhất là khi họ lại trích những lời trong Thánh kinh thì tưởng
đâu họ là những thánh sống và những thuyết gia giáo lý đại tài.
Câu trên họ tả một anh chàng si tình đồi bại, câu dưới họ dẫn
ra một bài giáo thuyết nhỏ, khiến người đọc cảm thấy vui tai,
mát mắt. Sách của tôi thiếu tất cả những cái đó vì tôi không
biết ghi gì ở ngoài lề trang cũng như ở phần cuối; hơn nữa, tôi
cũng chẳng biết những lời tôi trích dẫn ra do ai viết để còn ghi
tên họ lên đầu cuốn sách theo thứ tự A, B, C… như người ta
thường làm. Cuốn sách của tôi thiếu cả những bài thơ đề tựa
của các vị công tước, hầu tước, bá tước, các vị giám mục, các
mệnh phụ và văn hào nổi danh, mặc dù nếu tôi ngỏ ý với một
vài người bạn quen, họ sẽ tặng cho những bài thơ còn hay hơn
tất cả những tác phẩm của những thi sĩ tiếng tăm nhất trên đất
Tây Ban Nha này. Cuối cùng, anh bạn ạ, tôi nói tiếp, tôi quyết
định vùi sâu chôn chặt anh chàng Đôn Kihôtê trong đống văn
thư lưu trữ của xứ Mantra cho tới khi Trời giúp cho một người
có tài tô son vẽ phấn cho chàng ta. Riêng tôi thấy bất lực do
thiếu học vấn và do bản chất nhút nhát, lười biếng, không chịu
đi tìm kiếm những người nói lên điều mà tôi cũng có thể nói
được nếu không có họ. Đó, chính vì vậy mà anh thấy tôi ngồi
đắn đo, suy nghĩ. Bây giờ, sau khi nghe tôi trình bày, chắc anh
đã hiểu rõ nguyên nhân.
Anh bạn vỗ trán, cười phá lên rồi nói:
- Lạy Chúa, té ra bây giờ tôi mới biết là tôi đã nhầm,anh bạn ạ.
Từ lâu nay kết bạn với nhau, tôi cứ tưởng anh là con người
khôn ngoan và thận trọng. Giờ đây, tôi thấy giữa anh và con
người đó có một khoảng cách khá xa, cũng như trái đất cách
xa mặt trời vậy. Làm sao những việc con con dễ giải quyết như
thế lại có thể chi phối được một trí tuệ già dặn như anh, sẵn
sàng đạp bằng những trở ngại còn lớn hơn nhiều! Thật ra, điều
đó không phải phát sinh từ sự thiếu tài năng mà là từ sự lười
biếng quá mức và sự thiếu suy nghĩ. Muốn biết tôi nói có đúng
hay không, xin hãy lắng nghe và chỉ trong khoảnh khắc, anh sẽ
thấy tôi gạt bằng mọi trở ngại và khắc phục hết những thiếu
sót mà anh vừa nêu ra, nó đã khiến anh phải do dự, lùi bước,
không dám cho ra mắt độc giả chuyện chàng Đôn Kihôtê trứ
danh của anh, ánh sáng và tấm gương hiệp sĩ giang hồ.
Nghe anh bạn nói, tôi bèn hỏi lại:
- Thế theo ý anh thì làm thế nào gạt bỏ được nỗi lo lắng và
những ý nghĩ mơ hồ của tôi?
Anh bạn đáp:
- Trước hết là những bài thơ ca hay những lời tán dương do
những nhân vật có chức có quyền đề tựa. Để giải quyết vấn đề
này, bản thân anh phải chịu khó làm, rồi sau đó ký một cái tên
nào đó, tỉ dụ vua Huan xứ Ấn Độ hay hoàng đế xứ Trapixônđa
là những nhà thơ nổi tiếng xưa kia, theo chỗ tôi biết. Và dù họ
không có tiếng tăm gì chăng nữa, dù kẻ thông thái dởm hoặc
ngứa mồm nào đó chê bai và tỏ vẻ hoài nghi sau lưng anh, anh
cũng chớ quan tâm; cho rằng họ phát hiện ra điều dối giả thì
cũng chẳng chặt được bàn tay cầm bút của anh. Về việc ghi ở
lề trang tên tác giả và sách trong đó anh trích ra những câu
châm ngôn, ngạn ngữ, chỉ cần làm thế nào đưa đúng lúc đúng
chỗ mấy câu La Tinh mà anh đã thuộc lòng hoặc nếu không,
chỉ cần bỏ chút ít công sức ra tìm. Ví dụ, khi người ta nói đến
sự tự do hoặc sự giam cầm, hãy đưa câu La Tinh này vào:
“Ngàn vàng không mua nổi tự do”, rồi ghi ở lề trang tên của
[2]
Ôraxiô hay tên người nào đã nói câu ấy. Bàn về sức mạnh
của sự chết, đã có câu: “Cái chết đến với cả kẻ sang người
hèn”. Nếu nói về tình bạn và tình yêu, hãy lấy ngay câu của
Chúa trong Thánh kinh: “Ta khuyên các ngươi hãy yêu mến kẻ
thù của mình”. Và về những ý nghĩ xấu xa, sách Phúc Âm nói
rằng: “Nhưng ý nghĩ xấu xa xuất phát từ trái tim”. Về sự tráo
trở của con người có câu của Catôn: “Giàu sang nhiều bạn lắm
bè, đến khi hoạn nạn chẳng hề có ai”.
Với những câu La tinh đó hoặc những câu tương tự, anh sẽ
được coi là một nhà thông thái, mà trên đời này, điều đó mang
lại cho ta vinh dự và quyền lợi không nhỏ.
Còn về phần phụ chú ở cuối cuốn sách, chắc chắn có thể làm
được theo cách sau đây: nếu anh định nêu tên một gã khổng lồ
nào đó thì phải là Gôliáx, vì anh không mất gì mà lại có sẵn
một lời phụ chú dài: “Trong cuốn sách của các đế vương có
một chương nói về Gôliáx hay Gôliát, một kẻ ngoại đạo; y đã
bị anh chàng chăn cừu Đavít dùng ná bắn đá giết chết ở thung
lũng Têrêbintô”. Và để tỏ ra mình là một người học rộng, am
hiểu vũ trụ, hãy tìm cách đưa con sông Tahô vào cuốn truyện
của anh, thế là lại được một lời ghi chú nữa rất hay: “Một ông
vua Tây Ban Nha đã đặt tên cho con sông đó là sông Tahô. Nó
bắt nguồn từ một nơi nào đó, chảy qua thành Lixboa nổi tiếng
rồi đổ ra biển, theo lời đồn, cát ở đây có vàng…”. Nếu muốn
tả bọn kẻ cắp, tôi sẽ kể cho nghe chuyện Cacô mà tôi thuộc
lòng, tả gái giang hồ, có chuyện Lamia, Laiđa và Phlôra của
giám mục Mônđôgnêđô với rất nhiều ghi chú: tả những kẻ
[3]
hung bạo, có nhân vật Mêlêđa của Ôviđiô ; tả bọn phù thủy
có Calipxô của Ôraxiô và Xirxê của Virhiliô; tả những viên
[4]
tướng dũng cảm có Hồi ký của Huliô Xêdar
và tác phẩm
[5]
của Plutarcô . Nói về tình yêu, chỉ cần biết dăm ba chữ Ý là
tìm được vô số tài liệu trong sách của Lêôn Êbrêđô; còn nếu
không muốn dùng sách nước ngoài thì ngay trong nước ta
cũng có cuốn Tình yêu của Chúa do Phônxêca viết, trong đó
có tất cả những điều mà anh và những người khó tính nhất yêu
cầu. Tóm lại, chỉ cần anh ghi tên những chuyện đó vào cuốn
sách của anh, còn phần chú giải và phụ chú đã có tôi; tôi xin
cam đoan ghi đầy lề trang và cả bốn trang cuối cuốn sách.
Bây giờ đến việc ghi tên tác giả những cuốn sách tham khảo
như người ta vẫn thường làm. Việc này rất dễ vì chỉ cần kiếm
một cuốn sách nào đã ghi sẵn tất cả những cái tên đó từ A đến
Z như anh nói, rồi bê nguyên văn vào sách của anh. Nếu sau
đây có ai phát hiện ra vì thấy những sách đó cũng chẳng giúp
ích gì nhiều cho anh thì điều đó không có gì quan trọng. Tuy
nhiên, có thể có những đầu óc đơn giản nghĩ rằng anh đã đưa
tất cả những câu chuyện rối rắm ấy vào trong quyển truyện
giản dị và dễ đọc của anh. Dù thế nào đi chăng nữa, cả cái
bảng tên tác giả dài dằng dặc ấy cũng đủ làm tăng giá trị cuốn
sách. Vả lại, ai mất công đi kiểm tra lại xem anh có dựa vào
những tác giả đó hay không. Hơn nữa, nếu tôi không nhầm,
quyển truyện của anh không cần đến cái mà anh tưởng là
thiếu, vì nó là một bản cáo trạng lên án những loại sách kiếm
hiệp, khác hẳn với những sách của Arixtôtêlêx, thánh Baxiliô
hay Xixêrô. Nhưng chuyện hoang đường kể trong đó không lệ
thuộc vào những yêu cầu chính xác của sự thật, những nhận
xét của ngành thiên văn học, những luật lệ về hình học hay tu
từ học. Anh cũng không phải làm những bài thuyết giáo trong
đó lẫn lộn cả những chuyện thánh thần và chuyện phàm tục,
khiến cho không một người Kitô giáo nào nghe có thể lọt tai.
Có điều phải học tập cách viết, học tập càng tốt, văn càng hay.
Vả chăng tác phẩm của anh chỉ nhằm đánh đổ uy tín của
những sách kiếm hiệp trong đám độc giả tầm thường nên nó
cũng chẳng cần tới những câu châm ngôn của triết gia, những
lời dạy trong Thánh kinh, những bài thơ ca, những diễn văn
hoa mĩ hay những câu chuyện phi thường. Tuy nhiên anh viết
phải đều tay, dùng những chữ dễ hiểu, sáng sủa, đặt đúng chỗ,
sao cho câu văn đọc lên nghe êm tai, nhịp nhàng; phải nói lên
được tất cả ý đồ và quan điểm của mình một cách rõ ràng,
minh bạch. Làm sao khi đọc sách của anh, người buồn chán
phải bật cười, người vui thấy vui thêm, người kém cỏi không
chán, người tài giỏi phải khâm phục, người khó tính không
chê, người khôn ngoan phải khen ngợi. Và nhất là phải luôn
luôn đả kích các loại sách kiếm hiệp rẻ tiền tuy có bị nhiều
người phê phán nhưng lại được một số đông hơn tán thưởng.
Nếu anh đạt được mục đích đó tức là thành công đấy.
Tôi ngồi yên nghe bạn tôi nói. Lý lẽ của anh quả đúng không
thể bẻ được. Tôi chỉ còn biết tán thành và ghi vào đây làm lời
mở đầu qua đó độc giả sẽ thấy rõ tài năng của anh bạn tôi cũng
như sự may mắn của tôi đã gặp đúng lúc một quân sư tài giỏi
như vậy. Và thế là bạn cũng có dịp đọc câu chuyện thật về
chàng Đôn Kihôtê nổi tiếng của xứ Mantra được mọi người ở
huyện Môntiel coi như một tình nhân chung thủy nhất, một
hiệp sĩ dũng cảm nhất, đã bao năm mới lại thấy xuất hiện trong
vùng. Tôi không dám kể công về việc đã giới thiệu với bạn
một trang hiệp sĩ cao quý và đáng khâm phục như vậy, nhưng
tôi mong bạn sẽ cảm ơn tôi vì được làm quen với bác Xantrô
Panhưnga trứ danh, người giám mã của Đôn Kihôtê. Theo tôi,
đó là sự tập trung cao độ nhất cả những nét đáng yêu của một
người giám mã, rải rác trong cả mớ sách viết về các hiệp sĩ
giang hồ. Tới đây, cầu trời phù hộ cho bạn, và cho cả tôi nữa.
Chào bạn.
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I
Tính tình và công việc hàng ngày của nhà quý tộc trứ danh
[6]
Đôn Kihôtê xứ Mantra
Cách đây không lâu, tại một làng nọ ở xứ Mantra mà ta chẳng
cần nhớ tên, có một nhân vật thuộc lớp những nhà quý tộc có
ngọn giáo treo trên giá làm cảnh, một cái khiên cũ kỹ, một con
ngựa gầy và một con chó săn. Bữa ăn hàng ngày của chàng chỉ
[7]
có xúp bò, họa hoằn mới được thịt cừu; bừa chiều: thịt hầm ;
thứ bảy: trứng tráng; thứ sáu: đậu; chủ nhật thêm một con
chim câu nho nhỏ, thế là đã mất đứt ba phần tư số thu nhập.
Khoản tiền còn lại dùng để may mặc: áo khoác ngoài bằng da
nhẹ, quần bó và giày nhung dùng trong ngày dạ hội, ngày
thường thi mặc quần áo may bằng loại vải cũng khá tốt. Trong
nhà có một bà quản gia ngoại tứ tuần, một cô cháu gái chưa
đầy đôi mươi và một anh chàng người hầu kiêm cả việc trông
nom ruộng vườn, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con ngựa. Nhà
quý tộc của chúng ta sấp sỉ ngũ tuần, thể chất tráng kiện, da
thịt sắt seo, mặt mũi xương xẩu; chàng có thói quen dậy sớm
và rất thích săn bắn. Theo lời đồn, chàng mang biệt hiệu
Kihađa hoặc Kêxađa. Về điểm này, mỗi tác giả nói một khác,
song, theo sự ước đoán có thể đúng, tê...
Tên truyện : Đôn Kihôtê - Nhà Quý Tộc Tài Ba Xứ Mantra
Nguyên tác : DON QUIJOTE DE LA MANCHA, do nhà xuất
bản Aguilar phát hành tại Madrid năm 1968
Tác giả : Miguel De Cervantes Saavedra
Dịch giả : Trương Đắc Vị
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Ngày xuất bản : Quý IV/2004
Số trang : 1024
Kích thước : 14,5 x 20,5 cm
Trọng lượng : 1020 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng
Giá bìa : 115.000 VNĐ
–––––––––––Nguồn : vnthuquan.net, thuvien-ebook.com
Đánh máy : huytran, Vân Trung Tử
Tạo prc (TVE) : santseiya
Ngày hoàn thành : 13/12/2008
Nơi hoàn thành : Hà Nội
Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - http://www.dtv-ebook.com
Mục Lục
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII
Chương XXIV
Chương XXV
Chương XXVI
Chương XXVII
Chương XXVIII
Chương XXIX
Chương XXX
Chương XXXI
Chương XXXII
Chương XXXIII
Chương XXXIV
Chương XXXV
Chương XXXVI
Chương XXXVII
Chương XXXVIII
Chương XXXIX
Chương XL
Chương XLI
Chương XLII
Chương XLIII
Chương XLIV
Chương XLV
Chương XLVI
Chương XLVII
Chương XLVIII
Chương XLIX
Chương L
Chương LI
Chương LII
PHẦN THỨ HAI
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII
Chương XXIV
Lời giới thiệu
Mighel đê Xervantêx Xaavêđra (Miguel de Cervantes
Saavedra), nhà đại văn hào Tây Ban Nha, sinh tháng 10 năm
1547 tại thị trấn Alcala đê Enarêx, gần thủ đô Mađrít, trong
một gia đình quý tộc nhỏ, đã sa sút. Ông thân sinh ra Xervantêx làm nghề thầy thuốc, phải lang thang từ tỉnh này sang tỉnh
khác để kiếm tiền nuôi sống bảy đứa con. Về thời niên thiếu
của Xervantêx, người ta biết rất ít. Sách chỉ ghi rằng cậu bé
Xervantêx đi theo bố mẹ và đã sống ở Vaiađôlít, Xalamanca,
Mađrít, Xêviia…
Trình độ học vấn của Xêvantêx chỉ ở mức trung bình. Trong
hoàn cảnh gia đình sống nay đây mai đó, Xervantêx không thể
theo học một trường nào đến đầu đến đũa. Có thời kỳ ông học
tại một viện của thầy dòng Giêduýt, thời kỳ sau ông lại theo
học một học giả nổi tiếng ở Mađrít là Huan Lôpêx đê Ôiô. Tuy
nhiên, bù đắp vào sự thiếu sót đó, Xervan-têx có trí thông
minh, óc nhận xét và tính ham đọc sách. Sự nghiệp văn
chương của ông mở đầu bằng một bài thơ làm vào dịp hoàng
hậu Tây Ban Nha Idabel đê Valôix tạ thế. Năm đó, ông 21 tuổi
(1568).
Vào thời kỳ này, Ý-đại-lợi là một nơi tụ tập những kẻ đi tìm
công danh trong binh nghiệp hoặc văn chương. Năm 1569,
người ta thấy Xervantêx tại Rôma, phục vụ giáo chủ Huliô
Aquaviva. Năm sau, Xervantêx gia nhập quân đội Tây Ban
Nha đồn trú trên đất Ý. Năm 1571, trong trận thủy chiến
Lêpantô giữa một bên là đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, một bên là mấy
thành thị Ý liên minh với Tây Ban Nha do đôn Huan đê
Aoxtria chỉ huy, Xervantêx bị trọng thương, bàn tay trái bị
nghiền nát, do đó người ta đặt biệt hiệu cho ông là “Người cụt
tay trong trận Lêpantô”. Năm 1572, ở bệnh viện ra, Xervantêx
lại gia nhập quân đội. Trong ba năm tại ngũ, ông đã qua các
nơi như đảo Xixilia, Xerđênha, hoặc các thành phố như
Phlôrenxia, Hênôva, Napôlêx, Milan, Rôma là những kho tàng
di tích của nền văn học nghệ thuật cổ điển Hy-La. Năm 1575,
ông về nước với một bức thư giới thiệu của chủ tướng là đôn
Huan đê Aoxtria, hy vọng sẽ được nhà vua trọng dụng. Rủi
thay, ngày 26 tháng 9, trên đường về Tây Ban Nha, tàu của
ông bị bọn cướp biển tấn công và ông bị bắt giải về Arhêl
(Alger).
Trong thời gian bị cầm tù Arhêl (1575 - 1580), ông luôn luôn
có ý chí đấu tranh, khuyến khích bạn bè giữ vững tinh thần tìm
cơ hội thoát thân. Ông tổ chức bốn, năm lần vượt ngục nhưng
đều thất bại, và mỗi lần, ông đã can đảm nhận phần trách
nhiệm của người chủ mưu. Tinh thần dũng cảm và lòng vị tha
của Xervantêx không những gây tín nhiệm trong anh em cùng
chung số phận mà còn làm cho chính vua Arhêl phải kính nể,
không giết. Quãng đời này của Xervan-têx đã được nhắc lại
trong câu chuyện Người tù, trong cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê
- Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Cũng trong thời gian này, ông
đã nhiều lần cầu cứu những nhân viên cao cấp Tây Ban Nha
giải thoát cho ông, song đều vô hiệu. Cuối cùng, chính gia
đình ông phải lo liệu tiền nong và, với sự giúp đỡ của Nhà
dòng, chuộc được ông về nước.
Lúc này, Xervantêx 33 tuổi. Ông trở về Tây Ban Nha, những
tưởng với công trạng xưa của mình, sẽ được triều đình cất
nhắc. Nhưng, thất vọng. Năm 1585, ông lập gia đình với
Catalina đê Palaxiô Xaladar. Ngán ngẩm bước đường công
danh lận đận, lại gặp những khó khăn kinh tế, ông bắt đầu viết
sách để kiếm thêm tiền nuôi sống gia đình.
Tập La Galatêa là tác phẩm đầu tay của Xervantêx (1585).
Cũng trong thời gian này, ông sáng tác trên hại chục vở kịch
được đưa lên sân khấu. Nhưng nhà viết kịch thiên tài Lôpê đê
Vêga (Lope de Vega), “Lôpêt vĩ đại” như chính Xer-vantêx
gọi, đã xuất hiện, và Xervantêx bỏ nghề viết kịch.
Cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra,
tác phẩm xuất sắc nhất của Mighel đê Xervantex Xaavêđra, ra
đời năm 1605 (phần thứ nhất - 52 chương). Người ta cho rằng
ông bắt đầu sáng tác vào năm 1602, lúc đang ở trong nhà tù
Xêviia, vì như ông đã viết trong lời nói đầu, “tôi thai nghén nó
(cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra ND) trong một nhà tù, nơi trú ngụ của mọi bất tiện và mọi âm
thanh buồn thảm”.
Năm 1614, ở Taragôna bỗng dưng xuất hiện Tập hai cuốn Đôn
Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Tác giả đã không giám
ký tên thật của mình mà núp dưới cái tên giả là Alphônxô
Phernanđêx đê Avêianêđa. Năm sau, 1615, Xervantêx xuất bản
lần thứ hai cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
xứ Mantra (gồm 74 chương). Qua lời mở đầu phần này, ông
vạch mặt kẻ cướp đoạt văn chương. Trong phần thứ hai cuốn
tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra, nghệ
thuật của Xervantêx càng tỏ ra điêu luyện, già dặn. Tác phẩm
cuối cùng của ông là cuốn Perxilêx và Xihixmunđa.
Từ ngày ở Arhêl về nước cho tới cuối đời, Xervantêx vừa
viết văn, vừa phải nhận của triều đình một số việc linh tinh để
bảo đảm sinh kế, khi làm nhiệm vụ tiếp lương cho hạm đội
Armađa bách chiến bách thắng, lúc đi thu thuế, v.v… đôi ba
lần phải ra tòa, bị ngồi tù oan ức, mà cuối cùng nghèo túng vẫn
hoàn nghèo túng. Sách có ghi lại một câu chuyện như sau:
Vào tháng 2 năm 1615, có một đoàn sử giả Pháp sang Tây Ban
Nha để đón công chúa Ana đê Aoxtria. Lâu nay hâm mộ tài
năng của Xervantêx, họ xin được tới thăm ông. Tới nơi, thấy
cảnh nhà quá thanh bạch, một người thốt lên: “Sao! Một con
người như vậy mà nước Tây Ban Nha không lấy công quỹ
cung dưỡng và làm cho giàu có ư!”. Một người khác nói thêm
một cách ý nhị: “Nếu sự nghèo túng buộc ông ta phải viết sách
thì cầu Chúa cho ông ta không bao giờ sung túc để những tác
phẩm của một người nghèo như ông làm giàu thiên hạ”.
Ngày 23 tháng 4 năm 1616, Mighel đê Xervantêx Xaavêđra
qua đời tại Mađrít. Khi đó, ông 69 tuổi.
*
**
Từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
ba xứ Mantra đã chinh phục dư luận người đọc trong nước
cũng như ngoài nước. Ngay trong năm 1605, tại Tây Ban Nha,
tập truyện đã được tái bản 5 lần, và sinh thời, Xervantêx đã
nhìn thấy tác phẩm của mình được xuất bản 13 lần (6 lần ở
Tây Ban Nha, 3 lần ở Bồ Đào Nha, 3 lần ở Bỉ, 1 lần ở Ý). Trải
qua gần 400 năm, vượt ra khỏi sự đào thải của thời gian, Đôn
Kyhôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra vẫn giành được sự hâm
mộ rộng khắp và được công nhận là một trong những tác phẩm
văn học lớn nhất của nhân loại. Năm 1795, nhà đại văn hào
Đức, Gớt (Goethe), viết cho nhà thơ lớn Silơ (Schiller): “Tôi
đã tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết của Xervantêx cả một kho
tàng thú vị và bổ ích”.
Pho truyện thật sự đã đi sâu vào quần chúng. Trong các ngày
hội, những cuộc vui hóa trang ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
cũng như ở nhiều nước châu Âu khác, người ta thường thấy
xuất hiện hiệp sĩ đôn Kihôtê và giám mã Xantrô Panxa “hệt
như tả trong truyện”, Cuốn sách đã được dịch ra hầu hết các
thứ tiếng trên thế giới: Anh, Pháp, Ý, Đức, Thổ, Arập, Êbrơ,
Xăngxcri, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên… và cả Thế giới
ngữ. Ngót bốn thế kỷ nay, Đôn Kihôtê vẫn là đề tài của sân
khấu, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, màn ảnh. Từ Đông sang
Tây, từ Âu sang Á, các nhà phê bình, triết học, các nhà văn,
nhà thơ, những người làm công tác văn nghệ, không ai không
xác nhận giá trị tư tưởng và nghệ thuật của cuốn truyện này.
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra là cuốn tiểu thuyết
cận đại đầu tiên của Tây Ban Nha, viết theo hướng hiện thực
phê phán. Trước đó, độc giả các nước phương Tây rất ham
thích loại tiểu thuyết kiếm hiệp kể “những truyện hoang đường
không lệ thuộc vào những yêu cầu chính xác của sự thật,
những nhận xét của ngành thiên văn học, những luật lệ về hình
học hay tu từ học” (Lời mở đầu phần thứ nhất, cuốn tiểu
thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Loại tiểu
thuyết hoang đường đó có tác dụng rất tai hại vì nó tạo cho
người đọc một quan niệm hoàn toàn sai lầm về vũ trụ, về nhân
sinh, về tư tưởng, về xã hội. Sách kể lại rằng có cả một gia
đình đã khóc lóc thảm thiết khi đọc tới đoạn nói về cái chết
của hiệp sĩ Amađix! Với cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà
quý tộc tài ba xứ Mantra, Xervantêx đã chôn vùi văn chương
kiếm hiệp và khai sinh cho tiểu thuyết cận đại. Selinh
(Schelling), triết gia Đức, đã phát biểu: “Chúng ta sẽ không
quá lời khi khẳng định rằng cho tới nay chỉ có hai cuốn tiểu
thuyết, đó là cuốn Đôn Kihôtê của Xervantêx và cuốn Vinhem
Maixtơ của Gớt”. Sơlêgơn (Schlegel), nhà phê bình văn học
người Đức, cũng đã đánh giá Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
xứ Mantra là “tác phẩm có một không hai trong loại của nó,
mở đầu cho tiểu thuyết cận đại…”
Toàn bộ cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra gồm 126 chương, là một bức tranh sinh động về xã hội
Tây Ban Nha với những màu sắc thật của địa phương, của thời
đại. Tác giả đã đưa vào truyện trên hai trăm con người thuộc
đủ lứa tuổi và tầng lớp, từ lão chủ quán “giảo quyệt” đến
những cô gái quán trọ “nom cũng chẳng phải thiện nhân”, từ
chàng sinh viên Grixôxtômô si tình đến cô Marxêla xinh đẹp
và yêu tự do, từ gã lái la độc ác đến tên chủ trại tham lam, cha
xứ, bác phó cạo, bà quản gia, ông thầy tu, lão chăn dê, viên
cảnh sát, đám phạm nhân cùng một loạt vương tôn công tử,
quan lại, nhà giàu… Và ngần ấy con người xoay quanh hai
nhân vật chính là anh chàng quý tộc nhưng nghèo đôn Kihôtê
và bác giám mã Xantrô Panxa, một thợ cày chính cống. Tác
giả đã đưa hiệp sĩ và giám mã của chàng đi khắp đó đây trên
đất nước Tây Ban Nha, từ thành thị đến thôn quê, từ những
cánh đồng bao la tới những miền núi sâu vực thẳm, từ những
quán trọ bình dân tới chốn thâm nghiêm quyền quý. Cảnh vật,
con người đều có thật. Và nếu như trí tưởng tượng phong phú
của Đôn Kihôtê đã biến quán trọ thành lâu đài, chậu thau
thành mũ sắt, đàn cừu thành đạo quân thì, trái lại, những lời
nói giản dị mà chí lý của bác giám mã gốc nông dân luôn luôn
lôi kéo ta về với hiện thực. Tóm lại, Xervantêx phản ánh khá
toàn diện cuộc sống thật của xã hội đương thời. Và ông đã
thành công.
*
**
Một hôm, vua Tây Ban Nha Phêlipê III đứng trên lâu đài
nhìn xuống đường, thấy một anh học trò đang đọc một cuốn
sách, thỉnh thoảng lại ngừng đọc cười vang. Nhà vua thầm
nghĩ: “Hoặc tên học trò kia điên, hoặc là hắn đang đọc cuốn
tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra”. Quả
nhiên anh học trò đang đọc cuốn tiểu thuyết đó thật.
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra đúng là một cuốn
tiểu thuyết giàu tính trào lộng. Làm sao người đọc không cười
được khi thấy Đôn Kihôtê một thương một mã lăn xả vào tấn
công những chiếc cối xay gió vô tội trên cánh đồng Môntiel
mà chàng tưởng là “những tên khổng lồ hung tợn có cánh tay
dài tới gần hai dặm”, hoặc khi chàng cứ nhè những bao rượu
trong quán trọ mà đâm, mà chém, ngỡ mình đang đọ sức với
tên khổng lồ ở vương quốc Mi-cômicôn!
Thế nhưng Đôn Kihôtê có phải là một kẻ viển vông, điên rồ
không? Và Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra phải
chăng chỉ là pho sách kể về những hành động nực cười của
chàng hiệp sĩ xứ Mantra? Bàn về tác phẩm số một của
Xervantêx, năm 1821 Bairơn (Byron), nhà đại thi hào Anh,
viết: “Đó là cuốn truyện buồn nhất, và nó càng buồn vì làm
chúng ta cười”. Prôxper Mêrimê (Prosper Mérimée), nhà văn
thế kỷ XIX của Pháp, cũng đã nói: “Bất hạnh thay kẻ nào
không có được một vài ý nghĩ của Đôn Kihôtê và không dám
cả gan nhận roi đòn cùng sự chế giễu để bênh vực kẻ yếu
hèn!”.
Có hai cách đọc tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
Mantra: một là trên những dòng chữ, và ta sẽ thấy toàn bộ pho
sách là mũi nhọn tấn công vào tiểu thuyết kiếm hiệp; hai là
đọc giữa những dòng chữ để tìm hiểu ý tứ sâu xa của tác giả
và tác phẩm. Đọc theo cách thứ hai ta sẽ thấy toát ra từ toàn bộ
tác pho truyện một bài học nhẹ nhàng, ý nhị về chính nghĩa,
công lý, tự do. Đôn Kihôtê là một người chân chính. Mục đích
cuộc đời chàng là “trả thù cho những người bị xúc phạm, bênh
vực kẻ hèn yếu, uốn nắn những điều sai trái, phi lý, đả phá mọi
lạm dụng, bất công”. Ta hãy xem chàng lý luận với tên chủ trại
và giải thoát cho chú bé chăn cừu Anđrê bị tên này hành hạ và
quịt tiền công:
“- Tên đê tiện này dám nói dối cả ta ư? Đôn Kihôtê thét lên…
Cởi trói cho nó ngay.
Tên chủ trại cúi đầu, không dám hé răng, vội vàng cởi trói cho
chú bé. Đôn Kihôtê hỏi số tiền công chủ còn thiếu là bao
nhiêu. Chú bé thưa rằng chủ còn nợ chín tháng công, mỗi
tháng bảy đồng. Đôn Kihôtê nhân lên thành sáu mươi ba đồng,
chàng bảo tên chủ trại muốn sống phải trả ngay. Tên này sợ
hãi đáp rằng đúng như lời y đã thề (thực ra y đã thề câu nào
đâu), số tiền không nhiều đến thế vì y đã chi cho chú bé ba đôi
giày và một đồng để chích máu hai lần khi chú ốm.
- Được rồi, Đôn Kihôtê vặn lại; nhưng việc thằng bé phải chịu
roi vọt, mặc dù nó không có tội tình gì, cũng đủ bù vào số tiền
giày và tiền chích máu. Nó làm rách da giày của ngươi thì
ngươi làm rách da thịt của nó. Người ta chích máu khi nó đau
ốm thì ngươi chích máu khi nó mạnh khỏe. Như vậy là hòa…”
Đôn Kihôtê - hay nói đúng hơn là Xervantêx - đã vạch trần
tính tham lam độc ác của bọn nhà giàu thôn quê.
Đây, một đoạn khác về tính chất hà khắc và thối nát của pháp
luật phong kiến. Một hôm, trên đường phiêu lưu, Đôn Kihôtê
gặp một toán người “cổ đeo chung một dây xiềng to bằng sắt,
tay đeo xích; đi theo họ có hai người cưỡi ngựa và hai người đi
bộ; hai người cưỡi ngựa có súng còn hai người đi bộ cầm
gươm mác”. Chàng hiệp sĩ bèn dừng ngựa hỏi duyên cớ vì đâu
mà họ khốn khổ như vậy. Đám tù nhân đã kể tội trạng của họ:
một anh chỉ vì quá “yêu” một cái giành quần áo mà phải chịu
một trăm roi và ba năm khổ sai; một anh ăn trộm gia súc mà bị
hai trăm roi và sáu năm khổ sai; một anh bị năm năm khổ sai
chỉ vì không có mười đồng tiền vàng đút lót cho bọn lục sự,
biện lý; một ông già “đạo mạo” cũng bị đưa đi đày chỉ vì ông
muốn cho mọi người sung sướng sống yên lành, vui vẻ với
nhau, không cãi cọ, không ưu phiền…”
Trong những hành động có vẻ điên rồ của Đôn Kihôtê, vẫn
thấy toát lên tình thương yêu nhân loại. Nếu đối với Xantrô
Panxa, những cối xay gió là… những cối xay gió, thì trái lại,
dưới con mắt của Đôn Kihôtê, chúng là những tên khổng lồ
hung ác, một giống xấu xa cần phải quét sạch khỏi trái đất”.
Đôn Kihôtê yêu tự do, công lý, chính nghĩa. Chàng mong
muốn với “cánh tay dũng mãnh” của mình mang lại hạnh
phúc, cuộc sống yên vui cho mọi người. Với một tinh thần
dũng cảm, không biết sợ, không ngại gian nguy, đơn thương
độc mã, chàng lao vào “cuộc chiến đấu không cân xứng”, luôn
luôn tin tưởng và lạc quan, mặc dù mỗi lần lại bị biêu đầu sứt
trán trước những thực tế đáng buồn của thời đại.
Đôn Kihôtê là biểu hiện của sự tương phản giữa thực tế phũ
phàng với lý tưởng cao đẹp mà chàng mơ ước và chiến đấu
cho nó, là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đấu tranh giữa thế
giới thực tại và thế giới tương lai mà chúng ta vươn tới. Cuộc
sống phải trút bỏ cái vỏ bề ngoài của nó, trút bỏ sự giả dối, ích
kỷ, bất công, và phải mang trong nó những ước mơ và làm cho
những ước mơ đó trở thành hiện thực.
Đó là nội dung tư tưởng sâu xa của tác phẩm.
*
**
Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra là một kho tiểu
thuyết trường thiên bằng tiếng Tây Ban Nha. Khung cảnh hoạt
động của các nhân vật là một địa bàn bao la, với nhiều màu sắc
dân tộc, với những đặc điểm của từng địa phương và những
tính cách riêng biệt của từng nhân vật. Tác giả cũng đã sử
dụng một ngôn ngữ phong phú, đa dạng, đặc biệt là ông dùng
nhiều ca dao, tục ngữ, từ ngữ dân gian của từng vùng đất nước
Tây Ban Nha. Văn chương trong Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
ba xứ Mantra lại là văn chương của thế kỷ XVI - XVII. Dịch
nó quả là khó. Bản dịch này chắc không khỏi còn những sai
sót, những “hạt sạn” mà trình độ có hạn của tôi đã không cho
phép tôi tránh được. Tôi thành thật mong độc giả lượng thứ
cho. Tôi cũng trông chờ những nhận xét, phê bình của các bạn
để rút kinh nghiệm cho bản dịch phần thứ hai cuốn truyện
được tốt hơn.
Người dịch
Lời nói đầu
Độc giả nhàn hạ, chẳng cần thề thốt, tôi chắc rằng các bạn
cũng phải tin rằng tôi muốn cuốn sách này - con đẻ của trí tuệ
- phải là cuốn sách hay nhất, tốt nhất, hoàn hảo nhất mà người
đời có thể hình dung được. Nhưng tôi không thể làm trái quy
luật tạo hóa là loài nào sinh ra giống nấy. Thành thử, với khối
óc khô cằn và thô thiển của mình, tôi chỉ có thể tạo nên một
câu chuyện khô khan, ngô nghê, vô lý, đầy rẫy những ý tưởng
tản mạn không ai nghĩ tới bao giờ. Vả chăng, tôi đã thai nghén
[1]
nó ở trong một nhà tù , nơi trú ngụ của mọi bất tiện và mọi
âm thanh buồn thảm. Cảnh vật yên tĩnh, thôn xóm thanh bình,
đồng quê êm ả, bầu trời trong sáng, tiếng suối róc rách, tâm trí
thảnh thơi, nhưng cái đó một phần lớn khiến cho những thi
hứng cằn cỗi nhất cũng trở nên phong phú và nảy nở những án
văn chương khiến người ta phải thích thú và thán phục. Một
người cha có một đứa con xấu xí, không được một vẻ gì,
nhưng tình thương che mắt ông ta khiến ông ta nhìn những cái
dở, cái xấu của con mình lại thấy nó hay, nó đẹp, và ông ta đi
khoe khắp với bà con, bạn hữu. Nhưng tôi không phải là bố đẻ
của Đôn Kihôtê như người ta tưởng, mà chỉ là bố dượng thôi.
Cho nên, tôi không muốn làm như mọi người, khóc lóc van
xin bạn đọc yêu quý rộng lượng bỏ qua những sai sót trong
quyển sách này. Bạn không phải là người thân kẻ thuộc của
nó, bạn có suy xét riêng và có quyền phê phán nó với tất cả sự
sáng suốt của mình. Bạn lại ở ngay trong nhà bạn, nơi mà bạn
có toàn quyền như nhà vua có toàn quyền trong việc thu thuế
vậy. Phương ngôn có câu: “Một khi không sợ bị tội, con người
có thể giết cả vua”. Hoàn toàn không có cái gì bó buộc bạn và
bạn cứ nghĩ sao nói vậy, khen chê đều vô thưởng vô phạt,
không có gì đáng e ngại cả.
Tôi muốn cuốn sách này tới tay bạn một cách mộc mạc tự
nhiên, không tô điểm bằng những lời tựa hoặc bằng vô số
những bài thơ ca và những lời tán tụng, như người ta vẫn mở
đầu các cuốn sách. Bởi vì, xin thú thật, đối với tôi công việc
biên soạn cả cuốn sách này có vất vả, song cũng không vất vả
bằng việc viết lời mở đầu. Đã bao lần tôi cầm bút lên rồi lại
đặt bút xuống, chẳng biết viết gì. Một hôm, giữa lúc tôi đang
phân vân, tờ giấy trước mặt, quản bút gài tai, khuỷu tay chống
lên bàn, tay ôm má, bỗng đâu có một anh bạn bước vào. Anh
này là một người học rộng tài cao. Thấy tôi ngồi trầm ngâm,
anh hỏi tại sao. Không giấu giếm, tôi trả lời là tôi đang suy
nghĩ về lời mở đầu phải viết cho truyện Đôn Kihôtê, là tôi rất
nản, không muốn làm và cũng chẳng muốn giới thiệu với thiên
hạ những chiến công của trang hiệp sĩ tài ba như vậy.
Anh bạn ạ, tôi nói, tôi chẳng khỏi hổ thẹn trước những lời phê
phán của người giám định nghệ thuật già đời là trước công
chúng mỗi khi thấy tôi, sau bao năm im hơi lặng tiếng, giờ đây
đã ngần này tuổi đầu, đưa ra một câu chuyện khô như ngói,
không chút sáng tạo, bút pháp ngớ ngẩn, ý tứ nghèo nàn, học
vấn thô thiển, thiếu dẫn giải ghi ở lề trang hay phụ chú ghi ở
trang cuối cùng như những cuốn sách khác; và tuy những
quyển này thật là hoang đường và phàm tục những lại được
độc giả khâm phục do chứa đầy những câu châm ngôn của
Arixtôtêlêx, Platôn và nhiều triết gia khác. Tác giả những cuốn
sách đó được coi là những bậc tài giỏi, uyên bác, hùng biện;
nhất là khi họ lại trích những lời trong Thánh kinh thì tưởng
đâu họ là những thánh sống và những thuyết gia giáo lý đại tài.
Câu trên họ tả một anh chàng si tình đồi bại, câu dưới họ dẫn
ra một bài giáo thuyết nhỏ, khiến người đọc cảm thấy vui tai,
mát mắt. Sách của tôi thiếu tất cả những cái đó vì tôi không
biết ghi gì ở ngoài lề trang cũng như ở phần cuối; hơn nữa, tôi
cũng chẳng biết những lời tôi trích dẫn ra do ai viết để còn ghi
tên họ lên đầu cuốn sách theo thứ tự A, B, C… như người ta
thường làm. Cuốn sách của tôi thiếu cả những bài thơ đề tựa
của các vị công tước, hầu tước, bá tước, các vị giám mục, các
mệnh phụ và văn hào nổi danh, mặc dù nếu tôi ngỏ ý với một
vài người bạn quen, họ sẽ tặng cho những bài thơ còn hay hơn
tất cả những tác phẩm của những thi sĩ tiếng tăm nhất trên đất
Tây Ban Nha này. Cuối cùng, anh bạn ạ, tôi nói tiếp, tôi quyết
định vùi sâu chôn chặt anh chàng Đôn Kihôtê trong đống văn
thư lưu trữ của xứ Mantra cho tới khi Trời giúp cho một người
có tài tô son vẽ phấn cho chàng ta. Riêng tôi thấy bất lực do
thiếu học vấn và do bản chất nhút nhát, lười biếng, không chịu
đi tìm kiếm những người nói lên điều mà tôi cũng có thể nói
được nếu không có họ. Đó, chính vì vậy mà anh thấy tôi ngồi
đắn đo, suy nghĩ. Bây giờ, sau khi nghe tôi trình bày, chắc anh
đã hiểu rõ nguyên nhân.
Anh bạn vỗ trán, cười phá lên rồi nói:
- Lạy Chúa, té ra bây giờ tôi mới biết là tôi đã nhầm,anh bạn ạ.
Từ lâu nay kết bạn với nhau, tôi cứ tưởng anh là con người
khôn ngoan và thận trọng. Giờ đây, tôi thấy giữa anh và con
người đó có một khoảng cách khá xa, cũng như trái đất cách
xa mặt trời vậy. Làm sao những việc con con dễ giải quyết như
thế lại có thể chi phối được một trí tuệ già dặn như anh, sẵn
sàng đạp bằng những trở ngại còn lớn hơn nhiều! Thật ra, điều
đó không phải phát sinh từ sự thiếu tài năng mà là từ sự lười
biếng quá mức và sự thiếu suy nghĩ. Muốn biết tôi nói có đúng
hay không, xin hãy lắng nghe và chỉ trong khoảnh khắc, anh sẽ
thấy tôi gạt bằng mọi trở ngại và khắc phục hết những thiếu
sót mà anh vừa nêu ra, nó đã khiến anh phải do dự, lùi bước,
không dám cho ra mắt độc giả chuyện chàng Đôn Kihôtê trứ
danh của anh, ánh sáng và tấm gương hiệp sĩ giang hồ.
Nghe anh bạn nói, tôi bèn hỏi lại:
- Thế theo ý anh thì làm thế nào gạt bỏ được nỗi lo lắng và
những ý nghĩ mơ hồ của tôi?
Anh bạn đáp:
- Trước hết là những bài thơ ca hay những lời tán dương do
những nhân vật có chức có quyền đề tựa. Để giải quyết vấn đề
này, bản thân anh phải chịu khó làm, rồi sau đó ký một cái tên
nào đó, tỉ dụ vua Huan xứ Ấn Độ hay hoàng đế xứ Trapixônđa
là những nhà thơ nổi tiếng xưa kia, theo chỗ tôi biết. Và dù họ
không có tiếng tăm gì chăng nữa, dù kẻ thông thái dởm hoặc
ngứa mồm nào đó chê bai và tỏ vẻ hoài nghi sau lưng anh, anh
cũng chớ quan tâm; cho rằng họ phát hiện ra điều dối giả thì
cũng chẳng chặt được bàn tay cầm bút của anh. Về việc ghi ở
lề trang tên tác giả và sách trong đó anh trích ra những câu
châm ngôn, ngạn ngữ, chỉ cần làm thế nào đưa đúng lúc đúng
chỗ mấy câu La Tinh mà anh đã thuộc lòng hoặc nếu không,
chỉ cần bỏ chút ít công sức ra tìm. Ví dụ, khi người ta nói đến
sự tự do hoặc sự giam cầm, hãy đưa câu La Tinh này vào:
“Ngàn vàng không mua nổi tự do”, rồi ghi ở lề trang tên của
[2]
Ôraxiô hay tên người nào đã nói câu ấy. Bàn về sức mạnh
của sự chết, đã có câu: “Cái chết đến với cả kẻ sang người
hèn”. Nếu nói về tình bạn và tình yêu, hãy lấy ngay câu của
Chúa trong Thánh kinh: “Ta khuyên các ngươi hãy yêu mến kẻ
thù của mình”. Và về những ý nghĩ xấu xa, sách Phúc Âm nói
rằng: “Nhưng ý nghĩ xấu xa xuất phát từ trái tim”. Về sự tráo
trở của con người có câu của Catôn: “Giàu sang nhiều bạn lắm
bè, đến khi hoạn nạn chẳng hề có ai”.
Với những câu La tinh đó hoặc những câu tương tự, anh sẽ
được coi là một nhà thông thái, mà trên đời này, điều đó mang
lại cho ta vinh dự và quyền lợi không nhỏ.
Còn về phần phụ chú ở cuối cuốn sách, chắc chắn có thể làm
được theo cách sau đây: nếu anh định nêu tên một gã khổng lồ
nào đó thì phải là Gôliáx, vì anh không mất gì mà lại có sẵn
một lời phụ chú dài: “Trong cuốn sách của các đế vương có
một chương nói về Gôliáx hay Gôliát, một kẻ ngoại đạo; y đã
bị anh chàng chăn cừu Đavít dùng ná bắn đá giết chết ở thung
lũng Têrêbintô”. Và để tỏ ra mình là một người học rộng, am
hiểu vũ trụ, hãy tìm cách đưa con sông Tahô vào cuốn truyện
của anh, thế là lại được một lời ghi chú nữa rất hay: “Một ông
vua Tây Ban Nha đã đặt tên cho con sông đó là sông Tahô. Nó
bắt nguồn từ một nơi nào đó, chảy qua thành Lixboa nổi tiếng
rồi đổ ra biển, theo lời đồn, cát ở đây có vàng…”. Nếu muốn
tả bọn kẻ cắp, tôi sẽ kể cho nghe chuyện Cacô mà tôi thuộc
lòng, tả gái giang hồ, có chuyện Lamia, Laiđa và Phlôra của
giám mục Mônđôgnêđô với rất nhiều ghi chú: tả những kẻ
[3]
hung bạo, có nhân vật Mêlêđa của Ôviđiô ; tả bọn phù thủy
có Calipxô của Ôraxiô và Xirxê của Virhiliô; tả những viên
[4]
tướng dũng cảm có Hồi ký của Huliô Xêdar
và tác phẩm
[5]
của Plutarcô . Nói về tình yêu, chỉ cần biết dăm ba chữ Ý là
tìm được vô số tài liệu trong sách của Lêôn Êbrêđô; còn nếu
không muốn dùng sách nước ngoài thì ngay trong nước ta
cũng có cuốn Tình yêu của Chúa do Phônxêca viết, trong đó
có tất cả những điều mà anh và những người khó tính nhất yêu
cầu. Tóm lại, chỉ cần anh ghi tên những chuyện đó vào cuốn
sách của anh, còn phần chú giải và phụ chú đã có tôi; tôi xin
cam đoan ghi đầy lề trang và cả bốn trang cuối cuốn sách.
Bây giờ đến việc ghi tên tác giả những cuốn sách tham khảo
như người ta vẫn thường làm. Việc này rất dễ vì chỉ cần kiếm
một cuốn sách nào đã ghi sẵn tất cả những cái tên đó từ A đến
Z như anh nói, rồi bê nguyên văn vào sách của anh. Nếu sau
đây có ai phát hiện ra vì thấy những sách đó cũng chẳng giúp
ích gì nhiều cho anh thì điều đó không có gì quan trọng. Tuy
nhiên, có thể có những đầu óc đơn giản nghĩ rằng anh đã đưa
tất cả những câu chuyện rối rắm ấy vào trong quyển truyện
giản dị và dễ đọc của anh. Dù thế nào đi chăng nữa, cả cái
bảng tên tác giả dài dằng dặc ấy cũng đủ làm tăng giá trị cuốn
sách. Vả lại, ai mất công đi kiểm tra lại xem anh có dựa vào
những tác giả đó hay không. Hơn nữa, nếu tôi không nhầm,
quyển truyện của anh không cần đến cái mà anh tưởng là
thiếu, vì nó là một bản cáo trạng lên án những loại sách kiếm
hiệp, khác hẳn với những sách của Arixtôtêlêx, thánh Baxiliô
hay Xixêrô. Nhưng chuyện hoang đường kể trong đó không lệ
thuộc vào những yêu cầu chính xác của sự thật, những nhận
xét của ngành thiên văn học, những luật lệ về hình học hay tu
từ học. Anh cũng không phải làm những bài thuyết giáo trong
đó lẫn lộn cả những chuyện thánh thần và chuyện phàm tục,
khiến cho không một người Kitô giáo nào nghe có thể lọt tai.
Có điều phải học tập cách viết, học tập càng tốt, văn càng hay.
Vả chăng tác phẩm của anh chỉ nhằm đánh đổ uy tín của
những sách kiếm hiệp trong đám độc giả tầm thường nên nó
cũng chẳng cần tới những câu châm ngôn của triết gia, những
lời dạy trong Thánh kinh, những bài thơ ca, những diễn văn
hoa mĩ hay những câu chuyện phi thường. Tuy nhiên anh viết
phải đều tay, dùng những chữ dễ hiểu, sáng sủa, đặt đúng chỗ,
sao cho câu văn đọc lên nghe êm tai, nhịp nhàng; phải nói lên
được tất cả ý đồ và quan điểm của mình một cách rõ ràng,
minh bạch. Làm sao khi đọc sách của anh, người buồn chán
phải bật cười, người vui thấy vui thêm, người kém cỏi không
chán, người tài giỏi phải khâm phục, người khó tính không
chê, người khôn ngoan phải khen ngợi. Và nhất là phải luôn
luôn đả kích các loại sách kiếm hiệp rẻ tiền tuy có bị nhiều
người phê phán nhưng lại được một số đông hơn tán thưởng.
Nếu anh đạt được mục đích đó tức là thành công đấy.
Tôi ngồi yên nghe bạn tôi nói. Lý lẽ của anh quả đúng không
thể bẻ được. Tôi chỉ còn biết tán thành và ghi vào đây làm lời
mở đầu qua đó độc giả sẽ thấy rõ tài năng của anh bạn tôi cũng
như sự may mắn của tôi đã gặp đúng lúc một quân sư tài giỏi
như vậy. Và thế là bạn cũng có dịp đọc câu chuyện thật về
chàng Đôn Kihôtê nổi tiếng của xứ Mantra được mọi người ở
huyện Môntiel coi như một tình nhân chung thủy nhất, một
hiệp sĩ dũng cảm nhất, đã bao năm mới lại thấy xuất hiện trong
vùng. Tôi không dám kể công về việc đã giới thiệu với bạn
một trang hiệp sĩ cao quý và đáng khâm phục như vậy, nhưng
tôi mong bạn sẽ cảm ơn tôi vì được làm quen với bác Xantrô
Panhưnga trứ danh, người giám mã của Đôn Kihôtê. Theo tôi,
đó là sự tập trung cao độ nhất cả những nét đáng yêu của một
người giám mã, rải rác trong cả mớ sách viết về các hiệp sĩ
giang hồ. Tới đây, cầu trời phù hộ cho bạn, và cho cả tôi nữa.
Chào bạn.
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I
Tính tình và công việc hàng ngày của nhà quý tộc trứ danh
[6]
Đôn Kihôtê xứ Mantra
Cách đây không lâu, tại một làng nọ ở xứ Mantra mà ta chẳng
cần nhớ tên, có một nhân vật thuộc lớp những nhà quý tộc có
ngọn giáo treo trên giá làm cảnh, một cái khiên cũ kỹ, một con
ngựa gầy và một con chó săn. Bữa ăn hàng ngày của chàng chỉ
[7]
có xúp bò, họa hoằn mới được thịt cừu; bừa chiều: thịt hầm ;
thứ bảy: trứng tráng; thứ sáu: đậu; chủ nhật thêm một con
chim câu nho nhỏ, thế là đã mất đứt ba phần tư số thu nhập.
Khoản tiền còn lại dùng để may mặc: áo khoác ngoài bằng da
nhẹ, quần bó và giày nhung dùng trong ngày dạ hội, ngày
thường thi mặc quần áo may bằng loại vải cũng khá tốt. Trong
nhà có một bà quản gia ngoại tứ tuần, một cô cháu gái chưa
đầy đôi mươi và một anh chàng người hầu kiêm cả việc trông
nom ruộng vườn, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con ngựa. Nhà
quý tộc của chúng ta sấp sỉ ngũ tuần, thể chất tráng kiện, da
thịt sắt seo, mặt mũi xương xẩu; chàng có thói quen dậy sớm
và rất thích săn bắn. Theo lời đồn, chàng mang biệt hiệu
Kihađa hoặc Kêxađa. Về điểm này, mỗi tác giả nói một khác,
song, theo sự ước đoán có thể đúng, tê...
 





