Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng
Đảo giấu vàng - Robert Louis Stevenson

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:28' 07-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:28' 07-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
CHƯƠNG 15
CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19
CHƯƠNG 20
CHƯƠNG 21
CHƯƠNG 22
CHƯƠNG 23
CHƯƠNG 24
CHƯƠNG 25
CHƯƠNG 26
CHƯƠNG 27
CHƯƠNG 28
CHƯƠNG 29
CHƯƠNG 30
Table of Contents
CHƯƠNG 1
Tên giặc biển già đời
CHƯƠNG 2
Hắc cẩu
CHƯƠNG 3
Cái vết đen
CHƯƠNG 4
Cái hòm của viên chúa tàu
CHƯƠNG 5
Hết kiếp thằng mù
CHƯƠNG 6
Giấy tờ của viên chúa tàu
CHƯƠNG 7
Tên bếp tàu
CHƯƠNG 8
Vấn đề khí giới và thuốc súng
CHƯƠNG 9
Đi biển
CHƯƠNG 10
Những điều tôi nghe được khi nấp trong thùng lê
CHƯƠNG 11
Hội đồng quân sự
CHƯƠNG 12
Bước chân lên đảo
CHƯƠNG 13
Người trong đảo
CHƯƠNG 14
Cố thủ trên đảo
CHƯƠNG 15
Trong lô-cốt
CHƯƠNG 16
Xin-ve đi thương lượng
CHƯƠNG 17
Trận đánh khu vực lô-cốt
CHƯƠNG 18
Lênh đênh trên biển
CHƯƠNG 19
Khi nước triều xuống
CHƯƠNG 20
Chiếc thuyền độc mộc lênh đênh
CHƯƠNG 21
Tôi hạ lá cờ đen của giặc xuống
CHƯƠNG 22
Lão Han
CHƯƠNG 23
Đồng ăn tám
CHƯƠNG 24
Trong trại quân thù
CHƯƠNG 25
Lại cái vết đen
CHƯƠNG 26
Giữ đúng lời hứa
CHƯƠNG 27
Đi tìm nơi giấu của
CHƯƠNG 28
Tiếng hát trong lùm cây
CHƯƠNG 29
Một tay đầu têu thất thế
CHƯƠNG 30
Đoạn cuối
CHƯƠNG 1
TÊN GIẶC BIỂN GIÀ ĐỜI
Ngày ấy cha tôi còn đứng chủ quán cơm “Đô đốc Bin- bâu”.
Quán cơm dựng ở một nơi hẻo lánh trên cửa biển. Hàng ế
ẩm, khách thưa thớt, cảnh nhà túng quẫn. Cha tôi phần lo
buồn, phần ốm yếu khật khừ. Cha tôi có thể còn sống lâu
nữa nếu không gặp phải cái tên thủy thủ già ấy đến trọ. Tôi
còn nhớ rõ như mới gặp hắn hôm qua. Hắn nặng nề đi đến
cửa, chiếc hòm đặt trên xe theo sau. Người hắn to lớn, vạm
vỡ, nước da lưng sạm như gạch nung, cái đuôi tóc trên đầu
bết lại như keo lòng thòng trên cổ áo xanh đã hoen nhiều
vết; tay hắn sần sùi; trên má có một vết sẹo chém dọc xuống,
trắng bệch trông đến bẩn. Tôi còn nhớ, hắn đứng đưa mắt
nhìn quanh cửa biển, miệng huýt sáo rồi cất tiếng hát bài
hát cổ của bọn thủy thủ, bài hát ấy về sau hắn hát luôn. Mười
lăm thằng trên hòm người chết ỳ a, ỳ a… Be rượu “rum” say
bét say be! Hắn hát to, giọng ồ ồ cũ kỹ. Hát xong hắn cầm
gậy gõ cửa. Cha tôi ra, hắn bảo đem một cốc rượu “rum”,
giọng rất cộc cằn. Hắn nhấm nháp rượu ra vẻ một tay sành.
Hắn chăm chú nhìn ra bờ biển dốc ngược, nhìn vào cái biển
cửa hàng rồi nói:
- Cái quán này thật là nơi thuận lợi. Đông khách không bác?
Cha tôi trả lời:
- Thưa khách lắm.
- Cũng chỉ cần thế. Nói xong hắn gọi người phu khuân hòm
vào nhà. Lát sau,
hắn lại nói:
- Tôi nghỉ đây ít lâu. Tính tôi rất dễ dãi. Chỉ cần một ít rượu
“rum”, ít trứng và mỡ là đủ; với lại thỉnh thoảng ra đứng
ngoài kia xem tàu chạy. Mà bác sẽ gọi tôi như thế nào nhỉ?
Thôi cứ gọi là ông chúa tàu vậy. À thôi! Tôi biết cái điều bác
đang lưỡng lự rồi! Này đây!
Nói thế, hắn quẳng ngay ba bốn đồng tiền vàng ra:
- Khi nào hết, bác cứ bảo tôi!
Hắn nói một cách thô lỗ và rất hách dịch. Tuy ăn vận lôi
thôi, nói năng cục cằn, nhưng coi bộ hắn không phải một
thủy thủ thường. Hắn ra dáng một viên thuyền trưởng hay
ề
ố
y
g
g ộ
y
g y
phó thuyền trưởng quen lối tác oai tác quái với kẻ dưới.
Bình thường, tính hắn rất trầm mặc. Suốt ngày hắn thơ thẩn
ven bờ biển cao, tay cầm cái ống nhòm bằng đồng. Chiều tối,
hắn về ngồi thu lu ở xó buồng bên cạnh đống lửa, uống rất
nhiều rượu “rum” pha nước. Mỗi lần đi chơi về, hắn lại hỏi:
có người thủy thủ nào đi qua đây không? Mới đầu, chúng tôi
tưởng hắn muốn tìm người thân thuộc, nhưng sau mới biết
hắn muốn tránh mặt bọn thủy thủ. Một hôm, hắn gọi tôi ra
một nơi và dặn hễ nhìn thấy tên thủy thủ cụt một chân thì
nhớ bảo ngay cho hắn biết; rồi hắn hẹn cứ mồng một đầu
tháng hắn sẽ cho bốn xu. Thường đầu tháng, tôi phải đến
nhắc hắn cho tiền, và mỗi bận như thế hắn thở phì phì,
giương mắt nhìn tôi làm tôi phải cúi mặt. Nhưng sau đấy,
hắn lại đưa tiền cho tôi và nhắc lại phải để ý tìm người thủy
thủ cụt chân. Không nói thì các bạn cũng biết cái hình ảnh
anh lính thủy cụt chân này đến ám ảnh tôi luôn. Trong
những đêm bão tố, gió lay bốn góc nhà, sóng gầm ven bến
quanh bờ, tôi mơ thấy anh ta hiện ra thiên hình vạn trạng.
Lúc thấy chân anh cụt tới gối, lúc cụt đến bẹn, lúc chỉ còn
một chân mọc ở giữa ngực. Có đêm thấy anh ta nhảy qua rào
qua hố đuổi tôi, làm tôi sợ toát mồ hôi. Chỉ vì bốn xu mà
phải chịu những cơn sợ như vậy, kể ra bốn xu cũng to quá.
Tên chúa tàu uống nhiều rượu “rum” đến nỗi nhiều đêm hắn
như lên cơn loạn óc. Hắn ngồi hát những bài ca cổ man rợ.
Có khi hắn gọi rượu, ép mọi người phải uống để nghe hắn kể
chuyện hay hát theo cùng hắn. Mọi người run sợ phải cố hát
theo. Nhiều lúc cả nhà ầm lên những câu hát: ỳ a, ỳ a… Be
rượu “rum” say bét say be! Khi thì hắn đập bàn bắt mọi
người ngồi im lặng. Lúc ấy hễ ai hỏi động đến hắn là hắn nổi
cơn thịnh nộ. Chỉ đến khi say khướt, chân tay mềm rủn, hắn
mới để khách ra về. Chuyện hắn kể rặt là những chuyện
khủng khiếp: nào thắt cổ nhục hình, nào bão biển, đảo Rùa,
nào những chuyện kỳ quặc trên đất hoang thuộc xứ Tây Ban
Nha. Cha tôi lo buồn sợ mất khách vì hắn. Nhưng điều nguy
hơn cả là hắn cứ ở lần lữa ngày này qua ngày nọ đến nỗi tiền
hắn đưa trả đã hết từ lâu mà cha tôi cũng không có can đảm
để hỏi hắn. Hễ đả động đến là mắt hắn long lên, mũi hắn gầm
gừ thở phì phò làm cha tôi phải vội vã rút lui. Và mỗi bận
như thế cha tôi lại vặn tay uất ức. Những lo phiền sợ hãi ấy
đã làm bệnh tình cha tôi thêm trầm trọng. Trong khi hắn ở
trọ quán chúng tôi, hắn vẫn đội cái mũ ba vành nhàu nát và
cái áo xanh lem luốc vá víu trăm mảnh. Hắn chẳng bắt
chuyện với ai sau lúc hắn tỉnh dậy. Cả đến cái hòm to của
hắn cũng chẳng bao giờ thấy hắn mở. Có một lần hắn gặp tay
đối thủ. Lúc ấy cha tôi đang ốm nặng. Buổi trưa ấy, bác sĩ Lyvơxây đến thăm bệnh cha tôi. Bác sĩ là người nhân từ có
tiếng. Gặp những người nghèo khổ, ông hay giúp đỡ và có
lúc chữa bệnh cho họ không hề lấy một xu nhỏ. Riêng đối
với gia đình tôi, ông là một vị ân nhân. Xem xong bệnh cho
cha tôi, ông sang phòng bên hút thuốc. Anh chúa tàu đang ê
a bài hát cũ: Mười lăm thằng trên hòm người chết, ỳ a, ỳ a…
Be rượu “rum” say bét say be! Ngoài bác sĩ ra, bài hát này
chẳng ai lạ tai hết. Hát xong, quen lệ hắn đập tay xuống bàn
quát mọi người im. Mọi người đều nín thít. Riêng bác sĩ vẫn
hút thuốc và vẫn ôn tồn giảng cho một ông lão nghe cách trị
bệnh tê thấp. Anh chúa tàu trừng trừng nhìn bác sĩ, lại vỗ
bàn, rồi quát lên bằng giọng tục tĩu:
- Đằng ấy có câm mồm không? Bác sĩ nói:
- Ông bảo tôi phải không? Khi anh chàng tục tằn kia bảo
“phải”, bác sĩ nói:
- Tôi nói với anh điều này: nếu anh cứ uống rượu “rum” mãi,
thì đến phải tống anh đi nơi khác.
Cơn tức của tên giặc già thật đến ghê. Hắn đứng phắt dậy rút
soạt dao ra, lăm lăm chực đâm bác sĩ. Tôi lo cho bác sĩ quá.
Nhưng ông vẫn vững chãi, giọng vừa dõng dạc vừa bình tĩnh
mà quả quyết:
- Nếu anh không cất dao vào, tôi quyết sẽ làm anh bị treo
cổ
trong phiên tòa đại hình sắp tới.
Tôi còn nhớ trông bác sĩ lúc này với gã kia thật khác nhau
một trời một vực. Một đằng thì đức độ khoan dung, hiền từ
mà nghiêm nghị. Một đằng thì nanh ác, hung hăng như con
thú dữ nhốt chuồng. Hai người đưa mắt gườm nhau. Rốt cục
tên chúa tàu gằm mặt xuống, tra dao vào, ngồi xuống, làu
bàu trong cổ họng. Bác sĩ nói:
- Bây giờ tôi mới biết trong quận này có một người như anh.
Tôi không chỉ làm thầy thuốc, tôi còn xử án nữa. Nếu bận
sau còn xảy ra việc gì, tôi sẽ ra lệnh bắt và đuổi anh ra khỏi
đất này. Một lát sau, bác sĩ lên ngựa. Từ đêm ấy và những
đêm sau, tên chúa tàu im như thóc.
CHƯƠNG 2
HẮC CẨU
Mùa đông năm ấy rất lạnh, tuyết to, bão lớn. Bệnh tình cha
tôi không còn hy vọng qua khỏi mùa đông. Tất cả công việc
nhà đều đổ vào vai hai mẹ con tôi, nên chúng tôi cũng
không còn đâu thì giờ rỗi để gặp ông khách khả ố ấy nữa.
Tháng giêng, một buổi sáng rét buốt, tuyết phủ trắng bến
tàu, sóng vỗ nhẹ trên đá, mặt trời vừa nhô lên đầu núi, chiếu
sáng mặt biển xa. Viên chúa tàu dậy sớm hơn thường lệ. Hắn
đi ra biển, con dao dài lủng lẳng, ống nhòm dưới nách, mũ
hất ngược ra sau. Tôi nhớ khi hắn đi khuất sau tảng đá, tôi
còn nghe tiếng hắn thở phì phò gầm gừ như đương cơn tức.
Lúc bấy giờ tôi đương lúi húi dọn cơm sáng sẵn để hắn về
ăn. Chợt cửa mở, một người lạ mặt bước vào. Mặt hắn xanh
sạm, bàn tay trái cụt hai ngón. Hắn không giống người đi
biển nhưng có vẻ làm cho người ta phải nhớ đến biển. Hắn
bảo hắn muốn dùng “rum”. Tôi sắp đi lấy thì hắn ra hiệu bảo
tôi đến gần. Tôi dừng lại. Hắn gọi:
- Lại đây chú bé! Lại gần đây! Rồi hắn hỏi:
- Bàn ăn này có phải của ông bạn Bin không? Tôi bảo không
biết ai tên là Bin, mà đây là bàn của người
khách trọ thường gọi là ông chúa tàu.
- Phải, phải! Chúa tàu cũng đúng! Ông ta có cái sẹo ở má
trái, tính ông ta vui đáo để, nhất là khi ông ấy say, phải
không nào? Đúng đứt đi chứ lị! Thế ông Bin có nhà không?
- Đi vắng rồi.
- Đi đâu? Đi về lối nào? Nhìn lối tôi chỉ xong, người khách lạ
ngồi lại, mắt hau háu
nhìn ra bến như mèo rình chuột. Vừa lúc tôi chạy ra đường,
hắn gọi giật ngay; tôi chưa kịp vào, hắn rủa một tiếng làm tôi
mất hồn. Khi tôi vào rồi, hắn trở lại nhã nhặn, vỗ vai tôi,
khen tôi là đứa trẻ ngoan và bảo hắn thích tôi lắm:
- Tao cũng có đứa con trai giống mày như đúc. Nhưng đã là
con trai thì phải biết nghe lời, nghe không con? À đây rồi,
ông Bin đã về kia. Tao với mày hãy vào buồng nấp sau cửa
này để cho ông ta một mẻ hết vía chơi. Nói thế rồi hắn lôi tôi
vào buồng nấp sau cánh cửa bỏ ngỏ; hắn để tôi đứng sau
lưng, tay hắn sờ vào chuôi dao sau áo. Một chốc, tên chúa
tàu bước vào, đóng sầm cửa rồi bước thẳng lại bàn ăn.
- Bin!
Người lạ lên tiếng gọi, cố lấy giọng cho to, cho dõng dạc.
Viên chúa tàu quay lại. Mặt hắn biến sắc tái mét. Mắt hắn
thất thần, người hắn bỗng chốc trở nên già sọm. Người lạ lại
nói:
- Anh Bin, anh còn nhận ra người bạn cũ này chứ? Viên chúa
tàu hổn hển thở phào một tiếng:
- Hắc Cẩu!
- Không Hắc Cẩu thì còn ai vào đây nữa. Chao! Anh Bin ơi!
Từ khi tôi mất hai ngón tay này, hai chúng ta đã gặp bao
chuyện
trên đời!
Hắn vừa nói vừa giơ bàn tay trái cụt ngón ra. Viên chúa tàu
nói:
- Thôi! Anh đã tìm được tôi… Muốn gì nói đi!
- Bin, anh nói đúng! Để tôi bảo cậu bé đáng yêu này lấy cốc
“rum”, rồi chúng ta sẽ nói chuyện với nhau như những
người bạn
cũ.
Khi tôi mang rượu vào, Hắc Cẩu bảo tôi ra và không được
đứng nghe ở cửa. Tôi ra ngoài quầy, cố lắng tai nhưng chỉ
nghe tiếng rì rầm, một vài tiếng chửi rủa của viên chúa tàu.
Thốt nhiên có tiếng bàn ghế đổ, tiếp theo là tiếng dao loảng
xoảng rồi tiếng kêu thất thanh. Một chốc, tôi thấy Hắc Cẩu
chạy ra, tên chúa tàu đuổi sát sau, vai Hắc Cẩu máu đổ ròng
ròng. Đến cửa ngoài, viên chúa tàu giơ dao chém bổ xuống
nhưng lưỡi dao vướng vào tấm biển hàng. Hắc Cẩu thoát ra
ngoài, chạy biến mất sau gò. Còn viên chúa tàu giụi mắt
đứng ngơ ngác rồi vào nhà. Hắn gọi tôi:
- Dim! Đem “rum” đây!
Hắn vừa nói vừa lảo đảo, tay dựa vào tường. Tôi bàng hoàng
chạy đi lấy rượu. Bỗng nghe tiếng đánh thịch trong phòng.
Tôi vào thì đã thấy tên chúa tàu nằm dài sóng sượt, bất tỉnh
nhân sự. Lúc ấy mẹ tôi nghe tiếng chạy xuống. Chúng tôi
nâng cao đầu hắn lên. Mẹ tôi kêu:
Ố
ổ
ổ
ố
ố
ằ
- Ối giời! Khổ ơi là khổ! Lại còn bố mày ốm nằm liệt trên
kia!
Giữa lúc chúng tôi đang bối rối thì cánh cửa mở, bác sĩ Ly
bước vào. Trông thấy bác sĩ, chúng tôi mừng khôn xiết. Tôi
vội nói:
- Thưa bác sĩ, không hiểu lão bị thương ở đâu mà chết
cứng
thế này. Bác sĩ điềm nhiên bảo:
- Bị thương gì! Hắn lên chứng động kinh đấy. Giọng ông trở
nên ân cần ấm cúng.
- Còn bà, thôi hãy lên với ông nhà; đừng để ông nhà biết
chuyện này. Tôi sẽ cố chạy chữa cho hắn. Nào cậu Dim! Đi
lấy cái
thau đây.
Khi tôi đem thau lại thì bác sĩ đã xắn cánh tay áo hắn lên.
Trên cánh tay lực lưỡng có trổ nhiều dòng chữ:
“Thuận buồm xuôi gió”, “Tai qua nạn khỏi”, “Bin- bôn cóc
cần”. Bác sĩ bảo:
- Cậu cầm lấy chậu thau. Nào thử xem máu anh này ra sao.
Nói thế rồi bác sĩ cầm dao chích vào mạch máu hắn. Khi
máu chảy ra nhiều, hắn mới tỉnh dần và kêu lên:
- Hắc Cẩu đâu rồi?
- Chẳng có Hắc Cẩu đâu. Hắc Cẩu chỉ ở trong lương tâm của
anh thôi! Bác sĩ đáp.
- Anh uống quá nhiều “rum” nên mắc phải chứng kinh
phong đấy. Và bây giờ, ông Bin- bôn…
- Tên ấy không phải tên tôi Hắn vội nói. Bác sĩ bảo:
- Muốn tên gì cũng được. Tên ấy là tên một thằng cướp biển
ế
ề
ố
mà tôi từng biết! Tôi chỉ khuyên anh một điều: một cốc rượu
“rum” chưa can gì, nhưng nếu cứ chén trong kéo chén ngoài
thì có ngày anh đi đứt. Hiểu chưa? Thôi bây giờ anh cố
gượng, tôi đưa anh lên buồng ngủ.
Khó nhọc lắm, chúng tôi mới vực được hắn lên giường. Hắn
nằm thiêm thiếp. Bác sĩ kéo tôi ra:
- Không hề gì đâu, tôi đã lấy khá nhiều máu ở cánh tay hắn
để hắn phải nằm yên ít lâu. Như thế cũng yên cho hắn mà
cũng
yên cho gia đình cậu. Chỉ lên cơn một lần nữa là hắn đi đời.
CHƯƠNG 3
CÁI VẾT ĐEN
Một buổi trưa, tôi đến buồng viên chúa tàu, đem cho hắn ít
thức ăn và thuốc
- sắc mặt hắn trông xanh xao và ngớ ngẩn. Hắn bảo tôi:
- Cậu Dim, bây giờ tôi chỉ còn mình cậu. Người ta khinh khi
tôi, chẳng ai thèm ngó đến tôi nữa. Cậu cũng biết tôi đối xử
với cậu thế nào. Tháng nào tôi cũng cho cậu bốn xu đấy… à
này, cậu cho tôi xin một cốc rượu “rum” nào.
- Thầy thuốc đã dặn… Tôi chưa nói hết câu, hắn đã chửi
rầm
lên:
- Bọn thầy thuốc thì biết cóc khô gì! Lão lang ấy hiểu thế nào
được bọn thủy thủ chúng tôi. Tôi đã từng vào những chốn
nước sôi lửa bỏng, đất nóng như lửa than và động như sóng
cồn mà tôi sống được cũng chỉ nhờ uống “rum”. Không có
rượu “rum”, tôi còn thua cái giẻ rách. Mẹ kiếp, cái lão lang
đểu cáng! Giọng hắn lại trở thành van lơn:
- Cậu Dim, cậu thử nhìn ngón tay tôi run bắn thế này, chỉ vì
không có một giọt rượu. Nếu cậu không cho tôi hớp rượu, tôi
điên lên bây giờ. Tôi đã thấy lão Phơ-linh đứng ở xó kia. Tôi
đã nóng mắt lên rồi đây. Nào, cậu lấy cho tôi một cốc, nhanh
lên, tôi sẽ cho cậu một đồng tiền vàng nước Ghi-nê. Thấy
hắn đưa tiền ra dử, tôi tức lộn ruột. Nhưng nghĩ đến cha
đương bệnh nặng, cần yên tĩnh thuốc thang, sợ hắn làm ầm
lên, tôi bảo:
- Tôi chỉ cần ông trả tiền cơm cho đủ, ngoài ra tôi không
thèm ngửa tay lấy một xu nào của ông cả. Tôi chỉ rót cho
ông một cốc rượu thôi, không được vòi thêm đấy!
Cốc rượu tôi đưa, hắn ực một hơi cạn ráo. Hắn bảo:
- Hà, đã thấy hơi dễ chịu! Cậu có biết thầy thuốc bảo tôi
còn
ằ
phải nằm bao lâu không?
- Ít ra cũng một tuần lễ. Hắn kêu to:
- Chết mẹ! Một tuần lễ là không được rồi. Chẳng mấy chốc
mà bọn nó sẽ gửi cái vết đen đến rồi!
Hắn cố chống tay ngồi dậy rồi lại ngã giụi xuống giường.
Tôi
hỏi:
- Vết đen là cái gì?
- Đó là dấu hiệu báo trước. Bọn chúng mà gửi vết đen đến là
muốn đoạt lấy chiếc hòm của tôi đó. Bọn chúng toàn đồ chó
má, chỉ muốn ăn cướp của người. Nếu chúng gửi vết đen
đến, cậu cứ mượn ngựa… mượn ngựa đến cái lão thầy
thuốc… Cậu báo cho cái ông ấy biết là cứ rình ở đây, sẽ tóm
được hết cả lũ thủ hạ của lão Phơlinh. Khi xưa tôi là phó
thuyền của lão ấy. Khi chết, lão đã chỉ cho một mình tôi biết
cái chỗ ấy. Hắn còn nói huyên thiên, tiếng nói cứ yếu dần, rồi
hắn ngủ thiếp đi. Tôi đã định đi kể chuyện cho bác sĩ Ly
nghe nhưng thốt nhiên cha tôi mất, mọi việc đành xếp lại.
Lòng thương cha, việc tang bận rộn làm tôi gần như quên
bẵng tên chúa tàu và cũng không sợ hắn như trước nữa. Có
điều lạ là sáng hôm sau, hắn đã xuống nhà ăn cơm và uống
nhiều rượu “rum” hơn mọi bận. Sức hắn mỗi ngày mỗi lụn
dần, nhưng tính hung hãn vẫn như xưa. Ngay sau hôm đưa
đám cha tôi, tôi ra đứng trước cửa. Trời chiều, khí lạnh mịt
mù, tình thương cha bùi ngùi trong dạ. Tôi chợt thấy trên
đường cái một người đi lại. Tôi đoán chắc là người mù, vì
hắn cầm gậy khua phía trước. Hắn đeo một miếng the xanh
che kín mắt mũi, tuổi hắn già, hắn mặc cái áo đi biển cũ rích.
Hắn dừng trước cửa quán, lên tiếng hỏi:
- Ông bà nào làm phúc bảo cho kẻ mù lòa này biết nơi này
là
đâu?
Lòng thương nhớ cha tôi còn bổi hổi nên trông thấy kẻ tàn
tật, tôi bỗng chạnh lòng. Tôi vội bảo:
- Này ông già, đây là quán “Đô đốc Bin-bâu”.
- Tôi nghe tiếng ai như tiếng một cậu bé… Cậu ơi! Cậu dắt hộ
lão với…
Không ngần ngại, tôi đưa tay cho hắn cầm. Tên mù có giọng
nói ngọt xớt ấy liền bóp chặt tay tôi như kìm sắt. Tôi hoảng
sợ cố gỡ ra nhưng hắn kéo tôi lại gần bảo nhỏ:
- Đưa tao đến gặp viên chúa tàu!
- Thưa ông, tôi quả không dám. Hắn cười khanh khách, vẻ
chế giễu:
- Đưa tao vào ngay, không tao bẻ gãy tay bây giờ. Tôi định
phân trần, hắn đã cướp lời:
- Không nói nữa, đi vào ngay! Tôi không thấy tiếng ai độc ác,
lạnh lùng và gớm ghiếc như
tiếng tên mù ấy. Tôi đau thì ít mà sợ thì nhiều nên phải nghe
lời hắn. Tay tên mù nắm chặt lấy tôi như bàn tay sắt. Tôi đưa
hắn vào chỗ tên giặc già đương say rượu lừ đừ. Tên chúa tàu
thoạt thấy tên mù, hơi rượu “rum” bỗng bay mất. Hắn tỉnh
hẳn, trố mắt lên nhìn. Hắn cố đứng dậy nhưng không còn
sức. Tên mù nói:
- Này anh Bin, hãy ngồi yên đấy. Việc đâu có đó. Cậu bé
này,
cầm lấy cổ tay trái ông Bin đưa lại gần tay phải tôi…
Tôi và cả viên chúa tàu đều tuân theo. Hắn trao cho viên
chúa tàu một vật gì giấu trong tay hắn. Xong hắn buông tay
ra; thoắt một cái, hắn đã ra ngoài và đến đường cái. Tôi nghe
tiếng gậy lộc cộc xa dần. Một lúc sau, tên chúa tàu mới hoàn
hồn và nhìn xuống tay. Hắn kêu to:
- Kỳ hạn chúng cho đến mười giờ! Chúng ta còn sáu tiếng
nữa… để lo liệu. Nói xong, hắn đứng dậy. Ngay lúc ấy người
hắn chới với, hắn đưa tay lên kêu rú một tiếng rồi ngã vật
xuống. Tôi chạy lại và gọi mẹ tôi. Nhưng không kịp! Hắn đã
chết rồi.
CHƯƠNG 4
CÁI HÒM CỦA VIÊN CHÚA TÀU
Bấy giờ tôi mới nói những điều tôi biết cho mẹ tôi nghe. Hai
mẹ con tôi đương lâm vào cảnh ngộ rất khó khăn. Phần nợ
của viên chúa tàu đã làm chúng tôi sạt nghiệp, phần giặc
cướp rình mò quanh nhà. Trong lúc nguy khốn này, tôi chỉ
biết nghĩ đến bác sĩ Ly. Tôi muốn đến báo với ông nhưng lại
sợ để mẹ ở nhà một mình, ngộ xảy ra việc gì, lòng tôi không
nỡ. Cuối cùng mẹ con tôi quyết định chạy lên xóm bên cầu
cứu. Chúng tôi ra đi trong lúc nhá nhem tối, sương mù lạnh
buốt; cái xóm chỉ cách nhà tôi dăm trăm mét, vậy mà mịt
mù không thấy đâu cả! Đi được một đoạn, hai mẹ con dừng
lại lắng nghe… Nhưng ngoài tiếng nước vỗ, tiếng quạ kêu
trong rừng, chẳng nghe thấy tiếng gì khác. Đến xóm thì vừa
lúc lên đèn. Tôi không quên được phút vui mừng khi trông
thấy ánh đèn. Chúng tôi cầm chắc đến đây là có người cứu
giúp. Nhưng khi nghe đến tên tướng cướp Phơ-linh và đồng
đảng của hắn là mọi người rụt cổ. Rút cục chỉ có người chịu
đi báo với ông Ly, nhưng không ai chịu đến giữ quán cơm
với chúng tôi cả. Người ta nói, bệnh sợ là bệnh hay lây.
Nhưng sợ quá cũng hóa liều, thành đánh bạo. Mẹ tôi bảo
không muốn để đứa con vừa mồ côi cha phải mất một số
tiền nợ. Mẹ tôi mượn một cái túi đựng tiền, rồi hai mẹ con
dắt díu nhau trở về. Mặt trăng mới mọc chiếu hồng lớp
sương mù. Chúng tôi đi nhanh chân để khi trở lại, trăng
chưa sáng. Đến nhà, đóng cửa xong mới thấy yên tâm. Mẹ tôi
lấy nến đốt lên rồi hai mẹ con dắt nhau vào phòng. Xác tên
chúa tàu vẫn nằm ngửa như cũ. Mẹ tôi bảo nhỏ:
- Kéo cửa gỗ xuống con! Kẻo ở ngoài trông thấy.
Xong, mẹ tôi bảo phải lấy cái chìa khóa trong mình hắn. Tôi
đánh bạo quỳ xuống… Cạnh tay hắn có một mảnh giấy tròn
nhỏ, một mặt bôi đen. Tôi đoán ngay là cái vết đen. Mặt bên
kia viết mấy chữ:
“Kỳ hạn cho anh đến 10 giờ đêm nay là hết”.
Tôi nhìn lên cái đồng hồ cổ treo trên vách. Mới có 6 giờ.
Mẹ
tôi giục:
- Dim! Tìm chìa khóa đi con! Tôi lần túi hắn, hết túi này sang
túi nọ, nhưng tôi thất vọng. Mẹ tôi bảo:
- Có khi hắn treo ở cổ. Tôi mò lên thì thấy cái chìa khóa buộc
vào một đoạn dây,
treo ngay ở cổ. Chúng tôi vội vã lên gác, vào thẳng gian
phòng hắn ngủ, nơi hắn để chiếc hòm đồ khi mới đến. Chiếc
hòm này cũng giống như trăm ngàn chiếc hòm khác của bọn
thủy thủ. Trên mặt hòm có khắc một chữ “B” bằng sắt nung.
Vừa mở nắp lên, thấy sặc mùi thuốc lá và hơi nhựa. Ở ngăn
trên thấy có một bộ quần áo còn mới nguyên. Ở dưới, các
thứ để lộn xộn: một cái thước đo đường biển, vài cuộn thuốc
lá, hai khẩu súng lục thật đẹp, một thoi bạc, một đồng hồ
quả quít cổ, một ít đồ lặt vặt, phần nhiều là đồ nước ngoài,
một cái com-pa, một đôi địa bàn vỏ đồng và năm sáu cái vỏ
ốc. Nói chung chẳng có vật gì quý giá. Ở dưới nữa, thấy có
một cái áo tơi đi biển đã bạc màu. Mẹ tôi sốt ruột, lôi cái áo
ấy lên. Trong hòm chỉ còn một gói bọc vải sơn dầu hình như
ở trong có gói giấy má gì và một cái túi vải; chạm đến túi
nghe tiếng loảng xoảng. Mẹ tôi nói:
- Tao sẽ cho bọn bất lương thấy rằng tao là người lương
thiện. Tao chỉ lấy đủ số tiền nợ, không thèm lấy thêm một xu
nhỏ… Này, cầm lấy cái túi… Mẹ tôi vốc tiền trong túi của hắn,
vừa đếm vừa bỏ vào cái túi tôi cầm. Trong túi hắn có đủ cả
tiền các nước: Tiền vàng Tây Ban Nha, tiền vàng Pháp, tiền
Ghi-nê Anh, và còn nhiều thứ tiền khác nữa. Tiền Ghi-nê có
ít, nhưng chỉ có thứ tiền ấy mới tính nợ được, vì thế đếm tiền
vừa lâu vừa khó. Đang đếm tôi bỗng nghe tiếng gậy của
thằng mù khua trên đường cái lạnh. Hắn đang đi lại gần. Hắn
gõ cửa quán mấy cái. Chúng tôi nghe tiếng vặn quả đấm,
tiếng then cửa lạch cạch rồi phút chốc trong ngoài yên
lặng… Lại nghe tiếng gậy lộc cộc trên đường xa dần rồi mất
hẳn. Tôi nói:
- Mẹ ơi! Ta đem cả đi thôi.
Tuy sợ, nhưng mẹ tôi vẫn khí khái, nhất định không chịu lấy
hơn số tiền nợ, mà cũng không chịu thiếu. Mẹ con đương
giằng co nhau thì thốt nghe có tiếng còi rúc ở phía đồi. Tôi
vội vàng đứng dậy, vừa nhặt cái gói vải sơn dầu vừa nói:
- Con lấy cái này cho đủ số tiền nợ.
Chúng tôi lần xuống, bỏ lại cây nến rồi mở cửa chạy ra ngoài.
Sương mù tan nhanh, mặt trăng lồ lộ chiếu sáng trên dãy gò.
Chúng tôi bước nhanh. Chưa được nửa đường, chúng tôi đã
nghe thấy tiếng chân nhiều người đi lại; phía trước có một
ắ
ế
ngọn đèn lắc lư. Chúng tôi biết ngay trong bọn nó có người
xách đèn. Thốt nhiên mẹ tôi quỵ xuống nói như giối giăng:
- Con ơi! Cầm lấy tiền mà chạy đi thôi… Mẹ đuối sức rồi,
không bước được nữa.
May sao đã đến gần cầu. Trong gian nguy, sức tôi khỏe lên
gấp bội. Tôi xốc nách, dìu mẹ tôi men theo bờ lạch, đến mãi
dưới gầm cầu. Mẹ tôi thở hắt một tiếng rồi nằm vật ra. Chúng
tôi chỉ cách hàng cơm một quãng ngắn.
CHƯƠNG 5
HẾT KIẾP THẰNG MÙ
Tuy tôi sợ nhưng tính tò mò của tôi lại mạnh hơn. Tôi bò lại
nấp sau bụi, nhìn lên con đường trước cửa nhà. Tôi vừa ngồi
xuống thì bảy tám tên giặc ồ ạt chạy đến, tên cầm đèn đi
đầu. Tuy trời sương mù, tôi cũng nhận ra tên mù đi giữa.
Một lát, nghe tiếng hắn quát to:
- Phá cửa đi!
Cả bọn kéo ùa vào nhà, lão mù đứng ngoài, luôn mồm đốc
thúc và chửi rủa. Thốt nhiên một tiếng kinh ngạc vọng ra:
- Lão Bin chết rồi! Nhưng tên mù quát:
- Đồ ngốc, cứ lục túi nó xem! Rồi những tiếng kêu kinh ngạc
ầm nhà. Từ gác trên một đứa thò đầu ra bảo:
- Piu ơi! Có kẻ đến trước lục tung cả rồi! Lão mù gầm lên:
- Có thấy cái ấy không?
- Có thấy tiền. Lão Piu rống lên:
- Tiền thì làm cái đếch gì! Tao hỏi giấy tờ của lão Phơ-linh
kia!
- Chẳng có giấy tờ nào cả. Lão mù lại kêu to lên:
- Thôi, chính mấy đứa ở quán cơm lấy rồi! Chính thằng nhãi
con! Biết thế ông móc mắt nó cho sớm. Thôi chúng bay tản
đi các
ngả, tìm chúng ngay. Một tên đứng gần cửa sổ bảo:
- Phải rồi! Đèn nó còn để đây. Ngay lúc ấy, tiếng còi lúc nãy
lại rúc lên hai lần. Tôi hiểu
ngay là tiếng còi hiệu báo nguy của đồng đảng chúng. Tôi
nghe lão
Piu hét lớn:
- Còi mặc còi! Chúng bay chỉ là đồ ăn hại, đồ chó má! Cứ
sục
ẫ
ầ
tìm chúng nó đi. Nhưng bọn chúng vẫn ngần ngại. Lão mù
lại chửi rầm lên:
- Lũ bay là đồ khốn kiếp! Của để trước miệng mà còn chần
chừ! Chuyến này mà hỏng việc là tại chúng mày cả. Một đứa
trong bọn lên tiếng:
- Piu ơi! Đừng rống lên nữa! Cứ cầm lấy một ít tiền vàng đây
mà xài!
Nghe thế, lão mù bỗng hằm hằm tức giận, vung gậy đập
chan chát vào bọn kia. Bọn chúng cũng chửi rủa lại. Nhờ
trận ẩu đả ấy, chúng tôi thoát nạn. Giữa khi ấy có tiếng ngựa
phi dồn dập ở đỉnh gò, rồi tiếp theo một tiếng súng nổ cạnh
đấy. Có lẽ đó là tiếng báo hiệu nguy nhất, vì tôi thấy bọn giặc
vụt chạy tán loạn, bỏ trơ lão mù lại một mình. Lão ta vung
gậy quờ quạng, vừa chạy vừa kêu gọi bọn kia. Nhưng tiếng
vó ngựa đã nện trên đỉnh gò và phi xuống dưới ánh trăng.
Lão mù bỗng như điên dại, chạy đâm thẳng ngay vào chân
con ngựa đầu đàn đang phi tới. Lão chỉ kịp kêu lên một
tiếng. Bốn vó ngựa xéo lên mình lão, hất lão nằm úp sấp mặt
xuống đất. Tôi nhảy ra và nhận ra ngay những nhân viên
thuế quan đương kéo đến. Nhưng tất cả bọn giặc đã cao chạy
xa bay. Thằng Piu thì đã chết thẳng cẳng. Mẹ tôi cũng đã tỉnh
lại. Viên thanh tra hỏi tôi bọn chúng định cướp gì trong nhà.
Tôi thuật lại câu chuyện và nói:
- Tôi chắc không phải chúng kiếm tiền mà chính là chúng
muốn tìm cái vật tôi đang giữ đây. Bây giờ tôi muốn trao cái
này lại cho bác sĩ Ly…
Viên thanh tra gật đầu tán thành ngay và chúng tôi cùng
lên
ngựa, đi nước kiệu về thẳng nhà bác sĩ Ly.
CHƯƠNG 6
GIẤY TỜ CỦA VIÊN CHÚA TÀU
Lúc chúng tôi đến nơi thì người đầy tớ gái cho biết bác sĩ đã
xuống chơi với nhà quý tộc Chi-lô-nây và ngủ đêm ở đấy.
Bác sĩ và ông Chi là hai người bạn thân tình. Theo lời bác sĩ
thì ông Chi là một người hào hiệp, giàu lòng bác ái, hay cứu
khốn phò nguy. Ông ta chỉ thích đi săn và làm việc nghĩa. Đã
có lần ông cho gọi tôi đến, hỏi han về sự học hành và xoa
đầu tôi, bảo:
- Cháu là đứa trẻ thông minh. Cháu nên gắng học để sau
này
thành người có ích cho nước nhà.
Tôi còn nhớ lần ấy ông bảo mang lên cho tôi một đĩa thịt
chim và bắt tôi ăn cho kỳ hết mới nghe. Tuy đối với ông, tôi
không thân bằng bác sĩ Ly, nhưng lòng tôi vẫn kính phục
ông hết sức. Khi chúng tôi đến thì thấy hai ông đang ngồi
hút thuốc lá cạnh lò sưởi. Lần này tôi mới nhìn được ông Chi
rõ hơn. Ông người cao lớn, nét mặt hiền từ nhưng cương
nghị, lông mày đen sẫm, khi giương lên, khi cau lại, tỏ ra
người nhanh trí và hơi kiêu kỳ. Ông ngồi nghe viên thanh
tra thương chính thuật chuyện một cách thích thú. Thỉnh
thoảng ông lại nhìn tôi, nửa như khen ngợi, nửa như khuyến
khích. Khi viên thanh tra ra về, bác sĩ Ly đứng dậy hỏi tôi:
- Cậu Dim, cái vật chúng muốn tìm là cái gì?
- Thưa ông, đây… Tôi vừa nói vừa đưa cái gói bọc vải sơn
dầu cho bác sĩ. Bác sĩ ngắm nghía, hình như muốn mở
nhưng lại thôi. Ông Chi hỏi tôi:
- Chắc cậu đói lắm, phải không? Không đợi tôi trả lời, ông đã
gọi mang thức ăn ra. Lần này
cũng lại một đĩa thịt chim ướp. Tôi đang đói bụng, ăn rất
ngon lành. Bác sĩ Ly đương ngồi trầm ngâm, tay mân mê cái
gói vải sơn dầu, bỗng ông hỏi ông Chi:
- Này, chắc ngài đã nghe nói đến tên Phơ-linh? Ông Chi đáp
thực to:
- Lão Phơ-linh là tay trùm cướp khét tiếng, ai mà không
biết! Bác sĩ Ly lại hỏi:
- Thế lão ấy có nhiều tiền của không? Ông Chi lại nói to:
- Làm giặc, chả giết người kiếm tiền thì còn kiếm gì? Số tiền
ế
ố
ấ
lão kiếm được suốt một đời làm giặc cũng đủ cất một kho
của lớn.
Dừng một lát, bác sĩ Ly lại hỏi:
- Giá thử trong cái gói này đây có đủ giấy má để tìm nơi lão
Phơ-linh giấu của, thì ngài định liệu thế nào?
- Thì chúng ta sẽ sửa soạn một chiếc tàu, đi lấy về thôi. Bác
sĩ nói:
- Thôi được! Xin mời cậu Dim lại đây! Khi tôi đến gần, bác sĩ
đặt cái gói lên bàn rồi trịnh trọng nói:
- Cậu là người có công lấy được vật này. Nếu cậu ưng thuận,
chúng ta sẽ cùng mở ra xem.
Không nói thì các bạn cũng biết, tôi đã vui vẻ gật đầu. Trong
gói có hai thứ: một quyển sổ của tên Piu ghi tiền cướp được,
và một phong bì niêm kín, có dấu đóng. Thấy quyển sổ
không có gì quan trọng, bác sĩ Ly liền mở đến phong bì.
Trong đó có bản đồ một cái đảo, có chia cả kinh tuyến, vĩ
tuyến, các chỗ sâu, chỗ nông, tên núi, tên bến, tên lạch và
nơi đỗ tàu chắc chắn. Cái đảo chiều dài chín dặm, ngang
năm dặm, trông hình dáng như con rồng uốn. Đảo có hai
bến rất kín, ở giữa có cái gò tên là Vọng Viễn, có ghi nhiều
dấu, có dấu mới ghi thêm. Tính ra thì có ba dấu chữ thập đỏ,
hai ở phía bắc đảo và một về phía tây nam. Gần dấu này có
mấy chữ viết mực đỏ rất rõ:
“Phần chính kho của là ở nơi này”. Đằng sau, có chú thêm,
chữ cùng do một người viết:
“Cây to. Đồi con, gò Vọng Viễn, mũi đất về phía B.B.Đ. “Đảo
Hình Người Đ.Đ.N. “Mười mét…” Rồi một số dòng chữ chú
thích nữa, dưới ký: “P.”
Tuy vắn tắt và khó hiểu như vậy, nhưng trông mặt hai ông
rạng rỡ vui mừng. Bác sĩ kêu lên:
- Một kho của lớn sắp về tay chúng ta. Từ lúc xem xong bản
đồ, nét mặt ông Chi vốn trầm lặng bỗng
giờ đây mắt sáng long lanh, ông đứng lên nói một cách say
sưa:
ắ
- Tôi thì tôi nghĩ một kho của phi nghĩa sắp trở thành một
kho của có ý nghĩa. Một kho vàng nằm im vô dụng, giờ đây
sắp được đem lên để làm sáng bao nhiêu khuôn mặt khổ
nghèo.
Bác sĩ Ly gật gật đầu ra vẻ đồng tình, rồi vừa cười vừa nói:
- Thôi tha hồ ngài được toại nguyện bình sinh. Ngài có thể
cứu tế cho trẻ mồ côi ba quận, chứ đừng nói một quận nhỏ
bé này. Ông Chi tiếp lời ngay:
- Còn ông, ông cũng tha hồ mở nhiều nhà thương làm
phúc… Chợt bác sĩ quay lại phía tôi:
- Còn cậu Dim! Cậu là người có công đầu trong việc này, ý
cậu thế nào? Cậu có đi với chúng tôi không? Tôi lúng túng
một lúc lâu rồi ấp úng trả lời:
- Tôi xin đi theo… Bác sĩ Ly lại quay sang nói với ông Chi:
- Việc này rất hệ trọng, có thể nguy hiểm đến tính mạng như
chơi, vì giấy tờ này không phải chỉ riêng chúng ta biết… Ông
Chi khảng khái đáp:
- Dù có phải nguy hiểm đến tính mạng tôi cũng không ân
hận gì vì chúng ta đang làm một việc nghĩa… Bác sĩ ngắt lời:
- Vì thế, tôi chỉ lo một người có thể làm lộ công việc. Ông Chi
nói to:
- Kẻ ấy là ai, ông thử nói tên nó ra? Bác sĩ đáp:
- Chính ngài chứ ai nữa! Vì ngài hay bộp chộp. Ông Chi im
lặng rồi nói khẽ:
- Ngài nói chí lý. Tôi xin giữ kín việc này.
CHƯƠNG 7
TÊN BẾP TÀU
Cuộc chuẩn bị vẫn kéo dài. Bác sĩ Ly và ông Chi đều đi lo
công việc. Chỉ còn tôi ở lại nhà với lão Ri- đrus. Suốt ngày,
tôi ngồi tưởng tượng đến tương lai với lòng chứa chan
những ước mơ đẹp đẽ. Khi thì tôi nghĩ đến những nhà
thương đồ sộ mà bất kể nghèo giàu, hễ ai vào đấy là đều
được săn sóc chu đáo, không phải trả một đồng xu nhỏ. Cái
cảnh vì thiếu tiền thuốc mà phải chết dần chết mòn như cha
tôi sẽ không còn nữa. Khi thì tôi tưởng tượng đến sự mừng
rỡ của những đứa trẻ mồ côi nghèo đói được nuôi dưỡng ăn
học như con nhà giàu. Có những cảnh làm tôi xúc động đến
rớm nước mắt. Có lúc tôi lại say sưa mơ tưởng về biển: nào
phong cảnh tuyệt vời của đảo, nào những thứ hoa thơm cỏ
lạ, nào những chuyện phiêu lưu thần kỳ. Tôi ngồi hình dung
lại bản đồ, nhớ các chỗ từng ly từng tí. Rồi một hôm, có
phong thư của ông Chi gửi về báo tin công việc đã sắp đặt
xong...
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
CHƯƠNG 15
CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19
CHƯƠNG 20
CHƯƠNG 21
CHƯƠNG 22
CHƯƠNG 23
CHƯƠNG 24
CHƯƠNG 25
CHƯƠNG 26
CHƯƠNG 27
CHƯƠNG 28
CHƯƠNG 29
CHƯƠNG 30
Table of Contents
CHƯƠNG 1
Tên giặc biển già đời
CHƯƠNG 2
Hắc cẩu
CHƯƠNG 3
Cái vết đen
CHƯƠNG 4
Cái hòm của viên chúa tàu
CHƯƠNG 5
Hết kiếp thằng mù
CHƯƠNG 6
Giấy tờ của viên chúa tàu
CHƯƠNG 7
Tên bếp tàu
CHƯƠNG 8
Vấn đề khí giới và thuốc súng
CHƯƠNG 9
Đi biển
CHƯƠNG 10
Những điều tôi nghe được khi nấp trong thùng lê
CHƯƠNG 11
Hội đồng quân sự
CHƯƠNG 12
Bước chân lên đảo
CHƯƠNG 13
Người trong đảo
CHƯƠNG 14
Cố thủ trên đảo
CHƯƠNG 15
Trong lô-cốt
CHƯƠNG 16
Xin-ve đi thương lượng
CHƯƠNG 17
Trận đánh khu vực lô-cốt
CHƯƠNG 18
Lênh đênh trên biển
CHƯƠNG 19
Khi nước triều xuống
CHƯƠNG 20
Chiếc thuyền độc mộc lênh đênh
CHƯƠNG 21
Tôi hạ lá cờ đen của giặc xuống
CHƯƠNG 22
Lão Han
CHƯƠNG 23
Đồng ăn tám
CHƯƠNG 24
Trong trại quân thù
CHƯƠNG 25
Lại cái vết đen
CHƯƠNG 26
Giữ đúng lời hứa
CHƯƠNG 27
Đi tìm nơi giấu của
CHƯƠNG 28
Tiếng hát trong lùm cây
CHƯƠNG 29
Một tay đầu têu thất thế
CHƯƠNG 30
Đoạn cuối
CHƯƠNG 1
TÊN GIẶC BIỂN GIÀ ĐỜI
Ngày ấy cha tôi còn đứng chủ quán cơm “Đô đốc Bin- bâu”.
Quán cơm dựng ở một nơi hẻo lánh trên cửa biển. Hàng ế
ẩm, khách thưa thớt, cảnh nhà túng quẫn. Cha tôi phần lo
buồn, phần ốm yếu khật khừ. Cha tôi có thể còn sống lâu
nữa nếu không gặp phải cái tên thủy thủ già ấy đến trọ. Tôi
còn nhớ rõ như mới gặp hắn hôm qua. Hắn nặng nề đi đến
cửa, chiếc hòm đặt trên xe theo sau. Người hắn to lớn, vạm
vỡ, nước da lưng sạm như gạch nung, cái đuôi tóc trên đầu
bết lại như keo lòng thòng trên cổ áo xanh đã hoen nhiều
vết; tay hắn sần sùi; trên má có một vết sẹo chém dọc xuống,
trắng bệch trông đến bẩn. Tôi còn nhớ, hắn đứng đưa mắt
nhìn quanh cửa biển, miệng huýt sáo rồi cất tiếng hát bài
hát cổ của bọn thủy thủ, bài hát ấy về sau hắn hát luôn. Mười
lăm thằng trên hòm người chết ỳ a, ỳ a… Be rượu “rum” say
bét say be! Hắn hát to, giọng ồ ồ cũ kỹ. Hát xong hắn cầm
gậy gõ cửa. Cha tôi ra, hắn bảo đem một cốc rượu “rum”,
giọng rất cộc cằn. Hắn nhấm nháp rượu ra vẻ một tay sành.
Hắn chăm chú nhìn ra bờ biển dốc ngược, nhìn vào cái biển
cửa hàng rồi nói:
- Cái quán này thật là nơi thuận lợi. Đông khách không bác?
Cha tôi trả lời:
- Thưa khách lắm.
- Cũng chỉ cần thế. Nói xong hắn gọi người phu khuân hòm
vào nhà. Lát sau,
hắn lại nói:
- Tôi nghỉ đây ít lâu. Tính tôi rất dễ dãi. Chỉ cần một ít rượu
“rum”, ít trứng và mỡ là đủ; với lại thỉnh thoảng ra đứng
ngoài kia xem tàu chạy. Mà bác sẽ gọi tôi như thế nào nhỉ?
Thôi cứ gọi là ông chúa tàu vậy. À thôi! Tôi biết cái điều bác
đang lưỡng lự rồi! Này đây!
Nói thế, hắn quẳng ngay ba bốn đồng tiền vàng ra:
- Khi nào hết, bác cứ bảo tôi!
Hắn nói một cách thô lỗ và rất hách dịch. Tuy ăn vận lôi
thôi, nói năng cục cằn, nhưng coi bộ hắn không phải một
thủy thủ thường. Hắn ra dáng một viên thuyền trưởng hay
ề
ố
y
g
g ộ
y
g y
phó thuyền trưởng quen lối tác oai tác quái với kẻ dưới.
Bình thường, tính hắn rất trầm mặc. Suốt ngày hắn thơ thẩn
ven bờ biển cao, tay cầm cái ống nhòm bằng đồng. Chiều tối,
hắn về ngồi thu lu ở xó buồng bên cạnh đống lửa, uống rất
nhiều rượu “rum” pha nước. Mỗi lần đi chơi về, hắn lại hỏi:
có người thủy thủ nào đi qua đây không? Mới đầu, chúng tôi
tưởng hắn muốn tìm người thân thuộc, nhưng sau mới biết
hắn muốn tránh mặt bọn thủy thủ. Một hôm, hắn gọi tôi ra
một nơi và dặn hễ nhìn thấy tên thủy thủ cụt một chân thì
nhớ bảo ngay cho hắn biết; rồi hắn hẹn cứ mồng một đầu
tháng hắn sẽ cho bốn xu. Thường đầu tháng, tôi phải đến
nhắc hắn cho tiền, và mỗi bận như thế hắn thở phì phì,
giương mắt nhìn tôi làm tôi phải cúi mặt. Nhưng sau đấy,
hắn lại đưa tiền cho tôi và nhắc lại phải để ý tìm người thủy
thủ cụt chân. Không nói thì các bạn cũng biết cái hình ảnh
anh lính thủy cụt chân này đến ám ảnh tôi luôn. Trong
những đêm bão tố, gió lay bốn góc nhà, sóng gầm ven bến
quanh bờ, tôi mơ thấy anh ta hiện ra thiên hình vạn trạng.
Lúc thấy chân anh cụt tới gối, lúc cụt đến bẹn, lúc chỉ còn
một chân mọc ở giữa ngực. Có đêm thấy anh ta nhảy qua rào
qua hố đuổi tôi, làm tôi sợ toát mồ hôi. Chỉ vì bốn xu mà
phải chịu những cơn sợ như vậy, kể ra bốn xu cũng to quá.
Tên chúa tàu uống nhiều rượu “rum” đến nỗi nhiều đêm hắn
như lên cơn loạn óc. Hắn ngồi hát những bài ca cổ man rợ.
Có khi hắn gọi rượu, ép mọi người phải uống để nghe hắn kể
chuyện hay hát theo cùng hắn. Mọi người run sợ phải cố hát
theo. Nhiều lúc cả nhà ầm lên những câu hát: ỳ a, ỳ a… Be
rượu “rum” say bét say be! Khi thì hắn đập bàn bắt mọi
người ngồi im lặng. Lúc ấy hễ ai hỏi động đến hắn là hắn nổi
cơn thịnh nộ. Chỉ đến khi say khướt, chân tay mềm rủn, hắn
mới để khách ra về. Chuyện hắn kể rặt là những chuyện
khủng khiếp: nào thắt cổ nhục hình, nào bão biển, đảo Rùa,
nào những chuyện kỳ quặc trên đất hoang thuộc xứ Tây Ban
Nha. Cha tôi lo buồn sợ mất khách vì hắn. Nhưng điều nguy
hơn cả là hắn cứ ở lần lữa ngày này qua ngày nọ đến nỗi tiền
hắn đưa trả đã hết từ lâu mà cha tôi cũng không có can đảm
để hỏi hắn. Hễ đả động đến là mắt hắn long lên, mũi hắn gầm
gừ thở phì phò làm cha tôi phải vội vã rút lui. Và mỗi bận
như thế cha tôi lại vặn tay uất ức. Những lo phiền sợ hãi ấy
đã làm bệnh tình cha tôi thêm trầm trọng. Trong khi hắn ở
trọ quán chúng tôi, hắn vẫn đội cái mũ ba vành nhàu nát và
cái áo xanh lem luốc vá víu trăm mảnh. Hắn chẳng bắt
chuyện với ai sau lúc hắn tỉnh dậy. Cả đến cái hòm to của
hắn cũng chẳng bao giờ thấy hắn mở. Có một lần hắn gặp tay
đối thủ. Lúc ấy cha tôi đang ốm nặng. Buổi trưa ấy, bác sĩ Lyvơxây đến thăm bệnh cha tôi. Bác sĩ là người nhân từ có
tiếng. Gặp những người nghèo khổ, ông hay giúp đỡ và có
lúc chữa bệnh cho họ không hề lấy một xu nhỏ. Riêng đối
với gia đình tôi, ông là một vị ân nhân. Xem xong bệnh cho
cha tôi, ông sang phòng bên hút thuốc. Anh chúa tàu đang ê
a bài hát cũ: Mười lăm thằng trên hòm người chết, ỳ a, ỳ a…
Be rượu “rum” say bét say be! Ngoài bác sĩ ra, bài hát này
chẳng ai lạ tai hết. Hát xong, quen lệ hắn đập tay xuống bàn
quát mọi người im. Mọi người đều nín thít. Riêng bác sĩ vẫn
hút thuốc và vẫn ôn tồn giảng cho một ông lão nghe cách trị
bệnh tê thấp. Anh chúa tàu trừng trừng nhìn bác sĩ, lại vỗ
bàn, rồi quát lên bằng giọng tục tĩu:
- Đằng ấy có câm mồm không? Bác sĩ nói:
- Ông bảo tôi phải không? Khi anh chàng tục tằn kia bảo
“phải”, bác sĩ nói:
- Tôi nói với anh điều này: nếu anh cứ uống rượu “rum” mãi,
thì đến phải tống anh đi nơi khác.
Cơn tức của tên giặc già thật đến ghê. Hắn đứng phắt dậy rút
soạt dao ra, lăm lăm chực đâm bác sĩ. Tôi lo cho bác sĩ quá.
Nhưng ông vẫn vững chãi, giọng vừa dõng dạc vừa bình tĩnh
mà quả quyết:
- Nếu anh không cất dao vào, tôi quyết sẽ làm anh bị treo
cổ
trong phiên tòa đại hình sắp tới.
Tôi còn nhớ trông bác sĩ lúc này với gã kia thật khác nhau
một trời một vực. Một đằng thì đức độ khoan dung, hiền từ
mà nghiêm nghị. Một đằng thì nanh ác, hung hăng như con
thú dữ nhốt chuồng. Hai người đưa mắt gườm nhau. Rốt cục
tên chúa tàu gằm mặt xuống, tra dao vào, ngồi xuống, làu
bàu trong cổ họng. Bác sĩ nói:
- Bây giờ tôi mới biết trong quận này có một người như anh.
Tôi không chỉ làm thầy thuốc, tôi còn xử án nữa. Nếu bận
sau còn xảy ra việc gì, tôi sẽ ra lệnh bắt và đuổi anh ra khỏi
đất này. Một lát sau, bác sĩ lên ngựa. Từ đêm ấy và những
đêm sau, tên chúa tàu im như thóc.
CHƯƠNG 2
HẮC CẨU
Mùa đông năm ấy rất lạnh, tuyết to, bão lớn. Bệnh tình cha
tôi không còn hy vọng qua khỏi mùa đông. Tất cả công việc
nhà đều đổ vào vai hai mẹ con tôi, nên chúng tôi cũng
không còn đâu thì giờ rỗi để gặp ông khách khả ố ấy nữa.
Tháng giêng, một buổi sáng rét buốt, tuyết phủ trắng bến
tàu, sóng vỗ nhẹ trên đá, mặt trời vừa nhô lên đầu núi, chiếu
sáng mặt biển xa. Viên chúa tàu dậy sớm hơn thường lệ. Hắn
đi ra biển, con dao dài lủng lẳng, ống nhòm dưới nách, mũ
hất ngược ra sau. Tôi nhớ khi hắn đi khuất sau tảng đá, tôi
còn nghe tiếng hắn thở phì phò gầm gừ như đương cơn tức.
Lúc bấy giờ tôi đương lúi húi dọn cơm sáng sẵn để hắn về
ăn. Chợt cửa mở, một người lạ mặt bước vào. Mặt hắn xanh
sạm, bàn tay trái cụt hai ngón. Hắn không giống người đi
biển nhưng có vẻ làm cho người ta phải nhớ đến biển. Hắn
bảo hắn muốn dùng “rum”. Tôi sắp đi lấy thì hắn ra hiệu bảo
tôi đến gần. Tôi dừng lại. Hắn gọi:
- Lại đây chú bé! Lại gần đây! Rồi hắn hỏi:
- Bàn ăn này có phải của ông bạn Bin không? Tôi bảo không
biết ai tên là Bin, mà đây là bàn của người
khách trọ thường gọi là ông chúa tàu.
- Phải, phải! Chúa tàu cũng đúng! Ông ta có cái sẹo ở má
trái, tính ông ta vui đáo để, nhất là khi ông ấy say, phải
không nào? Đúng đứt đi chứ lị! Thế ông Bin có nhà không?
- Đi vắng rồi.
- Đi đâu? Đi về lối nào? Nhìn lối tôi chỉ xong, người khách lạ
ngồi lại, mắt hau háu
nhìn ra bến như mèo rình chuột. Vừa lúc tôi chạy ra đường,
hắn gọi giật ngay; tôi chưa kịp vào, hắn rủa một tiếng làm tôi
mất hồn. Khi tôi vào rồi, hắn trở lại nhã nhặn, vỗ vai tôi,
khen tôi là đứa trẻ ngoan và bảo hắn thích tôi lắm:
- Tao cũng có đứa con trai giống mày như đúc. Nhưng đã là
con trai thì phải biết nghe lời, nghe không con? À đây rồi,
ông Bin đã về kia. Tao với mày hãy vào buồng nấp sau cửa
này để cho ông ta một mẻ hết vía chơi. Nói thế rồi hắn lôi tôi
vào buồng nấp sau cánh cửa bỏ ngỏ; hắn để tôi đứng sau
lưng, tay hắn sờ vào chuôi dao sau áo. Một chốc, tên chúa
tàu bước vào, đóng sầm cửa rồi bước thẳng lại bàn ăn.
- Bin!
Người lạ lên tiếng gọi, cố lấy giọng cho to, cho dõng dạc.
Viên chúa tàu quay lại. Mặt hắn biến sắc tái mét. Mắt hắn
thất thần, người hắn bỗng chốc trở nên già sọm. Người lạ lại
nói:
- Anh Bin, anh còn nhận ra người bạn cũ này chứ? Viên chúa
tàu hổn hển thở phào một tiếng:
- Hắc Cẩu!
- Không Hắc Cẩu thì còn ai vào đây nữa. Chao! Anh Bin ơi!
Từ khi tôi mất hai ngón tay này, hai chúng ta đã gặp bao
chuyện
trên đời!
Hắn vừa nói vừa giơ bàn tay trái cụt ngón ra. Viên chúa tàu
nói:
- Thôi! Anh đã tìm được tôi… Muốn gì nói đi!
- Bin, anh nói đúng! Để tôi bảo cậu bé đáng yêu này lấy cốc
“rum”, rồi chúng ta sẽ nói chuyện với nhau như những
người bạn
cũ.
Khi tôi mang rượu vào, Hắc Cẩu bảo tôi ra và không được
đứng nghe ở cửa. Tôi ra ngoài quầy, cố lắng tai nhưng chỉ
nghe tiếng rì rầm, một vài tiếng chửi rủa của viên chúa tàu.
Thốt nhiên có tiếng bàn ghế đổ, tiếp theo là tiếng dao loảng
xoảng rồi tiếng kêu thất thanh. Một chốc, tôi thấy Hắc Cẩu
chạy ra, tên chúa tàu đuổi sát sau, vai Hắc Cẩu máu đổ ròng
ròng. Đến cửa ngoài, viên chúa tàu giơ dao chém bổ xuống
nhưng lưỡi dao vướng vào tấm biển hàng. Hắc Cẩu thoát ra
ngoài, chạy biến mất sau gò. Còn viên chúa tàu giụi mắt
đứng ngơ ngác rồi vào nhà. Hắn gọi tôi:
- Dim! Đem “rum” đây!
Hắn vừa nói vừa lảo đảo, tay dựa vào tường. Tôi bàng hoàng
chạy đi lấy rượu. Bỗng nghe tiếng đánh thịch trong phòng.
Tôi vào thì đã thấy tên chúa tàu nằm dài sóng sượt, bất tỉnh
nhân sự. Lúc ấy mẹ tôi nghe tiếng chạy xuống. Chúng tôi
nâng cao đầu hắn lên. Mẹ tôi kêu:
Ố
ổ
ổ
ố
ố
ằ
- Ối giời! Khổ ơi là khổ! Lại còn bố mày ốm nằm liệt trên
kia!
Giữa lúc chúng tôi đang bối rối thì cánh cửa mở, bác sĩ Ly
bước vào. Trông thấy bác sĩ, chúng tôi mừng khôn xiết. Tôi
vội nói:
- Thưa bác sĩ, không hiểu lão bị thương ở đâu mà chết
cứng
thế này. Bác sĩ điềm nhiên bảo:
- Bị thương gì! Hắn lên chứng động kinh đấy. Giọng ông trở
nên ân cần ấm cúng.
- Còn bà, thôi hãy lên với ông nhà; đừng để ông nhà biết
chuyện này. Tôi sẽ cố chạy chữa cho hắn. Nào cậu Dim! Đi
lấy cái
thau đây.
Khi tôi đem thau lại thì bác sĩ đã xắn cánh tay áo hắn lên.
Trên cánh tay lực lưỡng có trổ nhiều dòng chữ:
“Thuận buồm xuôi gió”, “Tai qua nạn khỏi”, “Bin- bôn cóc
cần”. Bác sĩ bảo:
- Cậu cầm lấy chậu thau. Nào thử xem máu anh này ra sao.
Nói thế rồi bác sĩ cầm dao chích vào mạch máu hắn. Khi
máu chảy ra nhiều, hắn mới tỉnh dần và kêu lên:
- Hắc Cẩu đâu rồi?
- Chẳng có Hắc Cẩu đâu. Hắc Cẩu chỉ ở trong lương tâm của
anh thôi! Bác sĩ đáp.
- Anh uống quá nhiều “rum” nên mắc phải chứng kinh
phong đấy. Và bây giờ, ông Bin- bôn…
- Tên ấy không phải tên tôi Hắn vội nói. Bác sĩ bảo:
- Muốn tên gì cũng được. Tên ấy là tên một thằng cướp biển
ế
ề
ố
mà tôi từng biết! Tôi chỉ khuyên anh một điều: một cốc rượu
“rum” chưa can gì, nhưng nếu cứ chén trong kéo chén ngoài
thì có ngày anh đi đứt. Hiểu chưa? Thôi bây giờ anh cố
gượng, tôi đưa anh lên buồng ngủ.
Khó nhọc lắm, chúng tôi mới vực được hắn lên giường. Hắn
nằm thiêm thiếp. Bác sĩ kéo tôi ra:
- Không hề gì đâu, tôi đã lấy khá nhiều máu ở cánh tay hắn
để hắn phải nằm yên ít lâu. Như thế cũng yên cho hắn mà
cũng
yên cho gia đình cậu. Chỉ lên cơn một lần nữa là hắn đi đời.
CHƯƠNG 3
CÁI VẾT ĐEN
Một buổi trưa, tôi đến buồng viên chúa tàu, đem cho hắn ít
thức ăn và thuốc
- sắc mặt hắn trông xanh xao và ngớ ngẩn. Hắn bảo tôi:
- Cậu Dim, bây giờ tôi chỉ còn mình cậu. Người ta khinh khi
tôi, chẳng ai thèm ngó đến tôi nữa. Cậu cũng biết tôi đối xử
với cậu thế nào. Tháng nào tôi cũng cho cậu bốn xu đấy… à
này, cậu cho tôi xin một cốc rượu “rum” nào.
- Thầy thuốc đã dặn… Tôi chưa nói hết câu, hắn đã chửi
rầm
lên:
- Bọn thầy thuốc thì biết cóc khô gì! Lão lang ấy hiểu thế nào
được bọn thủy thủ chúng tôi. Tôi đã từng vào những chốn
nước sôi lửa bỏng, đất nóng như lửa than và động như sóng
cồn mà tôi sống được cũng chỉ nhờ uống “rum”. Không có
rượu “rum”, tôi còn thua cái giẻ rách. Mẹ kiếp, cái lão lang
đểu cáng! Giọng hắn lại trở thành van lơn:
- Cậu Dim, cậu thử nhìn ngón tay tôi run bắn thế này, chỉ vì
không có một giọt rượu. Nếu cậu không cho tôi hớp rượu, tôi
điên lên bây giờ. Tôi đã thấy lão Phơ-linh đứng ở xó kia. Tôi
đã nóng mắt lên rồi đây. Nào, cậu lấy cho tôi một cốc, nhanh
lên, tôi sẽ cho cậu một đồng tiền vàng nước Ghi-nê. Thấy
hắn đưa tiền ra dử, tôi tức lộn ruột. Nhưng nghĩ đến cha
đương bệnh nặng, cần yên tĩnh thuốc thang, sợ hắn làm ầm
lên, tôi bảo:
- Tôi chỉ cần ông trả tiền cơm cho đủ, ngoài ra tôi không
thèm ngửa tay lấy một xu nào của ông cả. Tôi chỉ rót cho
ông một cốc rượu thôi, không được vòi thêm đấy!
Cốc rượu tôi đưa, hắn ực một hơi cạn ráo. Hắn bảo:
- Hà, đã thấy hơi dễ chịu! Cậu có biết thầy thuốc bảo tôi
còn
ằ
phải nằm bao lâu không?
- Ít ra cũng một tuần lễ. Hắn kêu to:
- Chết mẹ! Một tuần lễ là không được rồi. Chẳng mấy chốc
mà bọn nó sẽ gửi cái vết đen đến rồi!
Hắn cố chống tay ngồi dậy rồi lại ngã giụi xuống giường.
Tôi
hỏi:
- Vết đen là cái gì?
- Đó là dấu hiệu báo trước. Bọn chúng mà gửi vết đen đến là
muốn đoạt lấy chiếc hòm của tôi đó. Bọn chúng toàn đồ chó
má, chỉ muốn ăn cướp của người. Nếu chúng gửi vết đen
đến, cậu cứ mượn ngựa… mượn ngựa đến cái lão thầy
thuốc… Cậu báo cho cái ông ấy biết là cứ rình ở đây, sẽ tóm
được hết cả lũ thủ hạ của lão Phơlinh. Khi xưa tôi là phó
thuyền của lão ấy. Khi chết, lão đã chỉ cho một mình tôi biết
cái chỗ ấy. Hắn còn nói huyên thiên, tiếng nói cứ yếu dần, rồi
hắn ngủ thiếp đi. Tôi đã định đi kể chuyện cho bác sĩ Ly
nghe nhưng thốt nhiên cha tôi mất, mọi việc đành xếp lại.
Lòng thương cha, việc tang bận rộn làm tôi gần như quên
bẵng tên chúa tàu và cũng không sợ hắn như trước nữa. Có
điều lạ là sáng hôm sau, hắn đã xuống nhà ăn cơm và uống
nhiều rượu “rum” hơn mọi bận. Sức hắn mỗi ngày mỗi lụn
dần, nhưng tính hung hãn vẫn như xưa. Ngay sau hôm đưa
đám cha tôi, tôi ra đứng trước cửa. Trời chiều, khí lạnh mịt
mù, tình thương cha bùi ngùi trong dạ. Tôi chợt thấy trên
đường cái một người đi lại. Tôi đoán chắc là người mù, vì
hắn cầm gậy khua phía trước. Hắn đeo một miếng the xanh
che kín mắt mũi, tuổi hắn già, hắn mặc cái áo đi biển cũ rích.
Hắn dừng trước cửa quán, lên tiếng hỏi:
- Ông bà nào làm phúc bảo cho kẻ mù lòa này biết nơi này
là
đâu?
Lòng thương nhớ cha tôi còn bổi hổi nên trông thấy kẻ tàn
tật, tôi bỗng chạnh lòng. Tôi vội bảo:
- Này ông già, đây là quán “Đô đốc Bin-bâu”.
- Tôi nghe tiếng ai như tiếng một cậu bé… Cậu ơi! Cậu dắt hộ
lão với…
Không ngần ngại, tôi đưa tay cho hắn cầm. Tên mù có giọng
nói ngọt xớt ấy liền bóp chặt tay tôi như kìm sắt. Tôi hoảng
sợ cố gỡ ra nhưng hắn kéo tôi lại gần bảo nhỏ:
- Đưa tao đến gặp viên chúa tàu!
- Thưa ông, tôi quả không dám. Hắn cười khanh khách, vẻ
chế giễu:
- Đưa tao vào ngay, không tao bẻ gãy tay bây giờ. Tôi định
phân trần, hắn đã cướp lời:
- Không nói nữa, đi vào ngay! Tôi không thấy tiếng ai độc ác,
lạnh lùng và gớm ghiếc như
tiếng tên mù ấy. Tôi đau thì ít mà sợ thì nhiều nên phải nghe
lời hắn. Tay tên mù nắm chặt lấy tôi như bàn tay sắt. Tôi đưa
hắn vào chỗ tên giặc già đương say rượu lừ đừ. Tên chúa tàu
thoạt thấy tên mù, hơi rượu “rum” bỗng bay mất. Hắn tỉnh
hẳn, trố mắt lên nhìn. Hắn cố đứng dậy nhưng không còn
sức. Tên mù nói:
- Này anh Bin, hãy ngồi yên đấy. Việc đâu có đó. Cậu bé
này,
cầm lấy cổ tay trái ông Bin đưa lại gần tay phải tôi…
Tôi và cả viên chúa tàu đều tuân theo. Hắn trao cho viên
chúa tàu một vật gì giấu trong tay hắn. Xong hắn buông tay
ra; thoắt một cái, hắn đã ra ngoài và đến đường cái. Tôi nghe
tiếng gậy lộc cộc xa dần. Một lúc sau, tên chúa tàu mới hoàn
hồn và nhìn xuống tay. Hắn kêu to:
- Kỳ hạn chúng cho đến mười giờ! Chúng ta còn sáu tiếng
nữa… để lo liệu. Nói xong, hắn đứng dậy. Ngay lúc ấy người
hắn chới với, hắn đưa tay lên kêu rú một tiếng rồi ngã vật
xuống. Tôi chạy lại và gọi mẹ tôi. Nhưng không kịp! Hắn đã
chết rồi.
CHƯƠNG 4
CÁI HÒM CỦA VIÊN CHÚA TÀU
Bấy giờ tôi mới nói những điều tôi biết cho mẹ tôi nghe. Hai
mẹ con tôi đương lâm vào cảnh ngộ rất khó khăn. Phần nợ
của viên chúa tàu đã làm chúng tôi sạt nghiệp, phần giặc
cướp rình mò quanh nhà. Trong lúc nguy khốn này, tôi chỉ
biết nghĩ đến bác sĩ Ly. Tôi muốn đến báo với ông nhưng lại
sợ để mẹ ở nhà một mình, ngộ xảy ra việc gì, lòng tôi không
nỡ. Cuối cùng mẹ con tôi quyết định chạy lên xóm bên cầu
cứu. Chúng tôi ra đi trong lúc nhá nhem tối, sương mù lạnh
buốt; cái xóm chỉ cách nhà tôi dăm trăm mét, vậy mà mịt
mù không thấy đâu cả! Đi được một đoạn, hai mẹ con dừng
lại lắng nghe… Nhưng ngoài tiếng nước vỗ, tiếng quạ kêu
trong rừng, chẳng nghe thấy tiếng gì khác. Đến xóm thì vừa
lúc lên đèn. Tôi không quên được phút vui mừng khi trông
thấy ánh đèn. Chúng tôi cầm chắc đến đây là có người cứu
giúp. Nhưng khi nghe đến tên tướng cướp Phơ-linh và đồng
đảng của hắn là mọi người rụt cổ. Rút cục chỉ có người chịu
đi báo với ông Ly, nhưng không ai chịu đến giữ quán cơm
với chúng tôi cả. Người ta nói, bệnh sợ là bệnh hay lây.
Nhưng sợ quá cũng hóa liều, thành đánh bạo. Mẹ tôi bảo
không muốn để đứa con vừa mồ côi cha phải mất một số
tiền nợ. Mẹ tôi mượn một cái túi đựng tiền, rồi hai mẹ con
dắt díu nhau trở về. Mặt trăng mới mọc chiếu hồng lớp
sương mù. Chúng tôi đi nhanh chân để khi trở lại, trăng
chưa sáng. Đến nhà, đóng cửa xong mới thấy yên tâm. Mẹ tôi
lấy nến đốt lên rồi hai mẹ con dắt nhau vào phòng. Xác tên
chúa tàu vẫn nằm ngửa như cũ. Mẹ tôi bảo nhỏ:
- Kéo cửa gỗ xuống con! Kẻo ở ngoài trông thấy.
Xong, mẹ tôi bảo phải lấy cái chìa khóa trong mình hắn. Tôi
đánh bạo quỳ xuống… Cạnh tay hắn có một mảnh giấy tròn
nhỏ, một mặt bôi đen. Tôi đoán ngay là cái vết đen. Mặt bên
kia viết mấy chữ:
“Kỳ hạn cho anh đến 10 giờ đêm nay là hết”.
Tôi nhìn lên cái đồng hồ cổ treo trên vách. Mới có 6 giờ.
Mẹ
tôi giục:
- Dim! Tìm chìa khóa đi con! Tôi lần túi hắn, hết túi này sang
túi nọ, nhưng tôi thất vọng. Mẹ tôi bảo:
- Có khi hắn treo ở cổ. Tôi mò lên thì thấy cái chìa khóa buộc
vào một đoạn dây,
treo ngay ở cổ. Chúng tôi vội vã lên gác, vào thẳng gian
phòng hắn ngủ, nơi hắn để chiếc hòm đồ khi mới đến. Chiếc
hòm này cũng giống như trăm ngàn chiếc hòm khác của bọn
thủy thủ. Trên mặt hòm có khắc một chữ “B” bằng sắt nung.
Vừa mở nắp lên, thấy sặc mùi thuốc lá và hơi nhựa. Ở ngăn
trên thấy có một bộ quần áo còn mới nguyên. Ở dưới, các
thứ để lộn xộn: một cái thước đo đường biển, vài cuộn thuốc
lá, hai khẩu súng lục thật đẹp, một thoi bạc, một đồng hồ
quả quít cổ, một ít đồ lặt vặt, phần nhiều là đồ nước ngoài,
một cái com-pa, một đôi địa bàn vỏ đồng và năm sáu cái vỏ
ốc. Nói chung chẳng có vật gì quý giá. Ở dưới nữa, thấy có
một cái áo tơi đi biển đã bạc màu. Mẹ tôi sốt ruột, lôi cái áo
ấy lên. Trong hòm chỉ còn một gói bọc vải sơn dầu hình như
ở trong có gói giấy má gì và một cái túi vải; chạm đến túi
nghe tiếng loảng xoảng. Mẹ tôi nói:
- Tao sẽ cho bọn bất lương thấy rằng tao là người lương
thiện. Tao chỉ lấy đủ số tiền nợ, không thèm lấy thêm một xu
nhỏ… Này, cầm lấy cái túi… Mẹ tôi vốc tiền trong túi của hắn,
vừa đếm vừa bỏ vào cái túi tôi cầm. Trong túi hắn có đủ cả
tiền các nước: Tiền vàng Tây Ban Nha, tiền vàng Pháp, tiền
Ghi-nê Anh, và còn nhiều thứ tiền khác nữa. Tiền Ghi-nê có
ít, nhưng chỉ có thứ tiền ấy mới tính nợ được, vì thế đếm tiền
vừa lâu vừa khó. Đang đếm tôi bỗng nghe tiếng gậy của
thằng mù khua trên đường cái lạnh. Hắn đang đi lại gần. Hắn
gõ cửa quán mấy cái. Chúng tôi nghe tiếng vặn quả đấm,
tiếng then cửa lạch cạch rồi phút chốc trong ngoài yên
lặng… Lại nghe tiếng gậy lộc cộc trên đường xa dần rồi mất
hẳn. Tôi nói:
- Mẹ ơi! Ta đem cả đi thôi.
Tuy sợ, nhưng mẹ tôi vẫn khí khái, nhất định không chịu lấy
hơn số tiền nợ, mà cũng không chịu thiếu. Mẹ con đương
giằng co nhau thì thốt nghe có tiếng còi rúc ở phía đồi. Tôi
vội vàng đứng dậy, vừa nhặt cái gói vải sơn dầu vừa nói:
- Con lấy cái này cho đủ số tiền nợ.
Chúng tôi lần xuống, bỏ lại cây nến rồi mở cửa chạy ra ngoài.
Sương mù tan nhanh, mặt trăng lồ lộ chiếu sáng trên dãy gò.
Chúng tôi bước nhanh. Chưa được nửa đường, chúng tôi đã
nghe thấy tiếng chân nhiều người đi lại; phía trước có một
ắ
ế
ngọn đèn lắc lư. Chúng tôi biết ngay trong bọn nó có người
xách đèn. Thốt nhiên mẹ tôi quỵ xuống nói như giối giăng:
- Con ơi! Cầm lấy tiền mà chạy đi thôi… Mẹ đuối sức rồi,
không bước được nữa.
May sao đã đến gần cầu. Trong gian nguy, sức tôi khỏe lên
gấp bội. Tôi xốc nách, dìu mẹ tôi men theo bờ lạch, đến mãi
dưới gầm cầu. Mẹ tôi thở hắt một tiếng rồi nằm vật ra. Chúng
tôi chỉ cách hàng cơm một quãng ngắn.
CHƯƠNG 5
HẾT KIẾP THẰNG MÙ
Tuy tôi sợ nhưng tính tò mò của tôi lại mạnh hơn. Tôi bò lại
nấp sau bụi, nhìn lên con đường trước cửa nhà. Tôi vừa ngồi
xuống thì bảy tám tên giặc ồ ạt chạy đến, tên cầm đèn đi
đầu. Tuy trời sương mù, tôi cũng nhận ra tên mù đi giữa.
Một lát, nghe tiếng hắn quát to:
- Phá cửa đi!
Cả bọn kéo ùa vào nhà, lão mù đứng ngoài, luôn mồm đốc
thúc và chửi rủa. Thốt nhiên một tiếng kinh ngạc vọng ra:
- Lão Bin chết rồi! Nhưng tên mù quát:
- Đồ ngốc, cứ lục túi nó xem! Rồi những tiếng kêu kinh ngạc
ầm nhà. Từ gác trên một đứa thò đầu ra bảo:
- Piu ơi! Có kẻ đến trước lục tung cả rồi! Lão mù gầm lên:
- Có thấy cái ấy không?
- Có thấy tiền. Lão Piu rống lên:
- Tiền thì làm cái đếch gì! Tao hỏi giấy tờ của lão Phơ-linh
kia!
- Chẳng có giấy tờ nào cả. Lão mù lại kêu to lên:
- Thôi, chính mấy đứa ở quán cơm lấy rồi! Chính thằng nhãi
con! Biết thế ông móc mắt nó cho sớm. Thôi chúng bay tản
đi các
ngả, tìm chúng ngay. Một tên đứng gần cửa sổ bảo:
- Phải rồi! Đèn nó còn để đây. Ngay lúc ấy, tiếng còi lúc nãy
lại rúc lên hai lần. Tôi hiểu
ngay là tiếng còi hiệu báo nguy của đồng đảng chúng. Tôi
nghe lão
Piu hét lớn:
- Còi mặc còi! Chúng bay chỉ là đồ ăn hại, đồ chó má! Cứ
sục
ẫ
ầ
tìm chúng nó đi. Nhưng bọn chúng vẫn ngần ngại. Lão mù
lại chửi rầm lên:
- Lũ bay là đồ khốn kiếp! Của để trước miệng mà còn chần
chừ! Chuyến này mà hỏng việc là tại chúng mày cả. Một đứa
trong bọn lên tiếng:
- Piu ơi! Đừng rống lên nữa! Cứ cầm lấy một ít tiền vàng đây
mà xài!
Nghe thế, lão mù bỗng hằm hằm tức giận, vung gậy đập
chan chát vào bọn kia. Bọn chúng cũng chửi rủa lại. Nhờ
trận ẩu đả ấy, chúng tôi thoát nạn. Giữa khi ấy có tiếng ngựa
phi dồn dập ở đỉnh gò, rồi tiếp theo một tiếng súng nổ cạnh
đấy. Có lẽ đó là tiếng báo hiệu nguy nhất, vì tôi thấy bọn giặc
vụt chạy tán loạn, bỏ trơ lão mù lại một mình. Lão ta vung
gậy quờ quạng, vừa chạy vừa kêu gọi bọn kia. Nhưng tiếng
vó ngựa đã nện trên đỉnh gò và phi xuống dưới ánh trăng.
Lão mù bỗng như điên dại, chạy đâm thẳng ngay vào chân
con ngựa đầu đàn đang phi tới. Lão chỉ kịp kêu lên một
tiếng. Bốn vó ngựa xéo lên mình lão, hất lão nằm úp sấp mặt
xuống đất. Tôi nhảy ra và nhận ra ngay những nhân viên
thuế quan đương kéo đến. Nhưng tất cả bọn giặc đã cao chạy
xa bay. Thằng Piu thì đã chết thẳng cẳng. Mẹ tôi cũng đã tỉnh
lại. Viên thanh tra hỏi tôi bọn chúng định cướp gì trong nhà.
Tôi thuật lại câu chuyện và nói:
- Tôi chắc không phải chúng kiếm tiền mà chính là chúng
muốn tìm cái vật tôi đang giữ đây. Bây giờ tôi muốn trao cái
này lại cho bác sĩ Ly…
Viên thanh tra gật đầu tán thành ngay và chúng tôi cùng
lên
ngựa, đi nước kiệu về thẳng nhà bác sĩ Ly.
CHƯƠNG 6
GIẤY TỜ CỦA VIÊN CHÚA TÀU
Lúc chúng tôi đến nơi thì người đầy tớ gái cho biết bác sĩ đã
xuống chơi với nhà quý tộc Chi-lô-nây và ngủ đêm ở đấy.
Bác sĩ và ông Chi là hai người bạn thân tình. Theo lời bác sĩ
thì ông Chi là một người hào hiệp, giàu lòng bác ái, hay cứu
khốn phò nguy. Ông ta chỉ thích đi săn và làm việc nghĩa. Đã
có lần ông cho gọi tôi đến, hỏi han về sự học hành và xoa
đầu tôi, bảo:
- Cháu là đứa trẻ thông minh. Cháu nên gắng học để sau
này
thành người có ích cho nước nhà.
Tôi còn nhớ lần ấy ông bảo mang lên cho tôi một đĩa thịt
chim và bắt tôi ăn cho kỳ hết mới nghe. Tuy đối với ông, tôi
không thân bằng bác sĩ Ly, nhưng lòng tôi vẫn kính phục
ông hết sức. Khi chúng tôi đến thì thấy hai ông đang ngồi
hút thuốc lá cạnh lò sưởi. Lần này tôi mới nhìn được ông Chi
rõ hơn. Ông người cao lớn, nét mặt hiền từ nhưng cương
nghị, lông mày đen sẫm, khi giương lên, khi cau lại, tỏ ra
người nhanh trí và hơi kiêu kỳ. Ông ngồi nghe viên thanh
tra thương chính thuật chuyện một cách thích thú. Thỉnh
thoảng ông lại nhìn tôi, nửa như khen ngợi, nửa như khuyến
khích. Khi viên thanh tra ra về, bác sĩ Ly đứng dậy hỏi tôi:
- Cậu Dim, cái vật chúng muốn tìm là cái gì?
- Thưa ông, đây… Tôi vừa nói vừa đưa cái gói bọc vải sơn
dầu cho bác sĩ. Bác sĩ ngắm nghía, hình như muốn mở
nhưng lại thôi. Ông Chi hỏi tôi:
- Chắc cậu đói lắm, phải không? Không đợi tôi trả lời, ông đã
gọi mang thức ăn ra. Lần này
cũng lại một đĩa thịt chim ướp. Tôi đang đói bụng, ăn rất
ngon lành. Bác sĩ Ly đương ngồi trầm ngâm, tay mân mê cái
gói vải sơn dầu, bỗng ông hỏi ông Chi:
- Này, chắc ngài đã nghe nói đến tên Phơ-linh? Ông Chi đáp
thực to:
- Lão Phơ-linh là tay trùm cướp khét tiếng, ai mà không
biết! Bác sĩ Ly lại hỏi:
- Thế lão ấy có nhiều tiền của không? Ông Chi lại nói to:
- Làm giặc, chả giết người kiếm tiền thì còn kiếm gì? Số tiền
ế
ố
ấ
lão kiếm được suốt một đời làm giặc cũng đủ cất một kho
của lớn.
Dừng một lát, bác sĩ Ly lại hỏi:
- Giá thử trong cái gói này đây có đủ giấy má để tìm nơi lão
Phơ-linh giấu của, thì ngài định liệu thế nào?
- Thì chúng ta sẽ sửa soạn một chiếc tàu, đi lấy về thôi. Bác
sĩ nói:
- Thôi được! Xin mời cậu Dim lại đây! Khi tôi đến gần, bác sĩ
đặt cái gói lên bàn rồi trịnh trọng nói:
- Cậu là người có công lấy được vật này. Nếu cậu ưng thuận,
chúng ta sẽ cùng mở ra xem.
Không nói thì các bạn cũng biết, tôi đã vui vẻ gật đầu. Trong
gói có hai thứ: một quyển sổ của tên Piu ghi tiền cướp được,
và một phong bì niêm kín, có dấu đóng. Thấy quyển sổ
không có gì quan trọng, bác sĩ Ly liền mở đến phong bì.
Trong đó có bản đồ một cái đảo, có chia cả kinh tuyến, vĩ
tuyến, các chỗ sâu, chỗ nông, tên núi, tên bến, tên lạch và
nơi đỗ tàu chắc chắn. Cái đảo chiều dài chín dặm, ngang
năm dặm, trông hình dáng như con rồng uốn. Đảo có hai
bến rất kín, ở giữa có cái gò tên là Vọng Viễn, có ghi nhiều
dấu, có dấu mới ghi thêm. Tính ra thì có ba dấu chữ thập đỏ,
hai ở phía bắc đảo và một về phía tây nam. Gần dấu này có
mấy chữ viết mực đỏ rất rõ:
“Phần chính kho của là ở nơi này”. Đằng sau, có chú thêm,
chữ cùng do một người viết:
“Cây to. Đồi con, gò Vọng Viễn, mũi đất về phía B.B.Đ. “Đảo
Hình Người Đ.Đ.N. “Mười mét…” Rồi một số dòng chữ chú
thích nữa, dưới ký: “P.”
Tuy vắn tắt và khó hiểu như vậy, nhưng trông mặt hai ông
rạng rỡ vui mừng. Bác sĩ kêu lên:
- Một kho của lớn sắp về tay chúng ta. Từ lúc xem xong bản
đồ, nét mặt ông Chi vốn trầm lặng bỗng
giờ đây mắt sáng long lanh, ông đứng lên nói một cách say
sưa:
ắ
- Tôi thì tôi nghĩ một kho của phi nghĩa sắp trở thành một
kho của có ý nghĩa. Một kho vàng nằm im vô dụng, giờ đây
sắp được đem lên để làm sáng bao nhiêu khuôn mặt khổ
nghèo.
Bác sĩ Ly gật gật đầu ra vẻ đồng tình, rồi vừa cười vừa nói:
- Thôi tha hồ ngài được toại nguyện bình sinh. Ngài có thể
cứu tế cho trẻ mồ côi ba quận, chứ đừng nói một quận nhỏ
bé này. Ông Chi tiếp lời ngay:
- Còn ông, ông cũng tha hồ mở nhiều nhà thương làm
phúc… Chợt bác sĩ quay lại phía tôi:
- Còn cậu Dim! Cậu là người có công đầu trong việc này, ý
cậu thế nào? Cậu có đi với chúng tôi không? Tôi lúng túng
một lúc lâu rồi ấp úng trả lời:
- Tôi xin đi theo… Bác sĩ Ly lại quay sang nói với ông Chi:
- Việc này rất hệ trọng, có thể nguy hiểm đến tính mạng như
chơi, vì giấy tờ này không phải chỉ riêng chúng ta biết… Ông
Chi khảng khái đáp:
- Dù có phải nguy hiểm đến tính mạng tôi cũng không ân
hận gì vì chúng ta đang làm một việc nghĩa… Bác sĩ ngắt lời:
- Vì thế, tôi chỉ lo một người có thể làm lộ công việc. Ông Chi
nói to:
- Kẻ ấy là ai, ông thử nói tên nó ra? Bác sĩ đáp:
- Chính ngài chứ ai nữa! Vì ngài hay bộp chộp. Ông Chi im
lặng rồi nói khẽ:
- Ngài nói chí lý. Tôi xin giữ kín việc này.
CHƯƠNG 7
TÊN BẾP TÀU
Cuộc chuẩn bị vẫn kéo dài. Bác sĩ Ly và ông Chi đều đi lo
công việc. Chỉ còn tôi ở lại nhà với lão Ri- đrus. Suốt ngày,
tôi ngồi tưởng tượng đến tương lai với lòng chứa chan
những ước mơ đẹp đẽ. Khi thì tôi nghĩ đến những nhà
thương đồ sộ mà bất kể nghèo giàu, hễ ai vào đấy là đều
được săn sóc chu đáo, không phải trả một đồng xu nhỏ. Cái
cảnh vì thiếu tiền thuốc mà phải chết dần chết mòn như cha
tôi sẽ không còn nữa. Khi thì tôi tưởng tượng đến sự mừng
rỡ của những đứa trẻ mồ côi nghèo đói được nuôi dưỡng ăn
học như con nhà giàu. Có những cảnh làm tôi xúc động đến
rớm nước mắt. Có lúc tôi lại say sưa mơ tưởng về biển: nào
phong cảnh tuyệt vời của đảo, nào những thứ hoa thơm cỏ
lạ, nào những chuyện phiêu lưu thần kỳ. Tôi ngồi hình dung
lại bản đồ, nhớ các chỗ từng ly từng tí. Rồi một hôm, có
phong thư của ông Chi gửi về báo tin công việc đã sắp đặt
xong...
 





