BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Rèn luyện thói quen đọc sách - một việc nên làm

    Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, rồi tiến đến hiện tại, Sách và Văn hóa Đọc luôn được đề cao và tôn vinh, đây là nét đẹp mang giá trị văn hóa sâu sắc khó có thể phai nhòa theo năm tháng. Đọc sách giống như việc cái cây được tưới nước thường xuyên, con người chúng ta phát triển từng ngày nhờ quá trình đọc sách và tích lũy tri thức. Hẳn rằng để bàn về vai trò và giá trị mà sách mang đến, đã có biết bao cây bút dành sự ưu ái nhất định của mình cho đề tài này và rồi trở thành một tư tưởng nhân văn của thời đại. Ai cũng biết lợi ích của việc đọc, ai cũng biết giá trị từ sách, tôi tin rằng, ở thời điểm hiện tại đã có không ít bạn trẻ lấy việc đọc sách là mục tiêu để phấn đấu, rằng mỗi ngày dành 10 phút hay 30 phút đọc sách, một ngày phải đọc bao nhiêu trang, một tháng đọc bao nhiêu và một năm nhìn lại ta đã kinh qua bao cuốn sách. Nghe thì có vẻ là một kế hoạch hoàn hảo, nhưng thực tế, ta tự hỏi chính mình, rằng bản thân đã thực sự cố gắng và kỷ luật với việc đọc sách hay chưa?

    Ảnh ngẫu nhiên

    TG10.jpg Chau_Au.jpg Picture2.jpg CangBien.jpg Picture3.png

    Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng

    Don Kihote nha quy toc tai ba

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 10h:30' 07-03-2024
    Dung lượng: 3.8 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tên truyện : Đôn Kihôtê - Nhà Quý Tộc Tài Ba Xứ Mantra

    Nguyên tác : DON QUIJOTE DE LA MANCHA, do nhà xuất
    bản Aguilar phát hành tại Madrid năm 1968
    Tác giả : Miguel De Cervantes Saavedra
    Dịch giả : Trương Đắc Vị
    Thể loại : Văn học nước ngoài
    Nhà xuất bản : Văn Học
    Ngày xuất bản : Quý IV/2004
    Số trang : 1024
    Kích thước : 14,5 x 20,5 cm
    Trọng lượng : 1020 g
    Số quyển / 1 bộ : 1
    Hình thức bìa : Bìa cứng
    Giá bìa : 115.000 VNĐ
    –––––––––––Nguồn : vnthuquan.net, thuvien-ebook.com
    Đánh máy : huytran, Vân Trung Tử
    Tạo prc (TVE) : santseiya
    Ngày hoàn thành : 13/12/2008
    Nơi hoàn thành : Hà Nội
    Ebook: Đào Tiểu Vũ eBook - http://www.dtv-ebook.com
    Mục Lục
    Lời giới thiệu
    Lời nói đầu
    PHẦN THỨ NHẤT
    Chương I
    Chương II
    Chương III
    Chương IV
    Chương V
    Chương VI
    Chương VII
    Chương VIII

    Chương IX
    Chương X
    Chương XI
    Chương XII
    Chương XIII
    Chương XIV
    Chương XV
    Chương XVI
    Chương XVII
    Chương XVIII
    Chương XIX
    Chương XX
    Chương XXI
    Chương XXII
    Chương XXIII
    Chương XXIV
    Chương XXV
    Chương XXVI
    Chương XXVII
    Chương XXVIII
    Chương XXIX
    Chương XXX
    Chương XXXI
    Chương XXXII
    Chương XXXIII
    Chương XXXIV
    Chương XXXV
    Chương XXXVI
    Chương XXXVII
    Chương XXXVIII
    Chương XXXIX

    Chương XL
    Chương XLI
    Chương XLII
    Chương XLIII
    Chương XLIV
    Chương XLV
    Chương XLVI
    Chương XLVII
    Chương XLVIII
    Chương XLIX
    Chương L
    Chương LI
    Chương LII
    PHẦN THỨ HAI
    Chương I
    Chương II
    Chương III
    Chương IV
    Chương V
    Chương VI
    Chương VII
    Chương VIII
    Chương IX
    Chương X
    Chương XI
    Chương XII
    Chương XIII
    Chương XIV
    Chương XV
    Chương XVI
    Chương XVII

    Chương XVIII
    Chương XIX
    Chương XX
    Chương XXI
    Chương XXII
    Chương XXIII
    Chương XXIV

    Lời giới thiệu

    Mighel đê Xervantêx Xaavêđra (Miguel de Cervantes
    Saavedra), nhà đại văn hào Tây Ban Nha, sinh tháng 10 năm
    1547 tại thị trấn Alcala đê Enarêx, gần thủ đô Mađrít, trong
    một gia đình quý tộc nhỏ, đã sa sút. Ông thân sinh ra Xervantêx làm nghề thầy thuốc, phải lang thang từ tỉnh này sang tỉnh
    khác để kiếm tiền nuôi sống bảy đứa con. Về thời niên thiếu
    của Xervantêx, người ta biết rất ít. Sách chỉ ghi rằng cậu bé
    Xervantêx đi theo bố mẹ và đã sống ở Vaiađôlít, Xalamanca,
    Mađrít, Xêviia…
    Trình độ học vấn của Xêvantêx chỉ ở mức trung bình. Trong
    hoàn cảnh gia đình sống nay đây mai đó, Xervantêx không thể
    theo học một trường nào đến đầu đến đũa. Có thời kỳ ông học
    tại một viện của thầy dòng Giêduýt, thời kỳ sau ông lại theo
    học một học giả nổi tiếng ở Mađrít là Huan Lôpêx đê Ôiô. Tuy
    nhiên, bù đắp vào sự thiếu sót đó, Xervan-têx có trí thông
    minh, óc nhận xét và tính ham đọc sách. Sự nghiệp văn
    chương của ông mở đầu bằng một bài thơ làm vào dịp hoàng

    hậu Tây Ban Nha Idabel đê Valôix tạ thế. Năm đó, ông 21 tuổi
    (1568).
    Vào thời kỳ này, Ý-đại-lợi là một nơi tụ tập những kẻ đi tìm
    công danh trong binh nghiệp hoặc văn chương. Năm 1569,
    người ta thấy Xervantêx tại Rôma, phục vụ giáo chủ Huliô
    Aquaviva. Năm sau, Xervantêx gia nhập quân đội Tây Ban
    Nha đồn trú trên đất Ý. Năm 1571, trong trận thủy chiến
    Lêpantô giữa một bên là đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, một bên là mấy
    thành thị Ý liên minh với Tây Ban Nha do đôn Huan đê
    Aoxtria chỉ huy, Xervantêx bị trọng thương, bàn tay trái bị
    nghiền nát, do đó người ta đặt biệt hiệu cho ông là “Người cụt
    tay trong trận Lêpantô”. Năm 1572, ở bệnh viện ra, Xervantêx
    lại gia nhập quân đội. Trong ba năm tại ngũ, ông đã qua các
    nơi như đảo Xixilia, Xerđênha, hoặc các thành phố như
    Phlôrenxia, Hênôva, Napôlêx, Milan, Rôma là những kho tàng
    di tích của nền văn học nghệ thuật cổ điển Hy-La. Năm 1575,
    ông về nước với một bức thư giới thiệu của chủ tướng là đôn
    Huan đê Aoxtria, hy vọng sẽ được nhà vua trọng dụng. Rủi
    thay, ngày 26 tháng 9, trên đường về Tây Ban Nha, tàu của
    ông bị bọn cướp biển tấn công và ông bị bắt giải về Arhêl
    (Alger).
    Trong thời gian bị cầm tù Arhêl (1575 - 1580), ông luôn luôn
    có ý chí đấu tranh, khuyến khích bạn bè giữ vững tinh thần tìm
    cơ hội thoát thân. Ông tổ chức bốn, năm lần vượt ngục nhưng
    đều thất bại, và mỗi lần, ông đã can đảm nhận phần trách
    nhiệm của người chủ mưu. Tinh thần dũng cảm và lòng vị tha
    của Xervantêx không những gây tín nhiệm trong anh em cùng
    chung số phận mà còn làm cho chính vua Arhêl phải kính nể,
    không giết. Quãng đời này của Xervan-têx đã được nhắc lại
    trong câu chuyện Người tù, trong cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê
    - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Cũng trong thời gian này, ông
    đã nhiều lần cầu cứu những nhân viên cao cấp Tây Ban Nha
    giải thoát cho ông, song đều vô hiệu. Cuối cùng, chính gia
    đình ông phải lo liệu tiền nong và, với sự giúp đỡ của Nhà
    dòng, chuộc được ông về nước.
    Lúc này, Xervantêx 33 tuổi. Ông trở về Tây Ban Nha, những

    tưởng với công trạng xưa của mình, sẽ được triều đình cất
    nhắc. Nhưng, thất vọng. Năm 1585, ông lập gia đình với
    Catalina đê Palaxiô Xaladar. Ngán ngẩm bước đường công
    danh lận đận, lại gặp những khó khăn kinh tế, ông bắt đầu viết
    sách để kiếm thêm tiền nuôi sống gia đình.
    Tập La Galatêa là tác phẩm đầu tay của Xervantêx (1585).
    Cũng trong thời gian này, ông sáng tác trên hại chục vở kịch
    được đưa lên sân khấu. Nhưng nhà viết kịch thiên tài Lôpê đê
    Vêga (Lope de Vega), “Lôpêt vĩ đại” như chính Xer-vantêx
    gọi, đã xuất hiện, và Xervantêx bỏ nghề viết kịch.
    Cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra,
    tác phẩm xuất sắc nhất của Mighel đê Xervantex Xaavêđra, ra
    đời năm 1605 (phần thứ nhất - 52 chương). Người ta cho rằng
    ông bắt đầu sáng tác vào năm 1602, lúc đang ở trong nhà tù
    Xêviia, vì như ông đã viết trong lời nói đầu, “tôi thai nghén nó
    (cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra ND) trong một nhà tù, nơi trú ngụ của mọi bất tiện và mọi âm
    thanh buồn thảm”.
    Năm 1614, ở Taragôna bỗng dưng xuất hiện Tập hai cuốn Đôn
    Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Tác giả đã không giám
    ký tên thật của mình mà núp dưới cái tên giả là Alphônxô
    Phernanđêx đê Avêianêđa. Năm sau, 1615, Xervantêx xuất bản
    lần thứ hai cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
    xứ Mantra (gồm 74 chương). Qua lời mở đầu phần này, ông
    vạch mặt kẻ cướp đoạt văn chương. Trong phần thứ hai cuốn
    tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra, nghệ
    thuật của Xervantêx càng tỏ ra điêu luyện, già dặn. Tác phẩm
    cuối cùng của ông là cuốn Perxilêx và Xihixmunđa.
    Từ ngày ở Arhêl về nước cho tới cuối đời, Xervantêx vừa
    viết văn, vừa phải nhận của triều đình một số việc linh tinh để
    bảo đảm sinh kế, khi làm nhiệm vụ tiếp lương cho hạm đội
    Armađa bách chiến bách thắng, lúc đi thu thuế, v.v… đôi ba
    lần phải ra tòa, bị ngồi tù oan ức, mà cuối cùng nghèo túng vẫn
    hoàn nghèo túng. Sách có ghi lại một câu chuyện như sau:

    Vào tháng 2 năm 1615, có một đoàn sử giả Pháp sang Tây Ban
    Nha để đón công chúa Ana đê Aoxtria. Lâu nay hâm mộ tài
    năng của Xervantêx, họ xin được tới thăm ông. Tới nơi, thấy
    cảnh nhà quá thanh bạch, một người thốt lên: “Sao! Một con
    người như vậy mà nước Tây Ban Nha không lấy công quỹ
    cung dưỡng và làm cho giàu có ư!”. Một người khác nói thêm
    một cách ý nhị: “Nếu sự nghèo túng buộc ông ta phải viết sách
    thì cầu Chúa cho ông ta không bao giờ sung túc để những tác
    phẩm của một người nghèo như ông làm giàu thiên hạ”.
    Ngày 23 tháng 4 năm 1616, Mighel đê Xervantêx Xaavêđra
    qua đời tại Mađrít. Khi đó, ông 69 tuổi.
    *
    **
    Từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
    ba xứ Mantra đã chinh phục dư luận người đọc trong nước
    cũng như ngoài nước. Ngay trong năm 1605, tại Tây Ban Nha,
    tập truyện đã được tái bản 5 lần, và sinh thời, Xervantêx đã
    nhìn thấy tác phẩm của mình được xuất bản 13 lần (6 lần ở
    Tây Ban Nha, 3 lần ở Bồ Đào Nha, 3 lần ở Bỉ, 1 lần ở Ý). Trải
    qua gần 400 năm, vượt ra khỏi sự đào thải của thời gian, Đôn
    Kyhôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra vẫn giành được sự hâm
    mộ rộng khắp và được công nhận là một trong những tác phẩm
    văn học lớn nhất của nhân loại. Năm 1795, nhà đại văn hào
    Đức, Gớt (Goethe), viết cho nhà thơ lớn Silơ (Schiller): “Tôi
    đã tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết của Xervantêx cả một kho
    tàng thú vị và bổ ích”.
    Pho truyện thật sự đã đi sâu vào quần chúng. Trong các ngày
    hội, những cuộc vui hóa trang ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
    cũng như ở nhiều nước châu Âu khác, người ta thường thấy
    xuất hiện hiệp sĩ đôn Kihôtê và giám mã Xantrô Panxa “hệt
    như tả trong truyện”, Cuốn sách đã được dịch ra hầu hết các
    thứ tiếng trên thế giới: Anh, Pháp, Ý, Đức, Thổ, Arập, Êbrơ,
    Xăngxcri, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên… và cả Thế giới
    ngữ. Ngót bốn thế kỷ nay, Đôn Kihôtê vẫn là đề tài của sân

    khấu, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, màn ảnh. Từ Đông sang
    Tây, từ Âu sang Á, các nhà phê bình, triết học, các nhà văn,
    nhà thơ, những người làm công tác văn nghệ, không ai không
    xác nhận giá trị tư tưởng và nghệ thuật của cuốn truyện này.
    Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra là cuốn tiểu thuyết
    cận đại đầu tiên của Tây Ban Nha, viết theo hướng hiện thực
    phê phán. Trước đó, độc giả các nước phương Tây rất ham
    thích loại tiểu thuyết kiếm hiệp kể “những truyện hoang đường
    không lệ thuộc vào những yêu cầu chính xác của sự thật,
    những nhận xét của ngành thiên văn học, những luật lệ về hình
    học hay tu từ học” (Lời mở đầu phần thứ nhất, cuốn tiểu
    thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra. Loại tiểu
    thuyết hoang đường đó có tác dụng rất tai hại vì nó tạo cho
    người đọc một quan niệm hoàn toàn sai lầm về vũ trụ, về nhân
    sinh, về tư tưởng, về xã hội. Sách kể lại rằng có cả một gia
    đình đã khóc lóc thảm thiết khi đọc tới đoạn nói về cái chết
    của hiệp sĩ Amađix! Với cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà
    quý tộc tài ba xứ Mantra, Xervantêx đã chôn vùi văn chương
    kiếm hiệp và khai sinh cho tiểu thuyết cận đại. Selinh
    (Schelling), triết gia Đức, đã phát biểu: “Chúng ta sẽ không
    quá lời khi khẳng định rằng cho tới nay chỉ có hai cuốn tiểu
    thuyết, đó là cuốn Đôn Kihôtê của Xervantêx và cuốn Vinhem
    Maixtơ của Gớt”. Sơlêgơn (Schlegel), nhà phê bình văn học
    người Đức, cũng đã đánh giá Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba
    xứ Mantra là “tác phẩm có một không hai trong loại của nó,
    mở đầu cho tiểu thuyết cận đại…”
    Toàn bộ cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
    Mantra gồm 126 chương, là một bức tranh sinh động về xã hội
    Tây Ban Nha với những màu sắc thật của địa phương, của thời
    đại. Tác giả đã đưa vào truyện trên hai trăm con người thuộc
    đủ lứa tuổi và tầng lớp, từ lão chủ quán “giảo quyệt” đến
    những cô gái quán trọ “nom cũng chẳng phải thiện nhân”, từ
    chàng sinh viên Grixôxtômô si tình đến cô Marxêla xinh đẹp
    và yêu tự do, từ gã lái la độc ác đến tên chủ trại tham lam, cha
    xứ, bác phó cạo, bà quản gia, ông thầy tu, lão chăn dê, viên
    cảnh sát, đám phạm nhân cùng một loạt vương tôn công tử,
    quan lại, nhà giàu… Và ngần ấy con người xoay quanh hai

    nhân vật chính là anh chàng quý tộc nhưng nghèo đôn Kihôtê
    và bác giám mã Xantrô Panxa, một thợ cày chính cống. Tác
    giả đã đưa hiệp sĩ và giám mã của chàng đi khắp đó đây trên
    đất nước Tây Ban Nha, từ thành thị đến thôn quê, từ những
    cánh đồng bao la tới những miền núi sâu vực thẳm, từ những
    quán trọ bình dân tới chốn thâm nghiêm quyền quý. Cảnh vật,
    con người đều có thật. Và nếu như trí tưởng tượng phong phú
    của Đôn Kihôtê đã biến quán trọ thành lâu đài, chậu thau
    thành mũ sắt, đàn cừu thành đạo quân thì, trái lại, những lời
    nói giản dị mà chí lý của bác giám mã gốc nông dân luôn luôn
    lôi kéo ta về với hiện thực. Tóm lại, Xervantêx phản ánh khá
    toàn diện cuộc sống thật của xã hội đương thời. Và ông đã
    thành công.
    *
    **
    Một hôm, vua Tây Ban Nha Phêlipê III đứng trên lâu đài
    nhìn xuống đường, thấy một anh học trò đang đọc một cuốn
    sách, thỉnh thoảng lại ngừng đọc cười vang. Nhà vua thầm
    nghĩ: “Hoặc tên học trò kia điên, hoặc là hắn đang đọc cuốn
    tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra”. Quả
    nhiên anh học trò đang đọc cuốn tiểu thuyết đó thật.
    Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra đúng là một cuốn
    tiểu thuyết giàu tính trào lộng. Làm sao người đọc không cười
    được khi thấy Đôn Kihôtê một thương một mã lăn xả vào tấn
    công những chiếc cối xay gió vô tội trên cánh đồng Môntiel
    mà chàng tưởng là “những tên khổng lồ hung tợn có cánh tay
    dài tới gần hai dặm”, hoặc khi chàng cứ nhè những bao rượu
    trong quán trọ mà đâm, mà chém, ngỡ mình đang đọ sức với
    tên khổng lồ ở vương quốc Mi-cômicôn!
    Thế nhưng Đôn Kihôtê có phải là một kẻ viển vông, điên rồ
    không? Và Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra phải
    chăng chỉ là pho sách kể về những hành động nực cười của
    chàng hiệp sĩ xứ Mantra? Bàn về tác phẩm số một của
    Xervantêx, năm 1821 Bairơn (Byron), nhà đại thi hào Anh,
    viết: “Đó là cuốn truyện buồn nhất, và nó càng buồn vì làm

    chúng ta cười”. Prôxper Mêrimê (Prosper Mérimée), nhà văn
    thế kỷ XIX của Pháp, cũng đã nói: “Bất hạnh thay kẻ nào
    không có được một vài ý nghĩ của Đôn Kihôtê và không dám
    cả gan nhận roi đòn cùng sự chế giễu để bênh vực kẻ yếu
    hèn!”.
    Có hai cách đọc tiểu thuyết Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ
    Mantra: một là trên những dòng chữ, và ta sẽ thấy toàn bộ pho
    sách là mũi nhọn tấn công vào tiểu thuyết kiếm hiệp; hai là
    đọc giữa những dòng chữ để tìm hiểu ý tứ sâu xa của tác giả
    và tác phẩm. Đọc theo cách thứ hai ta sẽ thấy toát ra từ toàn bộ
    tác pho truyện một bài học nhẹ nhàng, ý nhị về chính nghĩa,
    công lý, tự do. Đôn Kihôtê là một người chân chính. Mục đích
    cuộc đời chàng là “trả thù cho những người bị xúc phạm, bênh
    vực kẻ hèn yếu, uốn nắn những điều sai trái, phi lý, đả phá mọi
    lạm dụng, bất công”. Ta hãy xem chàng lý luận với tên chủ trại
    và giải thoát cho chú bé chăn cừu Anđrê bị tên này hành hạ và
    quịt tiền công:
    “- Tên đê tiện này dám nói dối cả ta ư? Đôn Kihôtê thét lên…
    Cởi trói cho nó ngay.
    Tên chủ trại cúi đầu, không dám hé răng, vội vàng cởi trói cho
    chú bé. Đôn Kihôtê hỏi số tiền công chủ còn thiếu là bao
    nhiêu. Chú bé thưa rằng chủ còn nợ chín tháng công, mỗi
    tháng bảy đồng. Đôn Kihôtê nhân lên thành sáu mươi ba đồng,
    chàng bảo tên chủ trại muốn sống phải trả ngay. Tên này sợ
    hãi đáp rằng đúng như lời y đã thề (thực ra y đã thề câu nào
    đâu), số tiền không nhiều đến thế vì y đã chi cho chú bé ba đôi
    giày và một đồng để chích máu hai lần khi chú ốm.
    - Được rồi, Đôn Kihôtê vặn lại; nhưng việc thằng bé phải chịu
    roi vọt, mặc dù nó không có tội tình gì, cũng đủ bù vào số tiền
    giày và tiền chích máu. Nó làm rách da giày của ngươi thì
    ngươi làm rách da thịt của nó. Người ta chích máu khi nó đau
    ốm thì ngươi chích máu khi nó mạnh khỏe. Như vậy là hòa…”
    Đôn Kihôtê - hay nói đúng hơn là Xervantêx - đã vạch trần
    tính tham lam độc ác của bọn nhà giàu thôn quê.

    Đây, một đoạn khác về tính chất hà khắc và thối nát của pháp
    luật phong kiến. Một hôm, trên đường phiêu lưu, Đôn Kihôtê
    gặp một toán người “cổ đeo chung một dây xiềng to bằng sắt,
    tay đeo xích; đi theo họ có hai người cưỡi ngựa và hai người đi
    bộ; hai người cưỡi ngựa có súng còn hai người đi bộ cầm
    gươm mác”. Chàng hiệp sĩ bèn dừng ngựa hỏi duyên cớ vì đâu
    mà họ khốn khổ như vậy. Đám tù nhân đã kể tội trạng của họ:
    một anh chỉ vì quá “yêu” một cái giành quần áo mà phải chịu
    một trăm roi và ba năm khổ sai; một anh ăn trộm gia súc mà bị
    hai trăm roi và sáu năm khổ sai; một anh bị năm năm khổ sai
    chỉ vì không có mười đồng tiền vàng đút lót cho bọn lục sự,
    biện lý; một ông già “đạo mạo” cũng bị đưa đi đày chỉ vì ông
    muốn cho mọi người sung sướng sống yên lành, vui vẻ với
    nhau, không cãi cọ, không ưu phiền…”
    Trong những hành động có vẻ điên rồ của Đôn Kihôtê, vẫn
    thấy toát lên tình thương yêu nhân loại. Nếu đối với Xantrô
    Panxa, những cối xay gió là… những cối xay gió, thì trái lại,
    dưới con mắt của Đôn Kihôtê, chúng là những tên khổng lồ
    hung ác, một giống xấu xa cần phải quét sạch khỏi trái đất”.
    Đôn Kihôtê yêu tự do, công lý, chính nghĩa. Chàng mong
    muốn với “cánh tay dũng mãnh” của mình mang lại hạnh
    phúc, cuộc sống yên vui cho mọi người. Với một tinh thần
    dũng cảm, không biết sợ, không ngại gian nguy, đơn thương
    độc mã, chàng lao vào “cuộc chiến đấu không cân xứng”, luôn
    luôn tin tưởng và lạc quan, mặc dù mỗi lần lại bị biêu đầu sứt
    trán trước những thực tế đáng buồn của thời đại.
    Đôn Kihôtê là biểu hiện của sự tương phản giữa thực tế phũ
    phàng với lý tưởng cao đẹp mà chàng mơ ước và chiến đấu
    cho nó, là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đấu tranh giữa thế
    giới thực tại và thế giới tương lai mà chúng ta vươn tới. Cuộc
    sống phải trút bỏ cái vỏ bề ngoài của nó, trút bỏ sự giả dối, ích
    kỷ, bất công, và phải mang trong nó những ước mơ và làm cho
    những ước mơ đó trở thành hiện thực.
    Đó là nội dung tư tưởng sâu xa của tác phẩm.

    *
    **
    Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra là một kho tiểu
    thuyết trường thiên bằng tiếng Tây Ban Nha. Khung cảnh hoạt
    động của các nhân vật là một địa bàn bao la, với nhiều màu sắc
    dân tộc, với những đặc điểm của từng địa phương và những
    tính cách riêng biệt của từng nhân vật. Tác giả cũng đã sử
    dụng một ngôn ngữ phong phú, đa dạng, đặc biệt là ông dùng
    nhiều ca dao, tục ngữ, từ ngữ dân gian của từng vùng đất nước
    Tây Ban Nha. Văn chương trong Đôn Kihôtê - Nhà quý tộc tài
    ba xứ Mantra lại là văn chương của thế kỷ XVI - XVII. Dịch
    nó quả là khó. Bản dịch này chắc không khỏi còn những sai
    sót, những “hạt sạn” mà trình độ có hạn của tôi đã không cho
    phép tôi tránh được. Tôi thành thật mong độc giả lượng thứ
    cho. Tôi cũng trông chờ những nhận xét, phê bình của các bạn
    để rút kinh nghiệm cho bản dịch phần thứ hai cuốn truyện
    được tốt hơn.
    Người dịch

    Lời nói đầu

    Độc giả nhàn hạ, chẳng cần thề thốt, tôi chắc rằng các bạn
    cũng phải tin rằng tôi muốn cuốn sách này - con đẻ của trí tuệ
    - phải là cuốn sách hay nhất, tốt nhất, hoàn hảo nhất mà người
    đời có thể hình dung được. Nhưng tôi không thể làm trái quy
    luật tạo hóa là loài nào sinh ra giống nấy. Thành thử, với khối
    óc khô cằn và thô thiển của mình, tôi chỉ có thể tạo nên một
    câu chuyện khô khan, ngô nghê, vô lý, đầy rẫy những ý tưởng
    tản mạn không ai nghĩ tới bao giờ. Vả chăng, tôi đã thai nghén
    [1]
    nó ở trong một nhà tù , nơi trú ngụ của mọi bất tiện và mọi
    âm thanh buồn thảm. Cảnh vật yên tĩnh, thôn xóm thanh bình,
    đồng quê êm ả, bầu trời trong sáng, tiếng suối róc rách, tâm trí
    thảnh thơi, nhưng cái đó một phần lớn khiến cho những thi
    hứng cằn cỗi nhất cũng trở nên phong phú và nảy nở những án
    văn chương khiến người ta phải thích thú và thán phục. Một
    người cha có một đứa con xấu xí, không được một vẻ gì,
    nhưng tình thương che mắt ông ta khiến ông ta nhìn những cái
    dở, cái xấu của con mình lại thấy nó hay, nó đẹp, và ông ta đi
    khoe khắp với bà con, bạn hữu. Nhưng tôi không phải là bố đẻ
    của Đôn Kihôtê như người ta tưởng, mà chỉ là bố dượng thôi.
    Cho nên, tôi không muốn làm như mọi người, khóc lóc van
    xin bạn đọc yêu quý rộng lượng bỏ qua những sai sót trong
    quyển sách này. Bạn không phải là người thân kẻ thuộc của
    nó, bạn có suy xét riêng và có quyền phê phán nó với tất cả sự
    sáng suốt của mình. Bạn lại ở ngay trong nhà bạn, nơi mà bạn
    có toàn quyền như nhà vua có toàn quyền trong việc thu thuế
    vậy. Phương ngôn có câu: “Một khi không sợ bị tội, con người
    có thể giết cả vua”. Hoàn toàn không có cái gì bó buộc bạn và
    bạn cứ nghĩ sao nói vậy, khen chê đều vô thưởng vô phạt,
    không có gì đáng e ngại cả.
    Tôi muốn cuốn sách này tới tay bạn một cách mộc mạc tự
    nhiên, không tô điểm bằng những lời tựa hoặc bằng vô số
    những bài thơ ca và những lời tán tụng, như người ta vẫn mở
    đầu các cuốn sách. Bởi vì, xin thú thật, đối với tôi công việc

    biên soạn cả cuốn sách này có vất vả, song cũng không vất vả
    bằng việc viết lời mở đầu. Đã bao lần tôi cầm bút lên rồi lại
    đặt bút xuống, chẳng biết viết gì. Một hôm, giữa lúc tôi đang
    phân vân, tờ giấy trước mặt, quản bút gài tai, khuỷu tay chống
    lên bàn, tay ôm má, bỗng đâu có một anh bạn bước vào. Anh
    này là một người học rộng tài cao. Thấy tôi ngồi trầm ngâm,
    anh hỏi tại sao. Không giấu giếm, tôi trả lời là tôi đang suy
    nghĩ về lời mở đầu phải viết cho truyện Đôn Kihôtê, là tôi rất
    nản, không muốn làm và cũng chẳng muốn giới thiệu với thiên
    hạ những chiến công của trang hiệp sĩ tài ba như vậy.
    Anh bạn ạ, tôi nói, tôi chẳng khỏi hổ thẹn trước những lời phê
    phán của người giám định nghệ thuật già đời là trước công
    chúng mỗi khi thấy tôi, sau bao năm im hơi lặng tiếng, giờ đây
    đã ngần này tuổi đầu, đưa ra một câu chuyện khô như ngói,
    không chút sáng tạo, bút pháp ngớ ngẩn, ý tứ nghèo nàn, học
    vấn thô thiển, thiếu dẫn giải ghi ở lề trang hay phụ chú ghi ở
    trang cuối cùng như những cuốn sách khác; và tuy những
    quyển này thật là hoang đường và phàm tục những lại được
    độc giả khâm phục do chứa đầy những câu châm ngôn của
    Arixtôtêlêx, Platôn và nhiều triết gia khác. Tác giả những cuốn
    sách đó được coi là những bậc tài giỏi, uyên bác, hùng biện;
    nhất là khi họ lại trích những lời trong Thánh kinh thì tưởng
    đâu họ là những thánh sống và những thuyết gia giáo lý đại tài.
    Câu trên họ tả một anh chàng si tình đồi bại, câu dưới họ dẫn
    ra một bài giáo thuyết nhỏ, khiến người đọc cảm thấy vui tai,
    mát mắt. Sách của tôi thiếu tất cả những cái đó vì tôi không
    biết ghi gì ở ngoài lề trang cũng như ở phần cuối; hơn nữa, tôi
    cũng chẳng biết những lời tôi trích dẫn ra do ai viết để còn ghi
    tên họ lên đầu cuốn sách theo thứ tự A, B, C… như người ta
    thường làm. Cuốn sách của tôi thiếu cả những bài thơ đề tựa
    của các vị công tước, hầu tước, bá tước, các vị giám mục, các
    mệnh phụ và văn hào nổi danh, mặc dù nếu tôi ngỏ ý với một
    vài người bạn quen, họ sẽ tặng cho những bài thơ còn hay hơn
    tất cả những tác phẩm của những thi sĩ tiếng tăm nhất trên đất
    Tây Ban Nha này. Cuối cùng, anh bạn ạ, tôi nói tiếp, tôi quyết
    định vùi sâu chôn chặt anh chàng Đôn Kihôtê trong đống văn
    thư lưu trữ của xứ Mantra cho tới khi Trời giúp cho một người
    có tài tô son vẽ phấn cho chàng ta. Riêng tôi thấy bất lực do
    thiếu học vấn và do bản chất nhút nhát, lười biếng, không chịu

    đi tìm kiếm những người nói lên điều mà tôi cũng có thể nói
    được nếu không có họ. Đó, chính vì vậy mà anh thấy tôi ngồi
    đắn đo, suy nghĩ. Bây giờ, sau khi nghe tôi trình bày, chắc anh
    đã hiểu rõ nguyên nhân.
    Anh bạn vỗ trán, cười phá lên rồi nói:
    - Lạy Chúa, té ra bây giờ tôi mới biết là tôi đã nhầm,anh bạn ạ.
    Từ lâu nay kết bạn với nhau, tôi cứ tưởng anh là con người
    khôn ngoan và thận trọng. Giờ đây, tôi thấy giữa anh và con
    người đó có một khoảng cách khá xa, cũng như trái đất cách
    xa mặt trời vậy. Làm sao những việc con con dễ giải quyết như
    thế lại có thể chi phối được một trí tuệ già dặn như anh, sẵn
    sàng đạp bằng những trở ngại còn lớn hơn nhiều! Thật ra, điều
    đó không phải phát sinh từ sự thiếu tài năng mà là từ sự lười
    biếng quá mức và sự thiếu suy nghĩ. Muốn biết tôi nói có đúng
    hay không, xin hãy lắng nghe và chỉ trong khoảnh khắc, anh sẽ
    thấy tôi gạt bằng mọi trở ngại và khắc phục hết những thiếu
    sót mà anh vừa nêu ra, nó đã khiến anh phải do dự, lùi bước,
    không dám cho ra mắt độc giả chuyện chàng Đôn Kihôtê trứ
    danh của anh, ánh sáng và tấm gương hiệp sĩ giang hồ.
    Nghe anh bạn nói, tôi bèn hỏi lại:
    - Thế theo ý anh thì làm thế nào gạt bỏ được nỗi lo lắng và
    những ý nghĩ mơ hồ của tôi?
    Anh bạn đáp:
    - Trước hết là những bài thơ ca hay những lời tán dương do
    những nhân vật có chức có quyền đề tựa. Để giải quyết vấn đề
    này, bản thân anh phải chịu khó làm, rồi sau đó ký một cái tên
    nào đó, tỉ dụ vua Huan xứ Ấn Độ hay hoàng đế xứ Trapixônđa
    là những nhà thơ nổi tiếng xưa kia, theo chỗ tôi biết. Và dù họ
    không có tiếng tăm gì chăng nữa, dù kẻ thông thái dởm hoặc
    ngứa mồm nào đó chê bai và tỏ vẻ hoài nghi sau lưng anh, anh
    cũng chớ quan tâm; cho rằng họ phát hiện ra điều dối giả thì
    cũng chẳng chặt được bàn tay cầm bút của anh. Về việc ghi ở

    lề trang tên tác giả và sách trong đó anh trích ra những câu
    châm ngôn, ngạn ngữ, chỉ cần làm thế nào đưa đúng lúc đúng
    chỗ mấy câu La Tinh mà anh đã thuộc lòng hoặc nếu không,
    chỉ cần bỏ chút ít công sức ra tìm. Ví dụ, khi người ta nói đến
    sự tự do hoặc sự giam cầm, hãy đưa câu La Tinh này vào:
    “Ngàn vàng không mua nổi tự do”, rồi ghi ở lề trang tên của
    [2]
    Ôraxiô hay tên người nào đã nói câu ấy. Bàn về sức mạnh
    của sự chết, đã có câu: “Cái chết đến với cả kẻ sang người
    hèn”. Nếu nói về tình bạn và tình yêu, hãy lấy ngay câu của
    Chúa trong Thánh kinh: “Ta khuyên các ngươi hãy yêu mến kẻ
    thù của mình”. Và về những ý nghĩ xấu xa, sách Phúc Âm nói
    rằng: “Nhưng ý nghĩ xấu xa xuất phát từ trái tim”. Về sự tráo
    trở của con người có câu của Catôn: “Giàu sang nhiều bạn lắm
    bè, đến khi hoạn nạn chẳng hề có ai”.
    Với những câu La tinh đó hoặc những câu tương tự, anh sẽ
    được coi là một nhà thông thái, mà trên đời này, điều đó mang
    lại cho ta vinh dự và quyền lợi không nhỏ.
    Còn về phần phụ chú ở cuối cuốn sách, chắc chắn có thể làm
    được theo cách sau đây: nếu anh định nêu tên một gã khổng lồ
    nào đó thì phải là Gôliáx, vì anh không mất gì mà lại có sẵn
    một lời phụ chú dài: “Trong cuốn sách của các đế vương có
    một chương nói về Gôliáx hay Gôliát, một kẻ ngoại đạo; y đã
    bị anh chàng chăn cừu Đavít dùng ná bắn đá giết chết ở thung
    lũng Têrêbintô”. Và để tỏ ra mình là một người học rộng, am
    hiểu vũ trụ, hãy tìm cách đưa con sông Tahô vào cuốn truyện
    của anh, thế là lại được một lời ghi chú nữa rất hay: “Một ông
    vua Tây Ban Nha đã đặt tên cho con sông đó là sông Tahô. Nó
    bắt nguồn từ một nơi nào đó, chảy qua thành Lixboa nổi tiếng
    rồi đổ ra biển, theo lời đồn, cát ở đây có vàng…”. Nếu muốn
    tả bọn kẻ cắp, tôi sẽ kể cho nghe chuyện Cacô mà tôi thuộc
    lòng, tả gái giang hồ, có chuyện Lamia, Laiđa và Phlôra của
    giám mục Mônđôgnêđô với rất nhiều ghi chú: tả những kẻ
    [3]
    hung bạo, có nhân vật Mêlêđa của Ôviđiô ; tả bọn phù thủy
    có Calipxô của Ôraxiô và Xirxê của Virhiliô; tả những viên
    [4]
    tướng dũng cảm có Hồi ký của Huliô Xêdar
    và tác phẩm

    [5]
    của Plutarcô . Nói về tình yêu, chỉ cần biết dăm ba chữ Ý là
    tìm được vô số tài liệu trong sách của Lêôn Êbrêđô; còn nếu
    không muốn dùng sách nước ngoài thì ngay trong nước ta
    cũng có cuốn Tình yêu của Chúa do Phônxêca viết, trong đó
    có tất cả những điều mà anh và những người khó tính nhất yêu
    cầu. Tóm lại, chỉ cần anh ghi tên những chuyện đó vào cuốn
    sách của anh, còn phần chú giải và phụ chú đã có tôi; tôi xin
    cam đoan ghi đầy lề trang và cả bốn trang cuối cuốn sách.
    Bây giờ đến việc ghi tên tác giả những cuốn sách tham khảo
    như người ta vẫn thường làm. Việc này rất dễ vì chỉ cần kiếm
    một cuốn sách nào đã ghi sẵn tất cả những cái tên đó từ A đến
    Z như anh nói, rồi bê nguyên văn vào sách của anh. Nếu sau
    đây có ai phát hiện ra vì thấy những sách đó cũng chẳng giúp
    ích gì nhiều cho anh thì điều đó không có gì quan trọng. Tuy
    nhiên, có thể có những đầu óc đơn giản nghĩ rằng anh đã đưa
    tất cả những câu chuyện rối rắm ấy vào trong quyển truyện
    giản dị và dễ đọc của anh. Dù thế nào đi chăng nữa, cả cái
    bảng tên tác giả dài dằng dặc ấy cũng đủ làm tăng giá trị cuốn
    sách. Vả lại, ai mất công đi kiểm tra lại xem anh có dựa vào
    những tác giả đó hay không. Hơn nữa, nếu tôi không nhầm,
    quyển truyện của anh không cần đến cái mà anh tưởng là
    thiếu, vì nó là một bản cáo trạng lên án những loại sách kiếm
    hiệp, khác hẳn với những sách của Arixtôtêlêx, thánh Baxiliô
    hay Xixêrô. Nhưng chuyện hoang đường kể trong đó không lệ
    thuộc vào những yêu cầu chính xác của sự thật, những nhận
    xét của ngành thiên văn học, những luật lệ về hình học hay tu
    từ học. Anh cũng không phải làm những bài thuyết giáo trong
    đó lẫn lộn cả những chuyện thánh thần và chuyện phàm tục,
    khiến cho không một người Kitô giáo nào nghe có thể lọt tai.
    Có điều phải học tập cách viết, học tập càng tốt, văn càng hay.
    Vả chăng tác phẩm của anh chỉ nhằm đánh đổ uy tín của
    những sách kiếm hiệp trong đám độc giả tầm thường nên nó
    cũng chẳng cần tới những câu châm ngôn của triết gia, những
    lời dạy trong Thánh kinh, những bài thơ ca, những diễn văn
    hoa mĩ hay những câu chuyện phi thường. Tuy nhiên anh viết
    phải đều tay, dùng những chữ dễ hiểu, sáng sủa, đặt đúng chỗ,
    sao cho câu văn đọc lên nghe êm tai, nhịp nhàng; phải nói lên
    được tất cả ý đồ và quan điểm của mình một cách rõ ràng,

    minh bạch. Làm sao khi đọc sách của anh, người buồn chán
    phải bật cười, người vui thấy vui thêm, người kém cỏi không
    chán, người tài giỏi phải khâm phục, người khó tính không
    chê, người khôn ngoan phải khen ngợi. Và nhất là phải luôn
    luôn đả kích các loại sách kiếm hiệp rẻ tiền tuy có bị nhiều
    người phê phán nhưng lại được một số đông hơn tán thưởng.
    Nếu anh đạt được mục đích đó tức là thành công đấy.
    Tôi ngồi yên nghe bạn tôi nói. Lý lẽ của anh quả đúng không
    thể bẻ được. Tôi chỉ còn biết tán thành và ghi vào đây làm lời
    mở đầu qua đó độc giả sẽ thấy rõ tài năng của anh bạn tôi cũng
    như sự may mắn của tôi đã gặp đúng lúc một quân sư tài giỏi
    như vậy. Và thế là bạn cũng có dịp đọc câu chuyện thật về
    chàng Đôn Kihôtê nổi tiếng của xứ Mantra được mọi người ở
    huyện Môntiel coi như một tình nhân chung thủy nhất, một
    hiệp sĩ dũng cảm nhất, đã bao năm mới lại thấy xuất hiện trong
    vùng. Tôi không dám kể công về việc đã giới thiệu với bạn
    một trang hiệp sĩ cao quý và đáng khâm phục như vậy, nhưng
    tôi mong bạn sẽ cảm ơn tôi vì được làm quen với bác Xantrô
    Panhưnga trứ danh, người giám mã của Đôn Kihôtê. Theo tôi,
    đó là sự tập trung cao độ nhất cả những nét đáng yêu của một
    người giám mã, rải rác trong cả mớ sách viết về các hiệp sĩ
    giang hồ. Tới đây, cầu trời phù hộ cho bạn, và cho cả tôi nữa.
    Chào bạn.

    PHẦN THỨ NHẤT

    Chương I
    Tính tình và công việc hàng ngày của nhà quý tộc trứ danh
    [6]
    Đôn Kihôtê xứ Mantra
    Cách đây không lâu, tại một làng nọ ở xứ Mantra mà ta chẳng
    cần nhớ tên, có một nhân vật thuộc lớp những nhà quý tộc có
    ngọn giáo treo trên giá làm cảnh, một cái khiên cũ kỹ, một con
    ngựa gầy và một con chó săn. Bữa ăn hàng ngày của chàng chỉ
    [7]
    có xúp bò, họa hoằn mới được thịt cừu; bừa chiều: thịt hầm ;
    thứ bảy: trứng tráng; thứ sáu: đậu; chủ nhật thêm một con
    chim câu nho nhỏ, thế là đã mất đứt ba phần tư số thu nhập.
    Khoản tiền còn lại dùng để may mặc: áo khoác ngoài bằng da
    nhẹ, quần bó và giày nhung dùng trong ngày dạ hội, ngày
    thường thi mặc quần áo may bằng loại vải cũng khá tốt. Trong
    nhà có một bà quản gia ngoại tứ tuần, một cô cháu gái chưa
    đầy đôi mươi và một anh chàng người hầu kiêm cả việc trông
    nom ruộng vườn, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con ngựa. Nhà
    quý tộc của chúng ta sấp sỉ ngũ tuần, thể chất tráng kiện, da
    thịt sắt seo, mặt mũi xương xẩu; chàng có thói quen dậy sớm
    và rất thích săn bắn. Theo lời đồn, chàng mang biệt hiệu
    Kihađa hoặc Kêxađa. Về điểm này, mỗi tác giả nói một khác,
    song, theo sự ước đoán có thể đúng, tê...
     
    Gửi ý kiến

    Sách không chỉ là kho tàng kiến thức mà còn là phép màu kỳ diệu với tâm hồn mỗi người

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTNT THCS AYUN PA - GIA LAI !