BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Rèn luyện thói quen đọc sách - một việc nên làm

    Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, rồi tiến đến hiện tại, Sách và Văn hóa Đọc luôn được đề cao và tôn vinh, đây là nét đẹp mang giá trị văn hóa sâu sắc khó có thể phai nhòa theo năm tháng. Đọc sách giống như việc cái cây được tưới nước thường xuyên, con người chúng ta phát triển từng ngày nhờ quá trình đọc sách và tích lũy tri thức. Hẳn rằng để bàn về vai trò và giá trị mà sách mang đến, đã có biết bao cây bút dành sự ưu ái nhất định của mình cho đề tài này và rồi trở thành một tư tưởng nhân văn của thời đại. Ai cũng biết lợi ích của việc đọc, ai cũng biết giá trị từ sách, tôi tin rằng, ở thời điểm hiện tại đã có không ít bạn trẻ lấy việc đọc sách là mục tiêu để phấn đấu, rằng mỗi ngày dành 10 phút hay 30 phút đọc sách, một ngày phải đọc bao nhiêu trang, một tháng đọc bao nhiêu và một năm nhìn lại ta đã kinh qua bao cuốn sách. Nghe thì có vẻ là một kế hoạch hoàn hảo, nhưng thực tế, ta tự hỏi chính mình, rằng bản thân đã thực sự cố gắng và kỷ luật với việc đọc sách hay chưa?

    Ảnh ngẫu nhiên

    TG10.jpg Chau_Au.jpg Picture2.jpg CangBien.jpg Picture3.png

    Bác Hồ và Thiếu Niên Nhi Đồng

    Bài 1: Bầu trời tuổi thơ - Đọc: Đi lấy mật (trích Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi).

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Ng Văn Tuyên
    Ngày gửi: 08h:29' 01-10-2023
    Dung lượng: 85.6 KB
    Số lượt tải: 83
    Số lượt thích: 0 người
    Soạn bài: Đi lấy mật
    * Trước khi đọc
    Câu hỏi (trang 18 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh,
    phim, thơ văn, ...): Lạng Sơn, Nghệ An…. 
    - Nơi ấn tượng nhất với em là Nghệ An bởi con người rất gần gũi, giọng nói hay và là nơi có nhiều cảnh đẹp
    “Đường vô xứ nghệ quanh quanh. Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”.
    * Đọc văn bản
    Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc: 
    1. Hình dung: Khung cảnh thiên nhiên qua cái nhìn của nhân vật An. 
    - Khung cảnh thiên nhiên qua cái nhìn của nhân vật An: đất rừng yên tĩnh, trời không có gió, không khí mát
    lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch, đất ẩm… ánh sáng trong vắt.
    2. Theo dõi: Chú ý những chi tiết miêu tả ngoại hình và cử chỉ của các nhân vật. 
    - Những chi tiết miêu tả ngoại hình và cử chỉ của các nhân vật:
    + Ngoại hình: tía (bên hông lủng lẳng túi, lưng mang gùi, tay cầm chà gạc), thằng Cò (đội cái thúng to).

    + Cử chỉ: tía (vung tay lên, đưa con dao phạt ngang), tôi (chen vào giữa, quảy tòn ten cái gùi), con Luốc (chạy
    tung tăng, sục sạo)
    3. Theo dõi: Chú ý những suy nghĩ của nhân vật An về tía nuôi, về Cò.  
    - Những suy nghĩ của nhân vật An:
    + Về tía nuôi: rất quan tâm tới An (nghe tiếng thở của An cũng biết là An mệt và cho ngồi nghỉ)
    + Về Cò: một người khỏe mạnh dẻo dai (cặp chân như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng)
    4. Theo dõi: Cò giảng giải cho An những gì?  
    - Cò giảng giải cho An về sự xuất hiện của ong mật, nơi mà ong mật sẽ làm tổ. 
    5. Hình dung: vẻ đẹp phong phú, sống động của rừng.  
    - Vẻ đẹp phong phú, sống động của rừng: được thể hiện ở sự đa dạng của các loài chim, âm thanh sống động
    của chim, ong, cảnh vật cây cối cũng đa dạng: đàn ong mật như một xâu chuỗi hạt cườm, một đàn li ti như nắm
    trấu bay, tiếng kêu eo…eo…râm ran khu rừng mà phải thính tai mới thấy; mặt trời tuôn ánh sáng vàng rực rỡ, chim
    hót líu lo, hương tràm thơm ngây ngất khắp khu rừng, những con kì nhông với đủ sắc màu; vùng cỏ tranh khô vàng
    có hàng nghìn con chim cất cánh bay.
    6. Tóm tắt: Nội dung câu chuyện của má nuôi An.  
    - Nội dung câu chuyện của má nuôi An: 

    + kể về chỗ tìm cách gác kèo với những kinh nghiệm như hướng gió, đường bay của ong, chỗ ấm, ít gió, ít
    người qua lại
    + kể về cách làm tổ ong: chọn nhánh tràm non, to bằng cổ tay, chọn cây vừa kín vừa im và có nhiều bóng nắng
    thì mật không bị chua; gác kèo làm tổ phải tỉa bớt xung quanh để khi lấy mật cho dễ.
    + kể về thời gian đóng tổ: giữa tháng mười một, như vậy cuối năm gặp mưa cành làm tổ sẽ bị mưa rửa trôi sẽ
    giống với các cành còn lại thì ong sẽ về làm tổ.
    7. Theo dõi: Ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật. 
    - Ngôn ngữ đối thoại của An và má: An nghe má kể thì cũng nghĩ là làm gác kèo cho ong là dễ, nhưng thực tế
    nhiều người có kinh nghiệm gác kèo mười năm vẫn về tay không vì định không đúng chỗ, đoán sai hướng gió.
    8. So sánh: Sự khác biệt trong cách “thuần hóa” ong rừng của người dân vùng U Minh. 
    -  Sự khác biệt trong cách “thuần hóa” ong rừng của người dân vùng U Minh:
    Cách thuần hóa ong của Cách thuần hóa ong ở các nơi khác
    người dân U Minh
    - Gác kèo sẵn cho ong về
    làm tổ

    - Người La Mã làm tổ bằng đồng hình chiếc vại, đục
    thủng nhiều lỗ con quanh miệng và quanh đáy.
    - Người Mễ Tây Cơ: làm tổ ong bằng đất nung.
    - Người Ai Cập nuôi ong trong tổ bằng sành hình ống

    dài xếp trồng lên nhau trên bãi cỏ.
    - Ở Châu Phi: đục rỗng thân cây, bịt kín hai đầu. 
    - Ở Tây Âu: tổ ong lợp bằng rơm
    * Sau khi đọc
    Nội dung chính: 
    Văn bản Đi lấy mật kể về câu chuyện 3 cha con Cò An đi vào rừng lấy mật, qua đó tác giả bật mí cho
    chúng ta về cách làm tổ cho loài ong mật. 

    Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc: 
    Câu 1 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Trong đoạn trích có 4 nhân vật: tía nuôi, má nuôi, An và Cò.
    - Mối quan hệ của các nhân vật: Cò là con đẻ của tía má, An là con nuôi của tía má. 
    Câu 2 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Cảm nhận về nhân vật tía nuôi của An: Tía nuôi của An là một người rất cẩn thận và chu đáo, tâm lí với con
    cái.
    - Cảm nhận đó được thể hiện qua chi tiết: thôi dừng lại nghỉ một lát. Bao giờ thằng An đỡ mệt, ăn cơm xong hang
    đi! Nghe tiếng thở sau lưng cũng biết An mệt.
    Câu 3 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của nhân vật An. 
    - Khả năng quan sát và cảm nhận thiên nhiên của nhân vật An tinh tế, chi tiết, cụ thể.
    Câu 4 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở vùng núi rừng U Minh. 
    - Khẳng định như vậy là bởi: 
    + Cò có những hiểu biết về rừng, nhận biết bầy ong mật.

    + Qua lời chia sẻ của An: Cặp chân như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng.
    Câu 5 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Nhân vật An đã được nhà văn miêu tả qua những chi tiết:
    + lời nói: ôn hòa với thằng Cò, lễ độ với ba má.
    + hành động: chen vào giữa, quảy cái gùi bé; đảo mắt nhìn
    + suy nghĩ, cảm xúc: qua lời má kể vẫn chưa hình dung về cách “ăn ong”, khi được đi thực tế thì đã so sánh
    được sự khác biệt ở vùng U Minh với các vùng khác trên thế giới; cảm thấy lạ lẫm vì không gian im lìm ở trong
    rừng; ngạc nhiên về vẻ đẹp rừng U Minh với đa dạng loài chim và âm thanh; tự ái khi hỏi thằng Cò nhiều thứ.
    + mối quan hệ với các nhân vật khác: với Cò xưng tao- mày thể hiện quan hệ bình đẳng; với ba má nuôi thì
    xưng hô lễ phép.
    => Tính cách của nhân vật An: là cậu bé hồn nhiên, ngoan ngoãn nhưng hết sức hiểu chuyện và cũng ham học
    hỏi và hiểu biết rộng.
    Câu 6 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):
    - Đọc đoạn trích, em có ấn tượng về con người và rừng phương Nam: Vẻ đẹp trù phú của thiên nhiên với rừng
    rậm bạt ngàn, trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài. Con người chất phác, thuần hậu, trọng nghĩa, can đảm. 
    * Viết kết nối với đọc 
    Bài tập (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):

    Viết đoạn văn (khoảng 5 -7 câu) trình bày cảm nhận của em về một chi tiết thú vị trong đoạn trích Đi
    lấy mật.
    Đoạn văn tham khảo:
    Đoạn trích  Đi lấy mật kể về câu chuyện 3 cha con Cò An đi vào rừng lấy mật, qua đó tác giả bật mí cho
    chúng ta về cách làm tổ cho loài ong mật. Trong đoạn trích em ấn tượng nhất với “sân chim” trong khu rừng U
    Minh. Giữa rừng U Minh rậm rạp, những tia nắng len lỏi vào các tán lá để soi xuống mặt đất còn hơi sương;
    ánh nắng xen lẫn hương tràm ngây ngất phang phảng khắp rừng khiến con người cảm thấy dễ chịu. Trong
    không gian đó, một đàn chim hàng ngàn con cất cánh như vỡ trận, không gian im ắng bỗng ồn ào và náo nhiệt
    như nhà có hội với đủ sắc màu: chim già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ, chim nhỏ bay vù vù… Tất cả làm
    nên một không gian U Minh tuyệt vời khiến ai đọc cũng khao khát một lần được ghé thăm.
    Bài giảng: Đi lấy mật - Cô Trương San (Giáo viên VietJack)
     
    Gửi ý kiến

    Sách không chỉ là kho tàng kiến thức mà còn là phép màu kỳ diệu với tâm hồn mỗi người

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG PTDTNT THCS AYUN PA - GIA LAI !